Bản án số 932/2026/HS-PT ngày 28/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 932/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 932/2026/HS-PT ngày 28/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tội danh: 260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 932/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bị cáo Phan Phương H bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 932/2026/HS-PT Bản án số 932/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 932/2026/HS-PT Bản án số 932/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên.
Các Thẩm phán:
1. Bà Phạm Uyên Thy
2. Ông Nguyễn Văn Hà
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Bà Lê Thị Mỹ Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 828/2026/TLPT-HS
ngày 14/9/2026 đối với bị cáo Phan Phương H do có kháng cáo của người đại
diện hợp pháp của bị hại ông Hà Văn K là bà Ngô Thị Giáng T đối với Bản án
hình sự sơ thẩm số 233/2026/HS-ST, ngày 27/7/2026 của Tòa án nhân dân khu
vực A – TP.HCM.
- Bị cáo bị kháng cáo:
Họ và tên: Phan Phương H, sinh ngày 07/6/1969 tại Thành phố Hồ Chí
Minh; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: 5 Khu phố 7, xã N, Thành phố Hồ Chí
Minh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân
tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phan Văn T và bà Lê Thị N; bị cáo có vợ
và 02 người con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền
sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị
cáo tại ngoại (có mặt).
+ Người đại diện hợp pháp của bị hại Hà Văn K có kháng cáo:
Bà Ngô Thị Giáng T, sinh năm 1983 (có mặt).
Địa chỉ: A -1 Chung cư B, đường Đ1, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Ngô Thị Giáng T là vợ của bị hại Hà Văn K và là đại diện hợp pháp
cho: Trẻ Hà KH (sinh ngày 06/12/2014), trẻ Hà KD (sinh ngày 13/05/2017), trẻ
Hà K (sinh ngày 09/12/2019).
+ Người đại diện theo ủy quyền của bà Ngô Thị Giáng T:
Bản án số: 932/2026/HS-PT
Ngày: 28/9/2026.
2
1/ Ông Trịnh Đỗ H, sinh năm 1982 (có mặt).
Địa chỉ: khu phố 5, phường L, Thành phố Đ.
2/ Bà Ngô Thị Huỳnh T, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp R, xã T, tỉnh T.
+ Bị đơn dân sự: Công ty Cổ phần Vận tải và Dịch vụ P.
Địa chỉ: 1 Huỳnh Tấn P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phùng Quốc H, sinh năm 1980.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 06/01/2025, sau khi chở xăng dầu đi
giao cho khách tại tỉnh Đồng Nai, bị cáo Phan Phương H có giấy phép lái xe
theo quy định điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, loại xe Xitec màu trắng,
biển số 51C-912.XX di chuyển ở làn đường hỗn hợp bên trái trên đường Huỳnh
Tấn P về lại kho B, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã N, Thành phố
Hồ Chí Minh). Khi đến trước địa chỉ nhà số 7 đường Huỳnh Tấn P, phường T,
Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh),
bị cáo H thấy phía trước có 01 xe ô tô con loại bán tải đang chạy cùng chiều, bị
cáo H điều khiển xe vượt xe phía trước. Khi bị cáo H cho xe qua hết làn đường
hỗn hợp bên phải thì va đụng với xe máy điện Vinfast màu xanh, biển số 59TA-
11xxx do ông Hà Văn K điều khiển phía trước cùng chiều bên phải. Vị trí va
chạm đầu tiên là bên phải phía trước xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, loại xe Xitec
màu trắng, biển số 51C-912.XX và phía sau bên phải xe máy điện Vinfast màu
xanh, biển số 59TA-11xxx. Hậu quả nạn nhân Hà Văn K té lọt vào gầm xe ô tô
tử vong tại chổ. Lúc này ông Nguyễn Xuân Q là bảo vệ tại Nha khoa T (địa chỉ:
7 Huỳnh Tấn P, phường T, Quận B) chứng kiến sự việc và trình báo Công an.
Cơ quan cảnh sát điều tra xác minh làm rõ, khởi tố xử lý đối với bị cáo
Phan Phương H.
* Kết luận giám định tử thi số 1421-25/KL-KTHS ngày 04/02/2025 của
Phòng kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- Nguyên nhân chết: ông Hà Văn K chết do chấn thương sọ não và chấn
thương gãy cột sống cổ.
- Trong máu không tìm thấy cồn và ma tuý.
- Trong máu và chất chứa dạ dày không tìm thấy các chất độc thường gặp.
* Kết luận giám định số 587/KL-KTHS ngày 17/02/2025 của Phân viện
KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
3
1. Dấu vết va chạm và chiều hướng dấu vết va chạm trên xe ô tô loại
Xitec màu trắng, biển số 51C-912.XX và xe máy điện Vinfast màu xanh, biển số
59TA-118.xx:
- Dấu vết trượt xước, bám chất màu xanh, móp, vỡ các chi tiết bên phải
phía trước xe ô tô loại Xitec màu trắng, biển số 51C-912.XX (mặt ngoài cản
trước, đèn chiếu sáng phía trước, mặt dưới cản trước) có chiều từ trước về sau,
từ phải sang trái phù hợp với dấu vết trượt xước, bám chất màu trắng phía sau và
phía sau bên phải xe máy điện Vinfast màu xanh , biển số 59TA-118.xx (cung
sau tay nâng sau yên, ốp nhựa phía sau đuôi xe, ốp nhựa phía sau hông xe) có
chiều từ sau về trước, từ trái sang phải. Bên phải cản trước và cung sau tay nâng
sau yên xe là vị trí va chạm đầu tiên.
- Dấu vết trượt xước, bám chất màu xanh các chi tiết bên phải gầm xe ô tô
loại Xitec màu trắng, biển số 51C-912.XX (mặt dưới cạc te nhớt, mặt lăn và má
trong lốp bánh trước, tai nhíp và trục 1) có chiều từ trước về sau, dấu vết trên
bánh xe có chiều từ mặt lăn vào tâm bánh và ngược chiều quay tiến của bánh xe
phù hợp với dấu vết trượt xước, bám chất màu đen các chi tiết bên phải xe máy
điện Vinfast màu xanh, biển số 59TA-118.xx (ốp nhựa hông xe, mặt dưới chân
chống đứng, ốp nhựa gầm xe, ốp sàn để chân trước) có chiều từ sau về trước, từ
dưới lên trên, khi xe máy điện đã ngã trái xuống đường.
- Dấu vết trượt xước, vỡ các chi tiết bên trái xe máy điện Vinfast màu
xanh biển số 59TA-118.xx (mũi chắn bùn, ốc đầu trục bánh trước, cánh yếm, ốp
đèn chiếu sáng phía trước, tay lái, tay phanh, ốp sàn đế chân trước, chân chống
nghiêng, đế chân sau, ốp nhựa hông xe) có chiều từ trước về sau, từ trên xuống
dưới phù hợp va chạm với mặt đường.
2. Ngoài ra không phát hiện thấy dấu vết va chạm với phương tiện khác
trên xe ô tô loại Xitec màu trắng, biển số 51C-912.XX và xe máy điện Vinfast
màu xanh, biển số 59TA-118.xx.
3. Khi va chạm xe ô tô loại Xitec màu trắng, biển số 51C-912.XX đang
chuyển động trên đường Huỳnh Tấn P theo hướng đường Nguyễn Thị T đi
đường P; xe máy điện Vinfast màu xanh, biến số 59TA-118.xx đang chuyển
động ở bên phải phía trước cùng chiều với xe ô tô loại Xitec màu trắng, biên số
51C-912.XX.
4. Tốc độ của xe ô tô loại Xitec màu trắng, biển số 51C-912.XX khi xảy
ra tai nạn được xác định theo phương pháp tính toán là từ 29,5km/h đến
31,5km/h, Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe máy điện Vinfast màu xanh,
biển số 59TA-118.xx khi xảy ra tai nạn.
* Kết luận số 2884/KL-KTHS ngày 28/02/2025 của Phòng kỹ thuật Hình
sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: 02 (hai) "Giấy phép lái xe" cần
giám định ký hiệu A1, A2 là thật.
Vật chứng thu giữ:
4
+ 01 xe mô tô điện nhãn hiệu Vinfast, màu xanh, biển số 59TA-118.xx bị
hư hỏng; 01 căn cước công dân họ tên Hà Văn K; 01 giấy phép lái xe hạng A1,
B2 số 7901030xxxx mang tên Hà Văn K cấp ngày 01/11/2024; 01 ô tô tải bồn
biển số 51C-912.XX, đã qua sử dụng, không kiếm tra chi tiết bên trong, xe hiện
tại không chứa xăng dầu; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 1035xxx cấp ngày
14/8/2024; 01 giấy chứng nhận đăng ký ô tô số 50.012xxx cấp ngày 20/10/2023;
01 giấy phép lái xe hạng D số 790940004539 cấp ngày 01/01/2024 mang tên
Phan Phương H; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc số 2400272xxx cấp
ngày 01/01/2025.
Về dân sự: Sau vụ tai nạn giao thông bị cáo Phan Phương H cùng đại diện
Công ty Cổ phần Vận tải và Dịch vụ P là anh Phạm Thanh Tuấn đã hỗ trợ chi
phí mai táng cho gia đình bị hại Hà Văn K số tiền 120.00.000 đồng. Bà Ngô Thị
Huỳnh T người được ủy quyền đại diện gia đình bị hại Hà Văn K yêu cầu Công
ty Cổ phần Vận tải và Dịch vụ P và bị cáo Phan Phương H bồi thường số tiền
1.617.780.000 đồng, ông Phạm Công T người được Công ty Cổ phần di chuyển
xanh và thông minh G - Chi nhánh Thành phố hồ Chí Minh ủy quyền yêu cầu bị
cáo Phan Phương H bồi thường toàn bộ chi phí sữa chữa xe máy Vinfast màu
xanh, biển số 59TA-118.xx, là 8.208.900 đồng
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 233/2026/HS-ST ngày 27/7/2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
1. Áp dụng điểm a Khoản 1, khoản 5 Điều 260; b, s Khoản 1, Khoản 2
Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Phan Phương H 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ về
tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành
hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công
an Thành phố Hồ Chí Minh nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Phan Phương H cho Ủy ban nhân dân xã N, Thành phố Hồ
Chí Minh để giám sát, giáo dục. Gia đình của bị cáo Phan Phương H có trách
nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã N, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc
giám sát, giáo dục bị cáo. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện
những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Cấm bị cáo Phan Phương H hành nghề lái xe trong thời hạn 01 (một) năm
kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về trách nghiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 591, 593, 597, 600 và 601 Bộ luật Dân
sự năm 2015; Căn cứ các Điều 69, 71, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014; Căn cứ khoản 3 Điều 8 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày
06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại của đại diện hợp
pháp bị hại ông Hà Văn K.
5
Buộc Công ty Cổ phần Vận tải và Dịch vụ P bồi thường cho đại diện hợp
pháp của bị hại các khoản sau:
Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là 234.000.000 đồng, trong đó:
Bà Phạm Thị B được nhận 46.800.000 đồng;
Bà Ngô Thị Giáng T được nhận 187.200.000 đồng.
Tiền cấp dưỡng cho các con của bị hại, phương thức cấp dưỡng định kỳ
hằng tháng, kể từ ngày 06/01/2025 đến khi từng người con đủ 18 tuổi, cụ thể:
Cấp dưỡng cho cháu Hà KH, sinh ngày 06/12/2014, số tiền 2.480.000
đồng/tháng, kể từ ngày 06/01/2025 đến ngày 06/12/2032.
Cấp dưỡng cho cháu Hà KD, sinh ngày 13/5/2017, số tiền 2.480.000
đồng/tháng, kể từ ngày 06/01/2025 đến ngày 13/5/2035.
Cấp dưỡng cho cháu Hà K, sinh ngày 09/12/2019, số tiền 2.480.000
đồng/tháng, kể từ ngày 06/01/2025 đến ngày 09/12/2037.
2.2. Ghi nhận bị cáo Phan Phương H đã tự nguyện bồi thường cho gia
đình bị hại số tiền 120.000.000 đồng chi phí mai táng; đại diện hợp pháp của bị
hại xác nhận đã nhận đủ và không yêu cầu bồi thường thêm khoản chi phí mai
táng.
2.3. Ghi nhận bị cáo Phan Phương H đã tự nguyện nộp số tiền
200.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0008657 ngày 04/11/2025 tại Phòng
Thi hành án dân sự Khu vực 6 để bảo đảm thi hành nghĩa vụ bồi thường; tiếp tục
tạm giữ số tiền này để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật.
2.4. Không chấp nhận yêu cầu của đại diện hợp pháp bị hại về việc yêu
cầu bồi thường khoản tiền 265.000.000 đồng do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
2.5. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu
bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với các khoản tiền
phải thi hành thì còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức
lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015,
tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
2.6. Đối với quan hệ hoàn trả giữa Công ty Cổ phần Vận tải và Dịch vụ P
và bị cáo Phan Phương H, do Công ty không có yêu cầu giải quyết trong vụ án
này nên Hội đồng xét xử không xem xét; Công ty có quyền khởi kiện bằng vụ án
dân sự khác theo quy định của pháp luật nếu có căn cứ.
Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ
nộp án phí và quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Ngày 28/7/2026, người đại diện hợp pháp của bị hại Hà Văn K là bà Ngô Thị
Giáng T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm cho rằng cấp sơ thẩm đã đánh giá sai
chứng cứ, áp dụng sai pháp luật và bỏ sót tình tiết quan trọng và nêu trong đơn kháng
cáo sẽ bổ sung chi tiết các nội dung kháng cáo sau. Tuy nhiên cho đến khi mở phiên
tòa phúc thẩm vẫn chưa bổ sung thêm tài liệu hay ý kiến cụ thể nào về yêu cầu kháng
cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
6
Người đại diện hợp pháp của bị hại Hà Văn K là bà Ngô Thị Giáng T đề nghị
Hội đồng xét xử xem xét toàn bộ bản án sơ thẩm và trình bày:
Phía gia đình bị hại cũng không mong muốn bị cáo phải đi tù nhưng nếu bị
cáo không đồng ý toàn bộ yêu cầu bồi thường của đại diện bị hại thì đề nghị:
- Chuyển hình phạt của bị cáo sang hình phạt tù.
- Tăng tiền bồi thường tổn thất tinh thần theo mức lương cơ sở mới là
2.530.000 đồng/ tháng, cấp sơ thẩm tính theo mức lương 2.340.000 đồng là chưa
đúng quy định. Đề nghị buộc bị cáo bồi thường cho bà Giáng T số tiền 202.400.000
đồng tiền tổn thất tinh thần.
- Yêu cầu bị cáo H cấp dưỡng cho mỗi trẻ mỗi tháng 1 tháng lương tối thiểu
vùng (hiện nay là 5.310.000 đồng) đến khi 3 trẻ đủ 18 tuổi và mức cấp dưỡng này áp
dụng theo từng thời điểm của mức lương tối thiểu vùng cho đến khi các trẻ đủ 18
tuổi.
- Yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 70.000.000 đồng là chi phí thuê người
chăm sóc 03 trẻ khi bà Giáng T đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản và số tiền
195.000.000 đồng là tiền mất thu nhập do chấm dứt hợp đồng lao động giữa chừng
tại Nhật Bản để về lại Việt Nam chăm con. Tổng số tiền là 265.000.000 đồng. Đối
với yêu cầu này đại diện hợp pháp của bị hại và bị cáo Phan Phương H thỏa thuận bị
cáo H sẽ bồi thường thêm cho đại diện hợp pháp của bị hại 50% số tiền 265.000.000
đồng là 132.500.000 đồng. Đối với các yêu cầu khác bị cáo đề nghị Tòa xem xét giải
quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Công ty Cổ phần Vận tải và Dịch vụ P trình bày: Đồng ý với ý
kiến của bị cáo, sẽ tuân theo phán quyết của Tòa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa đưa ra ý kiến phát biểu:
Sau khi xem xét tất cả lời khai, tình tiết trong hồ sơ vụ án, nhận thấy bản án
sơ thẩm đã tuyên bị cáo Phan Phương H phạm tội “Vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng
người, đúng tội, không oan sai. Người đại diện hợp pháp của bị hại Hà Văn K là bà
Ngô Thị Giáng T kháng cáo yêu cầu chuyển hình phạt tù đối với bị cáo, tuy nhiên
xét thấy cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,
hoàn cảnh và nhân thân của bị cáo để xử bị cáo 02 năm cải tạo không giam giữ là
phù hợp. Đối với yêu cầu bồi thường số tiền 265.000.000 đồng do nguồn nguy hiểm
gây ra, tại phiên tòa bị cáo Phan Phương H đồng ý bồi thường 50% số tiền này nên
đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Đối với các yêu cầu khác của đại diện hợp pháp
của bị hại là không có căn cứ nên không chấp nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử
chấp nhận một phần kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại Hà Văn K là
bà Ngô Thị Giáng T; Ghi nhận việc bị cáo Phan Phương H tự nguyện bồi thường
thêm cho bà T 50% của số tiền 265.000.000 đồng.
Bị cáo không tranh luận.
7
Người đại diện hợp pháp của bị hại tranh luận: Bị cáo gây tai nạn để lại cho gia
đình bị hại 3 con nhỏ, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo hình phạt cải tạo
không giam giữ là không có căn cứ.
Tại thời điểm xét xử phúc thẩm hôm nay mức lương cơ sở đã tăng nên đề
nghị Hội đồng xét xử tăng mức bồi thường tổn thất tinh thần cho đại diện hợp
pháp của bị hại; tăng mức cấp dưỡng lên 1 tháng lương tối thiểu vùng là
5.310.000/ trẻ/ tháng cho đến khi 18 tuổi và áp dụng theo từng thời điểm của
mức lương tối thiểu vùng, theo tháng cho đến khi các trẻ 18 tuổi.
Bị cáo nói lời sau cùng bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, xin xem xét cho bị
cáo có cơ hội làm lại cuộc dời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành
phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực A –
TP.HCM, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân khu vực A – TP.HCM, Thẩm phán
trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình
tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên
tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại
về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự
nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của
Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, căn cứ vào tài liệu có trong
hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo đã có đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 06/01/2025, bị cáo Phan Phương H có
giấy phép lái xe theo quy định, điều khiên xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, loại xe
Xitec màu trắng, biển số 51C-912.XX, khi đến trước nhà số 712 đường Huỳnh
Tấn P, phường Tân Phú, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T,
Thành phố Hồ Chí Minh). Bị cáo H điều khiển xe vượt bên phải xe lưu thông
cùng chiều phía trước. Do không chú ý quan sát, bị cáo H điều khiển xe vượt xe
phía trước, không đảm bảo an toàn va đụng vào phía sau bên phải xe máy điện
Vinfast màu xanh, biển số 59TA-11xxx, do ông Hà Văn K điều khiển phía trước
cùng chiều bên phải. Hậu quả, làm ông Hà Văn K ngã xuống đường lọt vào gầm
xe tử vong tại chổ.
Với hành vi đó, bị cáo Phan Phương H đã phạm tội “Vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của
Bộ luật Hình sự.
Khi lượng hình, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết: Quá trình điều
tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành
8
vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần hậu quả cho gia
đình người bị hại. Bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, có nhiều thành tích
trong quá trình lao động học tập. Hiện tại gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó
khăn, vợ không có việc làm, bị cáo là lao động chính trong gia đình để áp dụng
điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử bị cáo Phan
Phương H mức hình phạt 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ.
Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện hợp pháp của bị hại Hà Văn K là bà
Ngô Thị Giáng T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy:
Về hình thức: kháng cáo của bà Ngô Thị Gáng T làm trong thời hạn luật định
nên hợp lệ.
Về nội dung:
- Đối với kháng cáo yêu cầu tăng mức hình phạt đối với bị cáo chuyển từ hình
phạt cải tạo không giam giữ sang hình phạt tù. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo phạm
tội do lỗi vô ý, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Cấp sơ thẩm áp
dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bị cáo thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường một phần hậu quả cho gia đình bị hại,
phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, có thành tích trong quá trình lao động, gia đình có
hoàn cảnh khó khăn, vợ bị cáo nội trợ không có việc làm, bị cáo là lao động chính
trong gia đình quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử bị
cáo mức hình phạt trong khung hình phạt của điều luật quy định. Tại phiên tòa phúc
thẩm hôm nay bị cáo tự nguyện thỏa thuận với đại diện hợp pháp của bị hại sẽ bồi
thường thêm cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 132.500.000 đồng, điều này
cũng thể hiện sự ăn năn hối cải sâu sắc của bị cáo, mong muốn được khắc phục thêm
một phần hậu quả do bị cáo gây ra. Xét mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên là phù
hợp nên không chấp nhận kháng cáo yêu cầu chuyển hình phạt cải tạo không giam
giữ sang hình phạt tù đối với bị cáo.
- Đối với yêu cầu tăng tiền bồi thường tổn thất tinh thần từ 187.000.000 đồng
lên 202.400.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy cấp sơ thẩm có sai sót khi nhận
định mức lương cơ sở tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 2.340.000 đồng/ tháng thay vì
đúng phải là 2.530.000 đồng nên cần rút kinh nghiệm. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ
thẩm đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần số tiền cụ thể
là 234.000.000 đồng (trong đó bà Phạm Thị B được nhận 46.800.000 đồng, bà Ngô
Thị Giáng T được nhận 187.200.000 đồng). Cấp sơ thẩm đã chấp nhận toàn bộ yêu
cầu này của đại diện bị hại nên việc bị hại thay đổi yêu cầu bồi thường thêm là không
có cơ sơ để chấp nhận.
- Đối với yêu cầu tăng tiền cấp dưỡng nuôi con bằng một tháng lương tối thiểu
vùng cho mỗi trẻ một tháng cho đến khi các trẻ tròn 18 tuổi và mức cấp dưỡng này
sẽ thay đổi khi mức lương tối thiểu vùng thay đổi. Hiện tại yêu cầu cấp dưỡng
5.310.000 đồng/ 1 trẻ, khi mức lương tối thiểu vùng tăng thì yêu cầu mức cấp dưỡng
phải tăng theo. Đối với yêu cầu này, Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm có xác
minh chi phí nuôi dưỡng các trẻ và nhận định nghĩa vụ nuôi con là nghĩa vụ của cả
cha và mẹ là đúng. Tuy nhiên việc tuyên buộc cấp dưỡng cho mỗi trẻ 2.480.000
9
đồng/ tháng cho đến khi trẻ đủ 18 tuổi và ấn định thời điểm kết thúc cấp dưỡng là
chưa đảm bảo quyền lợi của các trẻ và chưa đúng quy định của pháp luật vì mức cấp
dưỡng này chưa bằng ½ mức lương tối thiểu vùng và việc ấn định thời điểm kết thúc
việc cấp dưỡng không đúng quy định tại Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó
cần chấp nhận yêu cầu tăng mức cấp dưỡng cho các con của bị hại mỗi trẻ 2.700.000
đồng/tháng, thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 06/01/2025 cho đến khi đủ điều kiện
chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình
năm 2014.
- Đối với yêu cầu bồi thường khoản tiền 265.000.000 đồng do mất thu nhập. Bị
hại, bị cáo và Công ty Cổ phần Vận tải và dịch vụ P thỏa thuận bị cáo bồi thường
thêm 132.500.000 đồng cho đại diện hợp pháp của bị hại nên Hội đồng xét xử ghi
nhận.
Do chấp nhận một phần kháng cáo nên người đại diện hợp pháp của bị hại
không phải chịu án phí phúc thẩm.
Bị cáo, Công ty Cổ phần Vận tải và dịch vụ P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
theo quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015, năm 2024.
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại
bà Ngô Thị Giáng T; Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 233/2026/HS-ST, ngày
27/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực A – TP.HCM về nghĩa vụ cấp dưỡng và
yêu cầu bồi thường thiệt hại do mất thu nhập.
2. Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Phan Phương H 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ về tội
“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình
phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an
Thành phố Hồ Chí Minh nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Phan Phương H cho Ủy ban nhân dân xã N, Thành phố Hồ
Chí Minh để giám sát, giáo dục. Gia đình của bị cáo Phan Phương H có trách
nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã N, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc
giám sát, giáo dục bị cáo. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện
những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Cấm bị cáo Phan Phương H hành nghề lái xe trong thời hạn 01 (một) năm
kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
10
3. Về trách nghiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 591, 593, 597, 600 và 601 Bộ luật Dân
sự năm 2015; Căn cứ các Điều 69, 71, 107 và 110; Điều 118 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 3 Điều 8 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP
ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
3.1. Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại của đại diện hợp
pháp bị hại ông Hà Văn K.
Buộc Công ty Cổ phần Vận tải và Dịch vụ P bồi thường cho đại diện hợp
pháp của bị hại các khoản sau:
Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là 234.000.000 (hai trăm ba mươi bốn
triệu) đồng, trong đó:
Bà Phạm Thị B được nhận 46.800.000 (bốn mươi sáu triệu tám trăm
nghìn) đồng;
Bà Ngô Thị Giáng T được nhận 187.200.000 (một trăm tám mươi bảy
triệu hai trăm nghìn) đồng.
Tiền cấp dưỡng cho các con của bị hại, phương thức cấp dưỡng định kỳ
hàng tháng, cụ thể:
Cấp dưỡng cho cháu Hà KH, sinh ngày 06/12/2014, số tiền 2.700.000 (hai
triệu bảy trăm nghìn) đồng/tháng, kể từ ngày 06/01/2025 cho đến khi đủ điều
kiện chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 của Luật hôn
nhân và gia đình năm 2014.
Cấp dưỡng cho cháu Hà KD, sinh ngày 13/5/2017, số tiền 2.700.000 (hai
triệu bảy trăm nghìn) đồng/tháng, kể từ ngày 06/01/2025 cho đến khi đủ điều
kiện chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 của Luật hôn
nhân và gia đình năm 2014.
Cấp dưỡng cho cháu Hà K, sinh ngày 09/12/2019, số tiền 2.700.000 (hai
triệu bảy trăm nghìn) đồng/tháng, kể từ ngày 06/01/2025 cho đến khi đủ điều
kiện chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 của Luật hôn
nhân và gia đình năm 2014.
3.2. Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại về
việc bị cáo bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 132.500.000
(một trăm ba mươi hai triệu năm trăm nghìn) đồng do bị mất thu nhập.
3.3. Ghi nhận bị cáo Phan Phương H đã tự nguyện bồi thường cho gia
đình bị hại số tiền 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng chi phí mai táng;
đại diện hợp pháp của bị hại xác nhận đã nhận đủ và không yêu cầu bồi thường
thêm khoản chi phí mai táng.
3.4. Ghi nhận bị cáo Phan Phương H đã tự nguyện nộp số tiền
200.000.000 (hai trăm triệu) đồng theo Biên lai thu tiền số 0008657 ngày
04/11/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6 để bảo đảm thi hành nghĩa
11
vụ bồi thường; tiếp tục tạm giữ số tiền này để bảo đảm thi hành án theo quy định
của pháp luật.
3.5. Đối với quan hệ hoàn trả giữa Công ty Cổ phần Vận tải và Dịch vụ P
và bị cáo Phan Phương H, do Công ty không có yêu cầu giải quyết trong vụ án
này nên Hội đồng xét xử không xem xét; Công ty có quyền khởi kiện bằng vụ án
dân sự khác theo quy định của pháp luật nếu có căn cứ.
3.6. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu
bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với các khoản tiền
phải thi hành thì còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức
lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015,
tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
4. Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà
án.
Người đại diện hợp pháp của bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm.
Công ty Cổ phần Vận tải và Dịch vụ P phải chịu 12.000.000 (mười hai
triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân
sự phúc thẩm.
Bị cáo Phan Phương H phải chịu 6.626.000 (sáu triệu sáu trăm hai mươi
sáu nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao; (1)
- TAND khu vực A -TP.HCM (1)
- VKSND Tp.HCM; (3)
- VKSND KVA - TPHCM (1)
- P.PV06 – CA Tp.HCM; (1)
- THA khu vực A -TP.HCM; (1)
- Bị cáo; (1)
- Đại diện hợp pháp của bị hại; (4)
- Công an TP.HCM; (1)
- UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
- Sở Tư pháp; (1)
- Lưu: VT, THS, hồ sơ. (22) (6)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 932/2026/HS-PT Bản án số 932/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 932/2026/HS-PT Bản án số 932/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất