Bản án số 20/2021/DS-PT ngày 12/01/2021 của TAND tỉnh Tiền Giang về tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 20/2021/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 20/2021/DS-PT ngày 12/01/2021 của TAND tỉnh Tiền Giang về tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tiền Giang
Số hiệu: 20/2021/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/01/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn H yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 20/2021/DS-PT
Ngày: 12-01-2021
V/v tranh chấp: “Yêu cầu chấm
dứt hành vi cản trở quyền sử
dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Em
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Triều
Bà Nguyễn Thanh Nhàn.
- Thư phiên tòa: Ông Ngô Phúc Thẩm - Thư Tòa án, Tòa án nhân
dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 497/2020/TLPT-DS ngày 20 tháng 11
năm 2020 về tranh chấp Yêu cu chm dt hành vi cn tr quyn s dng đt.
Do Bản án dân sự thẩm số 168/2020/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2020
của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo và kháng ngh.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 609/2020/QĐ-PT ngày
23 tháng 11 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1958;
Đại diện ủy quyền: Bà Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1954 (có mặt).
Cùng địa ch: S232, p M, T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
(Theo văn bản ủy quyền 26 tng 6 m 2019)
- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1956 (có mặt);
2. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1959 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp 1, A, huyn C, tỉnh Tiền Giang.
- Người có quyn lợi, nga vliên quan:
1. ChNguyn Bo Thư, sinh m 1993 (có mt);
2
2. Anh Nguyn Quang H, sinh m 1996 (có mt);
Cùng địa ch: p 1, xã A, huyn C, tnh Tin Giang.
3. Ủy ban nn n A, huyện C.
Đi diện theo pháp luật: Ông Đinhn Dương; Chức v: Chủ tịch Ủy ban nn
dân A (có n bản vắng mặt);
Đa ch: p 1, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Người kháng cáo: Bđơn bà Nguyễn Thị V.
- Nời kng nghị: Viện trưởng Viện kiểmt nhân dân tnh Tin Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm;
Nguyên đơn ông Phạm Văn H, người đại diện theo ủy quyền của ông H
bà Nguyễn Ngọc P thống nhất trình bày:
Ngày 21/12/1999 ông H V lập giấy tay chuyển nhượng cho ông H
căn nhà kích thước ngang 4,5m dài 24m Ủy ban nhân dân A, huyện C
chứng thực nhà và đất có tứ cận như sau: Hướng Đông giáp Quốc lộ 1A, Hướng
Tây giáp Kim Anh; Hướng Nam giáp tiệm chụp hình Thiên Kim Hướng
Bắc giáp Nhà thời Tin Lành. Sau khi chuyển nhượng do chưa sử dụng, nên ông
H cho ông H V nhờ, V ông H làm bản cam kết ngày 16/10/2003.
Đến năm 2004 do có nhu cầu lấy lại nhà đất thì phát sinh tranh chấp. Tại bản
án số 29/DSPT, ngày 18/01/2005 buộc ông H V giao thửa đất căn nhà
cho ông H, bản án trên được cơ quan thi hành án huyện C đã thi hành xong
o ngày 06/12/2006, ông H đã được đứng tên giy chng nhận quyền sử
dụng đất là thửa đất thửa 366, tờ bản đồ số 5, diện tích 103,8m
2
vào sổ cấp giấy
số CH05394, ngày 18/7/2018 nhưng theo biên bản vvic tnguyên thi hành
án ngày 06/12/2006 t hướng Đông của thửa đất giáp phần đt vi phm l
gii quốc lộ 1A, phần đất này diện tích 38,11m
2
giáp quc lộ 1A ông H
V chiếm giữ dùng lưới B40 o bít lại phía trước thửa đất 366 và căn nhà
của ông H, nên tđó đến nay ông H không sử dụng được căn nhà thửa đất
bên trong. Để vào căn nhà này ông H phải đi nhờ qua Nhà thờ Tin Lành, trèo
qua cửa sổ mới vào nhà được.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà P đại diện y quyền của ông H khai thửa đất này
nguồn gốc của Nguyễn Thị Hồng Nhung bán cho ông Văn Tốt. Tại
giấy viết tay ngày 05/8/1990 có thể hiện là khi chuyển nhượng hướng Đông giáp
quốc lộ 1A bán luôn phần hành lang lộ giới. Đến ngày 30/10//1998 ông Tốt
chuyển nhượng lại cho ông H và bà V, trong giấy viết tay chuyển nhượng nhà và
đất cũng ghi hướng Đông giáp quốc lộ 1A cũng bán luôn phần hành lang lộ
giới. Đến ngày 21/12/1999 ông H bà V chuyển nhượng lại cho ông H cũng
ghi giấy tay hướng Đông giáp quốc lộ 1A giao kết bán đất bán luôn phần
hành lang lộ giới. Đồng thời khi mua bán cũng xác định là phần đất hành lang lộ
giới không được cấp giấy nên giao ông H V giao giấy mua bán tay từ
3
Nhung chuyển nhượng sang ông Tốt, từ ông Tốt sang lại ông H cho ông H
cất giữ và thỏa thuận là bán hết đất tính đến quốc lộ 1A. Nhưng nay ông H và bà
V không giao phần đất thuộc hành lang lộ giới. Từ đó ông H không sử dụng
được thửa đất và căn nhà đã mua của ông H.
Nay ông H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H V cùng các thành viên
trong hộ Nguyễn Bảo Thư và Nguyễn Quang Huy thực hiện mua bán giấy tay
đã lập ngày 21/12/1999 chấm dứt hành vi cản trở quyền sdụng đất phần đất
thuộc hành lang lộ giới của ông H đối với thửa đất số 366, tờ bản đồ số 5, diện
tích 103,8m
2
vào scấp giấy số CH05394, ngày 18/7/2018 cấp cho nhân ông
H căn nhà trên đất: tháo dở di dời toàn bộ căn nhà mái che phía trước
thửa đất số 366 có diện tích 38,11m
2
, để ông H thực hiện quyền sử dụng đất đối
với thửa đất và căn nhà của ông H.
Tại phiên tòa thẩm các bị đơn Nguyễn Văn H Nguyễn Thị V đã
được tống đạt giấy triệu tập nhưng vẫn vắng mặt.
Ông H bản tự khai gởi cho Tòa án đề ngày 09/3/2020 xác định bán
nhà đất cho ông H, quan Thi hành án đã giao xong, còn phần đất phía trước
thuộc quyền sở hữu của ông nên ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn. Ông H cũng xác định Tòa án thư mời đến Tòa để giải quyết
vụ án và thành lập Hội đồng đến phần đất tranh chấp thẩm định, định giá
đo đạc phần đất tranh chấp, nhưng ông H không đồng ý cho thẩm định, định giá
và đo đạc vì đất này của ông H.
Đối với bà Nguyễn Thị V được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ
án về yêu cầu khởi kiện của ông H và triệu tập hợp lệ đến Tòa để giải quyết vụ
án nhiều lần, nhưng bà V vẫn vắng mặt không do cũng không ý kiến
về việc vắng mặt của bà cũng như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông H.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Bảo T anh Nguyễn
Quang H được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ vụ án về yêu cầu khởi
kiện của ông H triệu tập hợp lệ đến Tòa để giải quyết vụ án nhiều lần, nhưng
vẫn vắng mặt không do cũng không ý kiến về việc yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn ông H.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân A đơn xin
vắng mặt ngày 31/7/2020 và không ý kiến về vụ án. Đồng thời Ủy ban
nhân dân A cũng xác định phần đất tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn là
thuộc thửa 13 tách ra từ thửa thành hai thửa 365 và 366, Thửa 366 được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H. Thửa 365 nằm trong hành lang lộ
giới chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại bản án dân sthẩm s: 168/2020/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2020
của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
- Căn cứ khoản 9, Điều 26; Điểm a, khoản 1, Điều 35; Điểm c, khoản 1,
Điều 39; Khoản 1, Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
4
- Căn cứ khoản 1 điểm b, khoản 2, Điều 227 Điều 228 Bộ luật Tố
Tụng dân sự.
- Căn cứ vào Điều 164, 166 và 169 của Bộ luật Dân sự.
- Căn cứ Điều 203 Luật đất đai.
- Căn cứ Điều 42 Nghị Định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 02 năm
2010 của Chính Phủ.
- Căn cứ khoản 5 Điều 3 và khoản 4 Điều 43 Luật giao thông đường bộ.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn H:
Buộc ông Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị V cùng các thành viên trong hộ
là Nguyễn Bảo Thư Nguyễn Quang Huy chấm dứt hàng vi cản trở quyền sử
dụng đất của ông Phạm Văn H đối với thửa đất số thửa 366, tờ bản đồ số 5, diện
tích 103,8m
2
vào scấp giấy số CH05394, ngày 18/7/2018 cấp cho nhân ông
H. Thửa đất có địa chỉ tại ấp 1, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang là tháo dở di dời
mái che và toàn bộ tài sản trên phần đất có diện tích 38,11m
2
là hành lang lộ giới
của quốc lộ 1A, phía trước thửa đất số 366 được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho ông H có tứ cận:
- Hướng Bắc giáp Nhà thờ Tin Lành A.
- Hướng Nam giáp thửa đất của bà Huỳnh Thị Tuyết D.
- Hướng Đông giáp Quốc lộ 1A.
- Hướng Tây giáp thửa đất số 366 của ông Phạm Văn H.
(có sơ đồ đất kèm theo)
Thực hin sau khi án có hiệu lực pháp lut.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 06/10/2020, bị đơn Nguyễn Thị V đơn kháng cáo toàn bộ bản
án thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Ngày 13/10/2020, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang
quyết định kháng nghị s382/QĐKNPT-VKS-DS ngày 13/10/2020 kháng nghị
bản án dân sự sơ thẩm nêu trên với nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền
Giang xét xử pc thẩm vụ án theo hướng hủy bản án dân sự sơ thẩm
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn
giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang
giữ nguyên quyết định kháng nghị số 382/QĐKNPT-VKS-DS ngày 13/10/2020
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân tỉnh Tiền Giang.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
5
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến:
Về ttụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ
án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham
gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét
xử nghị án là đúng theo pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Tòa án cấp thẩm vi phạm tố tụng chưa xác định đúng
chủ thể đại diện theo pháp luật của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy
ban nhân dân A ai. Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp quyền sử
dụng đất đòi quyền sử dụng đất thì quan hệ pháp luật tranh chấp này đã giải
quyết bằng bản án phúc thẩm số: 631/2007/DS-PT ngày 26/11/2007 của a
án nhân dân tỉnh Tin Giang đã hiệu lực pháp luật. Chưa thu thp h sơ thi
nh án v việc thi hành án của bản án số 29/2005/DSPT ny 18/01/2005
của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang đã thi hành chưa, ca làm rõ tài sản
của ông H bà V hiện nay xây ct trên diện tích 38,11m
2
. Đồng thời phần đất
tranh chấp là nm trong hành lang an toàn đường b theo c nhận của y
ban nhân n xã A, huyện C là chưa cấp giy chứng nhận quyền s dụng đất
cho ai. Tòa án cấp thm thụ lý gii quyết là không đúng thm quyền nên đề
nghị áp dụng khoản 3 Điều 308 Bluật Tố tụng dân sự hủy bản án n sự
thm của a án nhân dân huyện C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các
đương sự, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa thẩm bị đơn ông Nguyễn Văn H,
Nguyễn Thị V, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Bảo T anh
Nguyễn Quang H được Tòa án triệu tập hợp lệ như vắng mặt không do, Tòa
án cấp thẩm căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 B luật Ttụng n sự xét xử
vắng mặt ông H, V, chị T và anh H là có căn cứ. Đối với Ủy ban nhân dân
A, Tòa án cấp thẩm đưa vào tham gia tố tụng với cách người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhưng phần đầu bản án Tòa án cấp sơ thẩm không
ghi người đại diện theo pháp luật thiếu sót việc thiếu sót này không ảnh
hưởng nghiêm trọng đến những người tham gia tố tụng, hơn nữa đại diện theo
pháp luật của Ủy ban nhân dân A là ông Đinh Văn D Chức vụ: Chủ tịch Ủy
ban nhân dân đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Tòa án cấp phúc thẩm điều
chỉnh bổ sung thêm đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân A ông
Đinh Văn D cho phù hợp.
[2] Về thời hạn kháng cáo của Nguyễn Thị V kháng nghị của Viện
trưởng Viện kiểm t nhân dân tỉnh Tiền Giang còn trong thời hạn luật định,
đúng theo quy định tại các điều 271, 272 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên
được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
6
[3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét thấy tại đơn sửa chữa, bổ sung
đơn khởi kiện của ông Phạm Văn H ngày 10/12/2019 cũng như tại biên bản
hòa giải ngày 30/6/2020 của Tòa án ông H yêu cầu phần đất có diện tích
38,11m
2
nay thửa 365 ông đã mua của ông H V theo giấy tay chuyển
nhượng ngày 21/12/1999 chứng thực của Ủy ban nhân dân A, hướng
Đông giáp quốc lộ 1A phần đất này nằm trong hành lang lộ giới không được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông H V không giao cho ông làm
cản trở việc sử dụng đất của ông thửa 366 không lối đi ra Quốc lộ 1A, nên
ông yêu cầu ông H, V chấm dứt hành vi cản trở tháo dở toàn bộ tài sản
trên diện tích đất 38,11m
2
để ông lối đi ra Quốc lộ. Tòa án cấp thẩm xác
định quan hpháp luật tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi quyền sử dụng đất
chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất không đúng với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn. Tòa án cấp phúc thẩm xác định lại quan hệ pháp luật tranh
chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sdụng đất theo quy định tại
Điều 164 Bộ luật Dân sự, quan hệ pháp luật này chưa được giải quyết bằng bản
án số: 631/2007/DS-PT ngày 26/11/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền
Giang đã có hiệu lc pp luật.
[4] Về nội dung v án: t u cầu kháng o của bà Nguyễn Thị V và
kháng ngh của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang. Hội
đồng xét x nhận thấy tài liệu chứng cứ trong hồ sơ th hiện nhà đất tranh
chấp nguồn gốc của Nguyễn Thị Hồng N, ngày 05/8/1990 Nhung bán
cho ông Văn T hai bên làm giấy viết tay nhượng đất Ủy ban nhân dân
A, huyện C xác nhận thể hiện khi chuyển nhượng hướng Đông giáp Quốc
lộ 1A là bán luôn phần hành lang lộ giới, ông Tốt sử dụng đến ngày 30/10/1998
chưa khai đăng thì ông Tốt chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn H
bà Nguyễn Th V nhà đất tại s 04 tổ 1, ấp 01, A, huyện C, tỉnh Tiền
Giang, hai n có làm giấy tay có Ủy ban nhân dân A, huyện C chứng thực
ngày 05/6/1999 kích thước ngang 4,4m dài 33m t cn hướng Đông giáp
quốc l 1A, y giáp bà Lê Th Kim Anh, Bắc giáp nhà th tin lành, Nam
giáp tim chụp hình Thiên Kim gồm có 03 phn: Phn 1 tQuc lộ tr vào
10m, phần 2 từ n ngói ngang 4,4m dài 13m, phần 3 ngang 4,4m i 11,6m
đang xây ddang. Nhưng phần 1 của giy mua bán t Quc lộ 1A vào 10m
thì ngày 10/11/1991 ông Tốt đơn xin che phần trước nhà bằng y khi nào
lnh giải tỏa lòng lề lthì ông sẽ dở i được schấp thuận của Ủy ban
nhân dân xã A, huyện C. Ông H bà V sdng đến ngày 21/12/1999 chưa kê
khai đăng quyền s dụng đất thì ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị V
làm giy tay chuyn nhượng n đất cho ông Phm Văn H nêu trên Ủy ban
nhân dân xã A chng thực. Căn nhà kích thước 4,5m dài 24m có tứ cận
hướng Đông giáp quốc l 1A, Tây giáp bà Lê Th Kim Anh, Bắc giáp n th
tin lành, Nam giáp tim chp hình Thiên Kim. Ông H bà V giao toàn bộ giy
tờ mua n từ Nhung chuyển qua ông Tt, từ ông Tốt chuyển qua cho ông
H, V cho ông H giữ. Do chưa nhu cầu s dụng nên ông H cho ông H,
V nh, ông H gilại 50.000.000 đng khi nào ông H lấy nhà thì chồng cho
ông H bà V s tin còn lại 50.000.000 đồng, ông H V làm bản cam kết
7
ngày 16/10/2003. Khi ông H ly nhà t ông H bà V kng thực hiện giao n
m 2005 ông H phải khởi kiện ông H bà V đòi nhà được Tòa án nhân dân
tỉnh Tin Giang giải quyết tại bản án số: 29/2005/DSPT ngày 18/01/2005
buộc ông H, bà V giao nhà đất cho ông H. Khi án hiệu lc pháp luật
quan thi hành án n sự huyện C có công văn s: 171/THA ny 21/10/2005
đề nghị Tòa án nhân dân huyện C Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang giải
thích bản án s: 29/DS-PT ny 18/01/2005 của a án nhân dân tỉnh Tiền
Giang. Ti công văn giải thích bản án ngày 24/10/2005 của a án nhân n
huyện C và ng văn s: 28/TAT ny 15/12/2005 của a án nhân n tỉnh
Tiền Giang giải thích như sau: n c o giy chuyển nhượng nhà đt
hai bên kết ngày 21/12/1999 t cận ng Đông gp Quốc l 1A thì
không thể chấp nhận bên pa phi thi hành án được chừa lại diện ch đất nào
của n nhà y. Tn sở giải thích của a án nhân dân huyện C a
án nn dân tnh Tin Giang t bản ánn s phúc thẩm s: 29 ngày
18/01/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang cũng đã công nhận phần đất
cho ông H ớng Đông giáp quc lộ 1A. Cơ quan thi nh án huyện C đã thi
nh xong vào ngày 06/12/2006 có biên bn t nguyện thi nh án (BL01)
nhưng hướng Đông lại giáp phần đất vi phm l giới chưa giáp Quốc l 1A.
Phần đt này nm trong hành lang bảo v đường b khi ông Tốt bán nhà cho
ông H bà V u t Quc l 1A o 10m ông Tốt có làm đơn xin che i
che phần phía trước xin phép Ủy ban nhân n xã A, huyện C khi nào n
nước làm nh lang l t ông tháo d, phần này bà V, ông H kng giao,
ngôi nhà ông H hướng Đông chưa giáp quc lộ 1A theo giy tay chuyển
nhượng ngày 21/12/1999 nên ông H không li đi ra Quốc l 1A. Năm
2007 ông H khởi kiện bà V và ông H đòi tiếp phần đt din ch 38,1m
2
được a án nn dân tỉnh Tin Giang giải quyết tại bản án số: 631/2007/DS-
PT ny 26/11/2007 cho rằng diện ch đất 38,1m
2
đất nằm trong phm vi
nh lang bo v đường bộ đất của nhà nước nên không chấp nhận yêu cầu
của ông H và cũng không xác định phần đt trên là của ai n t đó bà V và
ông H s dng đến nay nên ngôi nhà của ông H phải đóng cửa vì không lối
đi.
Hội đồng t xxét thy căn nhà phần đt u trên ông H đã được
Ủy ban nhân dân xã A cho đăng ký vào năm 2002 có sơ đ tổng thlà thửa s
13, t bản đ s05 diện tích là 143,5m
2
hướng Đông giáp quc lộ 1A (BL02)
thi đim này ông H bà V đã chuyển nhượng nhà đất cho ông H (t năm
1999) hướng Đông là giáp quốc lộ 1A y ban nhân n xã A chứng thực
thì nhà đt tn thuc quyền sử dụng của ông H, không n thuộc quyền s
dụng của ông H V lẽ ra ông H đi khai đăng Ủy ban nhân n
A, huyện C lại cho ông H đăng ký là kng đúng qui đnh. Tại ng văn số:
199/CV-UBND ngày 31/7/2020 của Ủy ban nn dân A huyện C (BL 94)
c nhận thửa 13, t bản đồ số 05 được ch ra 02 thửa, tha 366 diện ch
din tích là 103,8m
2
Ủy ban nn dân huyện C cấp giấy chứng nhn quyền s
dụng đất cho ông H, thửa 366 hướng Đông giáp thửa 365 tha 365 din
ch 38,11m
2
hướng đông giáp quốc l 1A toàn bộ din ch thửa 365 nm
8
trong hành lang bảo vệ đường bộ nên chưa cp giấy chứng nhận quyền s
dụng đt cho ai nên ông H bà V ng không quyền s dụng. Như theo
nhận định trên phần đất này ông H nhận chuyển nhượng theo giy tay ngày
21/12/1999 có hướng Đông giáp quốc lộ 1A thì ngôi nhà ông H mới lối ra.
Do đó phn đất thửa 365 nằm trong hành lang bảo v an toàn đường b
din tích 38,11m
2
thuộc quyền s dụng của ông H t ngày 21/12/1999 và
ng được a án nhân dân huyện C và Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang đã
gii thích bản án n spc thm số: 29 ngày 18/01/2005 ca Tòa án nhân
n tnh Tiền Giang tại các công văn đã u trên. Theo khoản 3 Điều 97 Luật
đất đai 2003 và khoản 3 Điều 157 Luật đất đai năm 2013 qui định “Người s
dụng đất được pháp luật thừa nhận đt đó nm trong hành lang bo vệ an
toàn ng tnh t đưc tiếp tc sử dụng đất theo đúng mục đích đã được xác
định không được cn tr cho vic bảo vệ an toàn công trình”. Ông H V
đã chuyển nhượng phần đất này cho ông H t năm 1999 hướng Đông giáp
quốc l 1A nhưng ông H bà V s dụng đất đến nay không đưc pháp luật
thừa nhận xây cất i che, nhà trên phn đất nm trong hành lang bảo
vệ an tn đường bộ là không đúng mục đích làm cn trở vic s dụng đất ca
ông H phần đt thuộc thửa 366 không lối đi. Trong quá trình giải quyết vụ
án Tòa án cấp sơ thm có tiến hành xem xét thẩm định, định g tài sản
ông H V cản trở việc xem xét thm đnh của a án biên bản ngày
06/3/2020 và ngày 05/6/2020 không phải tòa án cấp thẩm chưa xem xét tài
sản của V, ông H trên din tích đất 38,11m
2
, tại phiên tòa phúc thm hai
n đương s ng không u cầu xem xét thm đnh li. Do đó, Tòa án cấp
thẩm chp nhận u cầu của ông H buộc ông H, V cùng ch Thư, anh
Huy tháo d di dời i che và tn bộ tài sản trên phần đt diện tích
38,11m
2
là hành lang bo vệ an toàn đường bộ m cn tr việc s dụng đất
của ông H thửa 366 căn cứ.
Từ những pn ch nêu trên, bà V kng cáo nhưng không cung cấp
chứng c chứng minh nên Hội đồng xét xkhông chấp nhận u cầu kng
o ca bà Nguyễn Thị V.
[5] Đối với kháng ngh s: 382/QĐKNPT-VKS-DS ngày 13/10/2020 ca
Viện trưởng Viện kim sát nhân dân tỉnh Tiền Giang đ ngh Hội đồng xét x
hủy bản án sơ thẩm ca a án nhân dân huyện C cho rằng đất nm trong
nh lang an tn đường bộ đất của n nước a án giải quyết là không
đúng thm quyền. t thấy kng ngh của Viện trưởng Vin Kim sát nhân
n tnh Tiền Giang là kng p hợp vi khoản 3 Điều 97 Luật đt đai 2003
khoản 3 Điều 157 Luật đt đai năm 2013 bởi vì đất trong hành lang bảo v
đường bộ thì người s dụng đất vn tiếp tục sử dng phải đúng mục đích như
phần đất y ông H V đã chuyển nhượng cho ông H từ năm 1999 thuc
quyền sử dụng của ông H thì ông H phải s dng đúng mục đích, V ông H
đã sử dụng i che m nhà trước nhà ông H là cản trở đến việc sdụng đất
của ông H thửa 366 kng có lối đi ra Tòa án cấp thẩm gii quyết buc hộ
ông H bà V tháo d chm dứt hành vi cản tr quyền s dụng đất là đúng
9
thm quyền. Do đó Hội đồng xét x không chấp nhận kháng nghị của Viện
tởng Viện kim t nhân dân tỉnh Tin Giang.
[6] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát không phù hợp với nhận định
trên nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[7] Về án phí: Ông H, V người cao tuổi Tòa án cấp thẩm buộc
V ông H chịu án phí là không đúng theo qui định tại điểm đ khoản 1 Điều 12
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội nên ông H V được miễn án phí dân sự thẩm phúc thẩm. Do
đó Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm về án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308; khoản 9, Điều 26; Điểm a, khoản 1, Điều 35;
Điểm c, khoản 1, Điều 39; Khoản 1, Điều 147; khoản 1 điểm b, khoản 2,
Điều 227; Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ vào Điều 164, 166 và 169 của Bộ luật Dân sự.
- Căn cứ Điều 97 Luật đất đai năm 2003 Điều 157 Luật đất đai năm
2013.
- Căn cứ Điều 42 Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 02 năm
2010 của Chính Phủ.
- Căn cứ khoản 5 Điều 3 và khoản 4, Điều 43 Luật giao thông đường bộ.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị V;
Không chấp nhận kháng nghị số: 382/QĐKNPT-VKS-DS ngày 13/10/2020
của Viện trưởng Viện kim sát nhân dân tnh Tiền Giang.
Sửa một phần bn án dân s sơ thẩm số: 168/2020/DS-ST ngày 17 tháng
9 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang về án phí.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn H:
Buộc ông Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị V cùng các thành viên trong hộ
Nguyễn Bảo Thư Nguyễn Quang Huy chấm dứt hành vi cản trở quyền sử
dụng đất của ông Phạm Văn H đối với thửa đất số thửa 366, tờ bản đồ số 5, diện
tích 103,8m
2
vào scấp giấy số CH05394, ngày 18/7/2018 cấp cho nhân ông
H. Thửa đất có địa chỉ tại ấp 1, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang là tháo dở di dời
mái che (dạng nhà ở) toàn btài sản trên phần đất diện tích 38,11m
2
hành lang bảo vệ an toàn đường bộ của quốc lộ 1A, phía trước thửa đất số 366
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H có tứ cận:
- Hướng Bắc giáp Nhà thờ Tin Lành A.
10
- Hướng Nam giáp thửa đất của bà Huỳnh Thị Tuyết Dung.
- Hướng Đông giáp Quốc lộ 1A.
- Hướng Tây giáp thửa đất số 366 của ông Phạm Văn H.
(có sơ đồ đất kèm theo)
Thực hin sau khi án có hiệu lực pháp lut.
2. Về án phí: Ông Nguyễnn H, Nguyễn Thị V được miễn án phí dân s
thẩm và phúc thẩm do là người cao tuổi. Bà V được nhận lại 300.000 đồng tạm
ng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số: 0004103 ngày 06/10/2020 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
Ông Phạm Văn H được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền
tạm ứng án phí tại biên lai thu tạm ứng án phí s0002065, ngày 12/7/2019 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui đnh tại điều 2
Luật thi hành án n s thì người được thi hành án dân s, người phải thi
nh án dân scó quyền tha thuận thi hành án, quyền u cu thi hành án,
t nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo qui đnh ti c
điu 6, 7, 9 Lut thi hành án dân sự. Thời hiu thi hành án được thc hiện
theo qui định ti điều 30 Luật thi nh án dân s.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Tiền Giang;
- TAND huyện C;
- Chi cục THADS huyện C;
- Đăng cổng thông tin điện tử;
- Phòng KTNV&THA;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Kim Em
Tải về
Bản án số 20/2021/DS-PT Bản án số 20/2021/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất