Bản án số 21/2026/HNGĐ-ST ngày 06/04/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 21/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 21/2026/HNGĐ-ST ngày 06/04/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 21/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/04/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án số 21/2026/BA-ST
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 10 – ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 21/2026/HNGĐ-ST
Ngày 06-4-2026
V/v ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên t: Ông Cao Anh Tuấn.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Văn Mười và ông Phan Ngọc Đài.
Thư ký phiên tòa: Ông Lương Công Hà – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực
10 - Đắk Lắk.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 Đắk Lắk tham gia
phiên tòa: Ông Trần Minh Hoàng – Kiểm sát viên.
Ngày 06/4/2026, tại phòng xử án Toà án nhân dân khu vực 10 – Đắk Lắk mở
phiên toà xét xử thẩm ng khai vụ án hôn nhân gia đình thụ số
112/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025, về việc “Ly hôn, nuôi con
chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2026/QĐST- HNGĐ ngày
03/3/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Thị S, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn T, P, tỉnh Đắk
Lắk. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Đăng T, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn T, P, tỉnh Đắk
Lắk. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung đơn khởi kiện và các lời khai tại các buổi làm việc, nguyên
đơn bà Hà Thị S trình bày:
- Tôi và ông Lê Đăng T đăng ký kết hôn trên tinh thần tự nguyện tại UBND
E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Nay UBND E, tỉnh Đắk Lắk) vào ngày
25/7/2005. Trong quá trình chung sống tvợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ
chồng thường xuyên cãi nhau những do nhỏ nhặt, ông T hay uống rượu về chửi
bới vcon, đến tháng 4/2025 mâu thuẫn càng trở nên trầm trọng, ông T thường
xuyên uống rượu, chửi bới vợ con và dẫn đến xô xát. Mục đích hôn nhân không đạt
được. Xét thấy tình cảm không còn nên tôi yêu cầu Tòa án được ly hôn với ông Lê
Đăng T.
Về con chung: Quá trình chung sống chúng tôi 03 cong chung là cháu Lê Đăng
D, sinh ngày 19/02/2006, cháu Đăng T1, sinh ngày 21/01/2010 cháu Đăng
2
K, sinh ngày 23/8/2024. Tôi chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết nuôi cháu Đăng K,
sinh ngày 23/8/2024 cho đến khi đủ 18 tuổi.
Đối với cháu Lê Đăng D, sinh ngày 19/02/2006 hiện đã trên 18 tuổi nên không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Đối với cháu Lê Đăng T1, sinh ngày 21/01/2010 đã bị Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk xử phạt 04 năm 06 tháng như vậy khi cháu T1 ra thì đã trên 18 tuổi
do đó tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Lê Đăng T trình bày:
Tôi và Thị S đăng ký kết hôn trên tinh thần tự nguyện tại UBND xã E,
huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Nay UBND E, tỉnh Đắk Lắk) vào ngày 25/7/2007.
Trong quá trình chung sống, tvợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, đến năm
4/2025 con tôi Đăng T1, sinh năm 2010 hành vi giết người nên bị tạm giam,
lúc này gia đình phát sinh mâu thuẫn, vì điều kiện kinh tế khó khăn, bất đồng quan
điểm sống nên vợ chồng xảy ra cãi vã về vấn đề tiền bạc, đôi khi tôi có đi uống
rượu về chử bới vợ con 1 vài câu, tuy nhiên tôi nhận thấy hành vi của tôi sai
trái, tôi sẽ thay đổi nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết được đoàn tụ với nhau.
Về con chung: Quá trình chung sống chúng tôi 03 cong chung là cháu Lê Đăng
D, sinh ngày 19/02/2006, cháu Đăng T1, sinh ngày 21/01/2010 và cháu Đăng
K, sinh ngày 23/8/2024. Tôi chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết nuôi cháu Đăng K,
sinh ngày 23/8/2024 cho đến khi đủ 18 tuổi.
Đối với cháu Lê Đăng D, sinh ngày 19/02/2006 hiện đã trên 18 tuổi nên không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Đối với cháu Lê Đăng T1, sinh ngày 21/01/2010 đã bị Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk xử phạt 04 năm 06 tháng như vậy khi cháu T1 ra thì đã trên 18 tuổi
do đó tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Đắk Lắk
phát biểu ý kiến về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định pháp luật
kể từ khi thụ vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. Đề
nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Hà Thị S được ly
hôn với ông Đăng T. Về con chung: Giao con chung cháu cháu Đăng K,
sinh ngày 23/8/2024 cho Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho
đến khi đủ 18 tuổi; Đối với cháu Lê Đăng D, sinh ngày 19/02/2006 hiện đã trên 18
tuổi nên đề nghị Tòa án không giải quyết; Đối với cháu Đăng T1, sinh ngày
21/01/2010 đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xphạt 04 năm 06 tháng như
vậy khi cháu T1 ra tù thì đã trên 18 tuổi do đó không đề nghị Tòa án giải quyết. Về
tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được
thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận
thấy:
[1] Về khởi kiện và thụ lý vụ án: Tòa án thụ lý việc khởi kiện của bà Hà Thị
S là đúng trình tự thủ tục theo Điều 191, Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về n
nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc
thẩm quyền giải quyết của Toà án và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân khu vực 10 Đắk Lắk theo quy định tại Điều 35 điểm a
khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử xét thấy, bà Hà Thị S và ông Lê
Đăng T đăng ký kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân
E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Nay UBND E, tỉnh Đắk Lắk) là hôn nhân hợp
pháp. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân
do bất đồng quan điểm sống, không tiếng nói chung, vợ chồng sống ly thân
được hơn 01 năm, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Hà Thị S
và ông Lê Đăng T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục
đích hôn nhân không đạt được nên cho Thị S và ông Đăng T ly hôn
phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[5] Về con chung: Giao con chung cháu cháu Đăng K, sinh ngày
23/8/2024 cho Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi
đủ 18 tuổi;
Đối với cháu Đăng D, sinh ngày 19/02/2006 hiện đã trên 18 tuổi nên không
đặt ra xem xét giải quyết;
Đối với cháu Lê Đăng T1, sinh ngày 21/01/2010 đã bị Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk xử phạt 04 năm 06 tháng như vậy khi cháu T1 ra thì đã trên 18 tuổi
do đó không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về tài sản chung nợ chung: Thị S và ông Đăng T không
yêu cầu, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[7]Về án phí: Thị S phải chịu án phí ly hôn thẩm theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, 147,
191, 195 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật
hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Hà Thị S được quyền ly
hôn với ông Lê Đăng T.
4
2. V con chung: Giao con chung cháu cháu Đăng K, sinh ngày
23/8/2024 cho Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi
đủ 18 tuổi;
Đối với cháu Đăng D, sinh ngày 19/02/2006 hiện đã trên 18 tuổi nên không
đặt ra xem xét giải quyết;
Đối với cháu Lê Đăng T1, sinh ngày 21/01/2010 đã bị Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk xử phạt 04 năm 06 tháng như vậy khi cháu T1 ra thì đã trên 18 tuổi
do đó không đặt ra xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung và công nợ chung: Bà Hà Thị S và ông Đăng T không
yêu cầu, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số
326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về án phí, lệ phí Tòa án. Bà Hà Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm
được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001359
ngày 02/10/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 10 – Đắk Lắk.
Nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Đăk Lăk; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND khu vực 10 – Đắk Lắk;
- UBND xã Phú Xuân;
- Phòng THA dân sự khu vực 10 – Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, Vp. Cao Anh Tuấn
5
HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Y Míp Niê Nguyễn Thị Chinh Cao Anh Tuấn
Tải về
Bản án số 21/2026/HNGĐ-ST Bản án số 21/2026/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 21/2026/HNGĐ-ST Bản án số 21/2026/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất