Bản án số 39/2026/HS-PT ngày 23/04/2026 của TAND tỉnh Gia Lai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 39/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 39/2026/HS-PT ngày 23/04/2026 của TAND tỉnh Gia Lai
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 39/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/04/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Le D - Danh bac
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số: 39/2026/HS-PT
Ngày 23 - 4 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ
Các Thẩm phán: Ông Trương Nam Trung
Ông Ung Quang Định
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:
Thị Lệ Giang Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc
thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 43/2026/TLPT-HS ngày 09 tháng 3 năm
2026 đối với bị cáo Đ do kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự thẩm
số: 04/2026/HS-ST ngày 20 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6
Gia Lai.
Bị cáo có kháng cáo:
Đ, sinh ngày 01/01/1981 tại tỉnh Bình Định (nay tỉnh Gia Lai); số căn
cước công dân: 052081011333; nơi trú: Tổ dân phố T, phường H, tỉnh Gia Lai;
nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ học vấn: 7/12, dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn
giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông T (chết) Thị N, sinh năm
1944; vợ: Lê Thị C, sinh năm 1993; con: Có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự:
Không; nhân thân: Ngày 15/10/2021, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân H, thị H,
tỉnh Bình Định (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi
xâm hại đến sức khỏe của người khác, đã nộp phạt xong. Bị cáo bị áp dụng biện
pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú tngày 07/10/2025 cho đến nay mặt
tại phiên tòa.
Ngoài ra, còn các bị cáo Đặng Đức H, Dương Hồng Đ1, Mai Xuân T1, Lê M không
có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 05/8/2025, Dương Hồng Đ1, Đặng Đức H, Lê M Mai
Xuân T1 tập trung tại nhà Lê Đ tổ dân phố T, phường H, tỉnh Gia Lai để uống bia.
Sau đó, H rủ Đ1, T1 M đánh bạc thắng thua bằng tiền Việt Nam đồng dưới hình
thức rung xóc bầu cua thì cả nhóm đồng ý. H Đ1 ra xe lấy bbầu cua, hột bầu
cua vào nhà Đ để chơi. Trước khi chơi, M mang theo trong người 22.201.000 đồng,
đưa cho Đ 150.000 đồng trả tiền bia sử dụng 450.000 đồng để đánh bạc; Đ1 sử
dụng 1.520.000 đồng để đánh bạc; H sử dụng 3.100.000 đồng để đánh bạc; T1 sử
dụng 380.000 đồng để đánh bạc. Đáng đồng ý cho cả nhóm đánh bạc tại nhà mình
và nằm trên võng để xem.
Các bị cáo thỏa thuận hình thức chơi bầu cua như sau: Chủ cái Đ1 sử dụng
một đĩa nhôm, nhôm đậy kín, bên trong 03 khối lập phương được làm bằng
xốp, mỗi mặt của khối lập phương có dán hình 06 con vật: bầu, cua, tôm, cá, gà, nai
một bàn giấy in hình 06 con vật tương ứng. Chủ cái dùng tô nhôm đậy kín trên
đĩa nhôm xóc cho 03 khối lập phương nhảy lộn xộn rồi đặt xuống nền, người chơi
đặt tiền cược vào các con vật in trên bàn giấy hoặc có thể tả tiền của nhau. Sau đó,
chủ cái mở tô nhôm ra, nếu mặt trên cùng của 03 khối lập phương trên đĩa nhôm có
con vật phù hợp với hình con vật người chơi đặt trên bàn giấy thì chủ cái thua và
chung tiền với tỷ lệ trúng 01 hình thì chung 1:1, trúng 02 hình thì chung 1:2, trúng
03 hình thì chung 1:3, nếu hình con vật trên mặt trên của 03 khối lập phương khác
với hình con vật người chơi đã đặt trên bàn giấy tchủ cái thắng, người chơi
mất toàn bộ số tiền đã đặt cược.
Đến 15 giờ 00 phút cùng ngày, Công an phường H kiểm tra phát hiện, lập biên
bản tạm giữ tổng số tiền H, Đ1, T1 M dùng đánh bạc 5.450.000 đồng. Trong
đó, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 645.000 đồng; thu giữ số tiền dùng để đánh bạc trên
tay, trong người và dưới chân các bị cáo 4.805.000 đồng.
Tại Bản án hình sự thẩm số 04/2026/HS-ST ngày 20/01/2026, Tòa án nhân
dân khu vực 6 – Gia Lai đã căn cứ khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51,
Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đ 06 tháng về tội “Đánh
bạc”. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần hình phạt đối với các bị cáo
Đặng Đức H, Dương Hồng Đ1, Mai Xuân T1, M; xử vật chứng, án phí
quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 27/01/2026, bị cáo Đ kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên toà
phúc thẩm, bị cáo Đ thay đổi yêu cầu kháng cáo, xin được hưởng hình phạt cải tạo
không giam giữ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị
Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 điểm đ khoản 1 Điều
357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị o Đ, sửa bản án
3
sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Đ, xử phạt bị cáo Đ từ 09 đến 12 tháng cải
tạo không giam giữ và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên sở nội dung ván, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong hồ
sơ vụ án và phù hợp với các chứng cứ khác nên có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 13 giờ ngày 05/8/2025 tại nhà Đ tổ dân phố T, phường H, tỉnh
Gia Lai, sau khi nhậu xong, Dương Hồng Đ1, Đặng Đức H, M và Mai Xuân T1
rủ nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền Việt Nam đồng dưới hình thức rung xóc bầu
cua. Đến 15 giờ 00 phút cùng ngày, Công an phường H kiểm tra phát hiện, lập biên
bản và tạm giữ tổng số tiền H, Đ1, T1 M dùng đánh bạc là 5.450.000 đồng. Mặc
không tham gia chơi nhưng Đ đã hành vi giúp sức, cung cấp địa điểm là nhà
thuộc quyền sở hữu của mình cho 04 bị cáo có tên nêu trên thực hiện đánh bạc trái
phép.
Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 6 Gia Lai đã xét xử bị cáo Đ về tội “Đánh
bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo xin được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo
Lê Đ, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
[2.1] Trong quá trình ăn nhậu, các bị cáo Đ1, H, M T1 đã bộc phát, nảy sinh
hành động rủ nhau đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi bầu cua. Mặc dù biết
hành vi đánh bạc nêu trên là vi phạm pháp luật nhưng vì nể nang, sợ mất lòng bạn
bè nên bị o Đ đã đồng ý cung cấp địa điểm là hiên nhà của mình để 04 bị cáo
tên nêu trên thực hiện hành vi đánh bạc. Ngoài hành vi nêu trên thì bị cáo Đ không
tham gia đánh bạc, không thu lợi gì đối với việc cho mượn địa điểm đđánh bạc,
bị cáo tham gia với vai trò người giúp sức, vai trò không đáng kể nên so với
các bị cáo Đ1, H, M, T1 (là người thực hành, chơi đánh bạc trực tiếp) thì vai trò, tính
chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo Đ thấp nhất. Mặc bị cáo Đ đã
từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác
vào năm 2021 nhưng bị cáo đã chấp hành xong quyết định xphạt vi phạm hành
chính, đã được xóa tiền sự. Tòa án cấp thẩm đã xphạt bị cáo Đ 06 tháng tù,
trong khi đó xử phạt các bị cáo H, Đ1 12 tháng cải tạo không giam giữ xử phạt
các bị cáo M, Trạng 09 tháng cải tạo không giam giữ không phù hợp, chưa thực
hiện việc phân hóa hình phạt cũng như không tương xứng với vai trò, tính chất, mức
độ của hành vi phạm tội của từng bị cáo.
Ngoài ra, Tòa án cấp cơ thẩm đã xử phạt các bị cáo H, Đ1, M, T1 hình phạt cải
tạo không giam ginhưng không nhận định cũng như không quyết định về phần
khấu trừ thu nhập đối với 04 bị cáo nêu trên vi phạm quy định tại khoản 3 Điều
36 của Bộ luật Hình sự “Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực
4
hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ bkhấu trừ một
phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được
thực hiện hàng tháng. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho miễn việc khấu
trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án”.
Đề nghị Tòa án cấp thẩm cần rút kinh nghiệm trong những lần xét xử tiếp
theo đối với các sai sót trên.
[2.2] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn
năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng
các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình
sự. Ngoài ra, tại cấp sơ thẩm bị cáo đã cung cấp các tài liệu chứng minh cha mẹ bị
cáo người công với cách mạng, đã được nhà nước tặng thưởng huân chương
kháng chiến hạng ba, khi còn sống cha bị cáo (ông T) được hưởng chính sách
như thương binh nhưng chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét và đồng thời tại cấp
phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết mới là sổ lĩnh tiền ưu đãi hàng tháng của
mẹ bị cáo (bà Lê Thị N) do là người có công cách mạng; do đó, bị cáo được hưởng
thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích trên, xét thấy bị cáo Đ có nhiều tình tiết giảm nhẹ được
quy định tại khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo tham gia với
vai trò người giúp sức, vai trò thyếu không đáng kể, bị cáo nơi trú
ràng và theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tại phiên tòa
nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài hội giao bị cáo về
địa phương để giám sát giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm
chung, việc cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ không gây
nguy hiểm cho hội đồng thời cũng đảm bảo tính công bằng khi xem xét về
phần hình phạt giữa bị cáo đối với các bị cáo khác trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét
xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin được hưởng hình phạt cải tạo không giam
giữ của bị cáo Lê Đ, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo Đ có hoàn cảnh gia đình kkhăn, thuộc diện gia đình công với cách
mạng, hiện nay mẹ bị cáo đang hưởng tiền ưu đãi hàng tháng do người công
cách mạng nên xét miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Đ.
[3] Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Đ không phải chịu án phí hình sự
phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án hình sự thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố
tụng hình sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36
của Bộ luật Hình sự.
5
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 2 Điều
23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí
lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Đáng . Sửa bản án sơ thẩm số
04/2026/HS-ST ngày 20/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 Gia Lai về phần
hình phạt đối với bị cáo Lê Đáng .
2. Xử phạt bị cáo Đ 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh
bạc”.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính tngày
quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh G nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Lê Đ cho y ban nhân dân phường H, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo
dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
3. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Lê Đáng .
4. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Đ không phải chịu.
5. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- TAND khu vực 6 Gia Lai;
- VKSND khu vực 6, tỉnh Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 6, tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan THAHS Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan HSNV Công an tỉnh Gia Lai;
- Phòng GĐ, KT, TT và THA TAND tỉnh Gia Lai;
- Bị cáo;
- Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN T
Nguyễn Tiến Sỹ
Tải về
Bản án số 39/2026/HS-PT Bản án số 39/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 39/2026/HS-PT Bản án số 39/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất