Bản án số 199/2026/DS-PT ngày 30/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 199/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 199/2026/DS-PT ngày 30/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 199/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu trả nợ và xử lý tài sản thế chấp
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thu Hường.
Các Thẩm phán: Ông Lý Thơ Hiền; Bà Đinh Thị Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Khổng Thị Hoa – Thư ký TAND tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Lương Thị Diệu Anh - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 418/2025/TLPT- DS ngày 10 tháng 11
năm 2025 về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do bản án n sự thẩm số:
19/2025/DS-ST ngày 20/8/2025 của Toà án nhân dân dân khu vực 8 - Đắk Lắk bị
kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 19/2026/QĐ-PT ngày
ngày 06 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á.
Trụ sở: Số D đường N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là
phường B, Thành phố Hồ Chí Minh).
Đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P– Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình L Chức vụ: Giám đốc
phòng quản lý nợ.
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng:
1. Ông Bon Kròng K (vắng mặt).
2. Bà Nguyễn Thị Cẩm V (có mặt).
Địa chỉ: 152-154-156 Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay phường
B, tỉnh Đắk Lắk).
- Bị đơn: Lê Thị Mỹ T (Nguyễn Thị T1), sinh ngày 28/5/1967; CCCD số
066167003922 do Cục trưởng Cục cảnh sát quản lý hành chính về TTXH cấp ngày
25/8/2021. Địa chỉ: D N, TDP G, phường B, thị xã B, Đắk Lắk (Nay là phường C,
tỉnh Đắk Lắk), có mặt.
- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 199/2026/DS-PT
Ngày 30 3 2026.
V/v: Tranh chấp HĐ tín dụng”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
1. Thị Mỹ T, sinh ngày 20/8/1968; CCCD số 066168006786 do Cục
trưởng Cục cảnh sát quản hành chính vTTXH cấp ngày 08/7/2021. Địa chỉ: I N,
TDP T, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. (Nay phường B, tỉnh Đắk Lắk), mặt.
2. Ông Võ Hồng N; Địa chỉ: TDP D, phường B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. (Nay
phường C, tỉnh Đắk Lắk), vắng mặt.
3. Phòng C1, tỉnh Đắk lắk
Địa chỉ: Số 02 Quang Trung, phường Buôn Hồ, Đắk Lắk, đơn xin xét xử
vắng mặt.
4. Văn phòng Công chứng Buôn Hồ
Địa chỉ: Số G L, phường B, Đắk Lắk, vắng mặt.
5. Anh Nguyễn Thanh L1; Địa chỉ TDP E, phường B, thị xã B (N là phường
C), Đắk Lắk, vắng mặt.
Những người làm chứng:
1. Ông Văn T2; địa chỉ: I N, TDP T, phường T, thị B, tỉnh Đắk Lắk;
(Nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk), vắng mặt.
2. Ông Bùi Đình T3; Địa chỉ: Thôn I, xã C, thị B (N phường C), Đắk
Lắk, có đơn xin xét xử vắng mặt.
3. Ông Nguyễn C, sinh năm 1967; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường C, tỉnh Đắk
Lắk (vắng mặt)
4. Ông Nguyễn Tiến S, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ dân phố C, phường C, tỉnh
Đắk Lắk (vắng mặt).
5. Ông Nguyễn Quang T4, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ dân phố C, phường C,
tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).
- Người khángo: Ngân hàng thương mại cổ phần Á.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án đại diện theo uỷ quyền
của nguyên đơn trình bày:
Ngày 03/01/2018 Thị Mỹ T hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP
Á theo hợp đồng tín dụng số BUH.CN.361.271217, khế ước nhận nợ số
BUH.CN.361.271217/01 (Số tham chiếu 253340709), thỏa thuận về các điều khoản
và điều kiện tín dụng chung số BUH.CN.351.271217 để vay số tiền là 200.000.000
đồng, thời hạn vay12 tháng, lãi suất cho vay quy định cụ thể trong khế ước nhận
nợ. Ngân hàng đã giải ngân cho bà Lê ThMỹ T tổng số tiền 200.000.000 đồng theo
khế ước nhận nợ số BUH.CN.361.27121701
Ngày 07/6/2018 bà Thị Mỹ T hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP
Á theo hợp đồng tín dụng số BUH.CN.387.070618, phụ lục hợp đồng số
BUH.CN.387.070618/PL-01 ngày 07/6/2018, thỏa thuận về các điều khoản và điều
kiện tín dụng chung số BUH.CN 351.271217 để vay số tiền 400.000.000 đồng.
3
Lãi suất cho vay quy định cụ thể trong các khế ước nhận nợ. Ngân hàng đã giải ngân
cho Thị Mỹ T tổng stiến 200.000.000 đồng theo 02 khế ước nhận nợ số
BUH.CN.387.070618/01 và s BUH.CN 387.070618/02.
Ngày 07/6/2019 và ngày 12/6/2019, khoản vay theo các khế ước nhận nợ trên
lần lượt đáo hạn (kết thúc thời hạn cho vay) nhưng bà T không thanh toán cho Ngân
hàng do đó Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn lại của các khế ước nhận nợ
sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 17/6/2025 T còn nợ Ngân hàng số tiền 464.759.788 đồng,
cụ thể nợ gốc 104.999.988 đồng, nợ lãi trong hạn 17.747.008 đồng, nợ lãi qhạn
263.819.504 đồng, phạt chậm trả lãi 78.193.289 đồng (n lãi tính đến ngày
17/6/2025).
Để bảo đảm các khoản vay trên, bà Lê Thị Mỹ T đã ký các hợp đồng thế chấp
quyền sủ dụng đất, tài sản thế chấp có đặc điểm như sau:
+ Thửa đất số 144, tờ bản đồ số 33, địa chỉ: Phường T, thị B, tỉnh Đắk Lắk,
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất số A089273, số vào scấp GCN: 04357 do UBND huyện K cấp ngày
26/7/1991, cập nhật thay đổi chủ sở hữu cho bà Lê Thị Mỹ T.
+ Thửa đất s78, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Phường B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk,
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất số: BQ809973, số vào số cấp GCN CH 02998 do UBND thị xã B ngày
31/5/2018 mang tên bà Lê Thị Mỹ T.
Nay Ngân hàng TMCP Á yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Thị Mỹ T
phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền 464.759.788 đồng, cụ thể nợ gốc 104.999.988
đồng, nợ lãi trong hạn 17.747.008 đồng; nợ lãi quá hạn 263.819.504 đồng, phạt chậm
trả lãi 78.193.289 đồng (nợ lãi tính đến ngày 17/6/2025) tiếp tục tính lãi cho
đến khi bà Lê Th Mỹ Thanh thanh T5 xong nợ cho Ngân hàng.
Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp bà Lê Thị Mỹ T không thực hiện hoặc
thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi
hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp, ghi cụ thể trong hợp đồng thế chấp quyền sử
dụng đất số BUH.BĐCN.141.271217 ngày 27/12/2017 và hợp đồng thế chấp quyền
sử dụng đất số BUH.BĐCN.198.070618 ngày 07/6/2018 để thu hồi nợ cho Ngân
hàng.
- Bị đơn Thị Mỹ T (Nguyễn Thị T1) trình bày: Vào ngày 03/01/2018
và ngày 07/6/2018 tôi có ký kết hợp đồng tín dụng để vay ngân hàng TMCP Á, chi
nhánh Đ, phòng G để vay số tiền như sau: Lần 1 ký vay 200.000.000 đồng, lần 2
vay 120.000.000 đồng, lần 3 vay 80.000.000 đồng. Tổng số nợ gốc là
400.000.000 đồng. Khi vayi có thế chp 02 tài sản gm:
4
+ Thửa đất số 144, tờ bản đồ số 33, địa chỉ: Phường T, thị B, tỉnh Đắk Lắk,
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất số A089273, số vào scấp GCN: 04357 do UBND huyện K cấp ngày
26/7/1991, mang tên Nguyễn Thị H được điều chỉnh biến động tặng cho Thị
Mỹ T.
+ Thửa đất s78, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Phường B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk,
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất số: BQ809973, số vào số cấp GCN CH 02998 do UBND thị xã B ngày
31/5/2018 đứng tên bà Lê Thị Mỹ T.
Đối với thửa đất số 78, tờ bản đồ s 18 tôi không quản lý, sử dụng mà do ông
Võ Hồng N nhờ đứng tên để vay Ngân hàng. Đối với thửa đất số 144, tờ bản đồ số
33 đứng tên Nguyễn Th H, sau đó điều chỉnh biến động tặng cho tôi do vào
năm 2007 tôi có nhận cầm (thế chấp) 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 01
sổ hộ khẩu ca một người đàn ông tên B, tôi không biết họ tên, nhân thân cụ thể, sau
đó ông B vay i 37.000.000 đồng. Sau khi cầm (nhận thế chấp) của ông B thì tôi
không liên lạc được vi ông B, trong khi đó tôi giữ lại GCNQSD đất và sổ hộ
khẩu của Nguyễn Thị H. Trong sổ hộ khẩu có ghi tên con gái H là bà Thị
Mỹ T, sinh năm 1966, trong khi đó tôi cũng tên T nên năm 2017 tôi lấy sổ hộ khẩu
này lên Công an thị xã B để làm chứng minh nhân dân mới mang tên Lê Thị Mỹ T,
sinh năm 1966. Đến ngày 21/9/2017 ttôi được cấp chứng minh nhân dân mới. Sau
đó đến năm 2019 thì chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu mang tên Lê Thị Mỹ T đã
được Công an thu hồi, còn ai thu hồi thì tôi không rõ. Sau khi có chứng minh nhân
dân mới mang tên Lê Thị Mỹ T, nhờ sự giúp đỡ của bà Trần Thị Bích L2 (không rõ
địa chỉ), bà L2 đưa tôi đi làm thủ tục tặng cho tôi đối với lô đất trên ti Văn phòng
C3 ngày 16/10/2017. Mọi thủ tục liên quan L2 tự liên hệ cho tôi. Sau đó tôi đã
dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này để vay vốn ti Ngân hàng, chứ tôi
không quản lý sử dụng lô đất này.
Tôi biết việc tự ý làm CMND mang tên Lê Thị Mỹ T, sinh năm 1966 từ sổ hộ
khẩu của bà Nguyễn Thị H và làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất mang tên Lê
Thị Mỹ T, sinh năm 1966 mang đi vay vốn tại Ngân hàng là sai nên xin cho tôi
thời gian để rút GCNQSDĐ tNgân hàng ra để trả cho Thị Mỹ T người
đang trực tiếp quản lý, sử dụng và là chủ sỡ hữu đối với lô đất này. Đối với thửa đất
số 78, tờ bn đồ số 18 tôi không quản lý, sử dụng mà do ông Võ Hồng N nhờ đứng
tên để vay Ngân hàng.
Nay Ngân hàng TMCP Á yêu cầu Tòa án giải quyết buộc tôi Thị Mỹ T
(Nguyễn Thị T1) phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền 464.759.788 đồng, cụ thể nợ
gốc 104.999.988 đồng, n lãi trong hạn 17.747.008 đồng; nợ lãi quá hạn
263.819.504 đồng, phạt chậm trả lãi 78.193.289 đồng (nợ lãi tính đến ngày
5
17/6/2025) và tiếp tục tính lãi cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân hàng thì tôi
đồng ý nhưng xin thời gian để trả.
Về xử lý tài sn thế chấp: Hiện tại tôi không quản lý, sử dụng đối với các tài
sản đã thế chấp cho Ngân hàng vì không phải tài sản của tôi. Đề nghị Tòa án giải
quyết theo quy định.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Thị Mỹ T trình bày:
Giữa tôi Thị Mỹ T, (tên gọi khác Nguyễn Thị T1) không mối quan hệ
gì, tôi con ruột của Nguyễn Thị H. đất điện tích 860 m2 tại số I N, phường
T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk hiện nay do tôi là Lê Thị Mỹ T, sinh năm 1968 đang quản
lý sử dụng. Thửa đất này nguồn gốc là của mẹ tôi tên Nguyễn Thị H thửa đất này
đã được UBND huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A089273 đất
đứng tên mẹ tôi là Nguyễn Thị H vào ngày 26/7/1991. Đến khoảng năm 2000 thì
H bị mất toàn b giấy từ gốc bao gồm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên
Nguyễn Thị H. Sau khi mất có báo cho công an phường T để xin làm lại giấy tờ
nhưng vẫn chưa làm được. Đến khoảng đầu năm 2015 tôi nhận được điện thoại
của một người lạ nói đã nhặt được giấy t của mẹ tôi yêu cầu gia đình tôi chuộc
lại, nhưng tôi không có tiền nên không chuộc được. Đến năm 2018 thì tôi mới biết
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên mtôi đã được chuyển sang tên cho
một bà tên là Lê Thị Mỹ T, sinh năm 1966 (tên gọi khác Nguyễn ThT1) và đem tài
sản thế chấp tại ngân hàng TMCP Á, khi biết sự việc thì tôi có khởi kiện lên Tòa án
giải quyết vụ việc nhưng bà Thị Mỹ T, sinh năm 1966 xin tôi cam kết sẽ trả
nợ cho Ngân hàng và làm thủ tục sang tên lại cho tôi thì tôi đồng ý rút yêu cầu. Việc
vay ợn giữa Thị Mỹ T, sinh năm 1966 (tên gọi khác Nguyễn Thị T1) với
ngân hàng TMCP Á bản thân tôi hoàn toàn không biết, cũng không việc Ngân
hàng TMCP Á xuống nhà tôi thẩm định tài sản để vay tiền. Nay ngân hàng TMCP
Á khởi kiện đòi tiền nợ của Thị Mỹ T, sinh năm 1966 (tên gọi khác Nguyễn
Thị T1) đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với tái sản thế
chấp thửa đất số 144, tbản đồ số 33 với điện tích 860 m2 tọa lạc tại số I N,
phường T, thị B tài sản của mtôi Nguyễn Thị H gia đình tôi cũng
không lấy tài sản này ra làm tài sn thế chấp nên tôi đề nghị Tòa án xem xét giải
quyết bảo vệ cho tôi.
- Qúa trình giải quyết ván người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Thanh L1 tnh bày:
Vào năm 2017 tôi mua 01 đất của ông Bùi Đình T3 nằm tại khu vực đèo
H thuộc TDP E, phường B, thị xã B, Đắk Lắk. Diện tích đất cụ thể không rõ vì mua
bán hai bên không đo đạc, chỉ viết giấy sang nhượng tay chưa được nhà nước
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. đất tôi mua hiện nay đang quản lý,
sử dụng thửa đất số 78, tbản đồ s18, địa chphường B, thị B, Đắk Lắk, theo
giấy chứng nhn quyền sử dụng đất, quyền sỡ hữu nhà và tài sản khác gắn lin với
6
đất số BQ809973, số vào sổ cấp GCN CH 02998 do UBND thị xã B ngày 31/5/2018
mang tên Thị Mỹ T. do tôi đang quản sử dụng đứng tên Thị
Mỹ T do tôi có mang giấy tờ sang nhượng đất bản gốc cho anh Hồng N mục
đích nhờ anh N làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh N hẹn 06
tháng có bìa đỏ nhưng sau đó tôi có hỏi thì anh N cứ hẹn và sau nàyi mới biết lô
đất trên mang tên bà Thị Mỹ T đang thế chấp Ngân hàng. Nay Ngân hàng yêu
cầu xử lý đối với tài sản thế chp thì tôi không đồng ý.
- Tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông
Hồng N trình bày: Tôi và bà Lê Thị Mỹ T (Nguyễn Th T1) có mối quan hệ quen
biết. Vào khoảng năm 2017 anh Nguyễn Thanh L1 nhờ tôi làm thủ tục cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, tôi hẹn 06 tháng có bìa đỏ nhưng sau đó tôi đã làm
thủ tục sang tên lô đất mang tên bà Lê Thị Mỹ T và thế chấp cho Ngân hàng để vay
vốn. Thực tế tôi không phải là người đang quản lý sử dụng thửa đất số 78, tờ bản đồ
số 18 địa chỉ: Phường B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Nay Ngân hàng TMCP Á yêu cho
Tòa án giải quyết buộc Thị Mỹ T phải trả ncho Ngân hàng tổng số tiền
464.759.788 đồng, cụ thể nợ gốc 104.999.998 đồng, nợ lãi trong hạn 17.747.008
đồng, nợ lãi quá hạn 263.819.504 đồng, phạt chậm trả lãi 78.193.289 đồng (nợ lãi
tính đến ngày 17/6/2025) và tiếp tục tính lãi cho đến khi bà Lê Thị Mỹ Thanh thanh
T5 xong nợ cho Ngân hàng thì tôi không có ý kiến gì. Về khoản nợ và việc tôi nhờ
T đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ809973 giữa tôi
Lê Thị Mỹ T tôi không yêu cầu trong vụ án này.
- Quá trình giải quyết vụ án đại diện Văn phòng C4 trình bày: Các hồ sơ,
tài liệu do phòng công chứng thực hiện đều thực hiện đúng trình tự thủ tục pháp luật.
Phòng C1 không có yêu cầu gì trong vụ án.
- Quá trình giải quyết vụ án ông Bùi Đình T3 trình bày: Vào năm 2017 tôi
bán 01 thửa đất cho ông Nguyễn Thanh L1, đất nằm khu vực đèo H thuộc
TDP E, phường B, thị xã B, Đắk Lắk. Diện tích đất cụ thể không rõ vì mua bán hai
bên không do đạcchỉ viết giấy sang nợng taychưa được Nhà nước cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Lô đất hiện nay do anh L1 đang quản lý, sử dụng là
thửa đất số 78, tờ bn đồ số 18, địa ch phường B, thị xã B, Đắk Lắk.
- Đối với Văn phòng C3, ông Văn T2 mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp
lệ nhưng vắng mặt không do nên Toà án không tiến hành hành lấy lời khai,
kiểm tra giao nộp chứng cứ và hoà giải với Văn phòng C3, ông Lê Văn T2 được.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2025/DS - ST ngày 20/8/2025 của T
án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk đã quyết định:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227,
khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự điểm b khỏan 1 Điều 5 Nghị quyết
01/2025/NQ-HDTP, ngày 27/6/2025 của Hi đồng thẩm phán TANDTC.
- Căn cứ Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng.
7
- Căn cứ các Điều 116, 117, 122, 127, 463; 466 B Luật dân sự.
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc Hội quy đnh về án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương
mại cổ phần Á.
Buộc Thị Mỹ T phải nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ
phần Á tổng số tiền tính đến ngày 17/6/2025 464.759.788 đồng, cụ thể nợ gốc
104.999.988 đồng, nợ lãi trong hạn 17.747.008 đồng; nợ lãi quá hạn 263.819.504
đồng, phạt chậm trả lãi 78.193.289 đồng tiếp tục tính lãi suất theo hợp đồng tín
dụng từ ngày 18/6/2025 cho đến khi Thị Mỹ Thanh thanh T5 xong nợ cho
Ngân hàng.
2. Tuyên hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số BUH.BĐCN.141.271217
ngày 27/12/2017 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
BUH.BĐCN.198.070618 ngày 07/6/2018, đối với các thửa đất số 144, tờ bản đồ số
33, đa chỉ: Phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số A089273, do UBND
huyện K cấp ngày 26/7/1991 mang tên Nguyễn Thị H được điều chỉnh biến động
tặng cho bà Lê Thị Mỹ T và thửa đất số 78, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Phường B, thị
B, tỉnh Đắk Lắk, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số: BQ809973, do UBND thị xã B ngày 31/5/2018
mang tên bà Lê Thị Mỹ T giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Á và bà Lê Th Mỹ
T vô hiệu.
Về hậu quả của hợp đồng thế chấp vô hiệu: Việc giải quyết hậu quả của hợp
đồng vô hiệu giữa bà Lê Thị Mỹ T, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Thanh L1 và bà
Lê Thị Mỹ T (Nguyn Thị T1) sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi các bên
có yêu cầu.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo cho các đương sự theo quy định của pháp lut.
Ngày 03/9/2025, Ngân hàng TMCP Á đơn kháng cáo với nội dung: Đề
nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét toàn bộ bản án thẩm số 19/2025/DS ST ngày
20/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 8 – Đắk Lắk.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện,
đồng thời xác nhận Ngân hàng khởi kiện đối với bà Lê Thị Mỹ T, tên thật Nguyễn
Thị T1, sinh ngày 28/5/1967; CCCD số 066167003922 do Cục trưởng Cục cảnh sát
quản HC về TTXH cấp ngày 25/8/2021 địa chỉ thường trú tại D N, TDP G,
phường B, thị B, Đắk Lắk (Nay phường C, tỉnh Đắk Lắk). Ngân hàng chỉ kháng
cáo một phần bản án thẩm về nội dung cấp thẩm tuyên hợp đồng thế chấp
8
quyền sử dụng đất hiệu. Phần nội dung buộc Thị Mỹ T (Nguyễn Thị T1)
trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng đồng ý, không kháng cáo.
* Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lk:
Về tố tụng: Các đương sự trong ván, Thư , Thẩm phán Hội đồng xét
xử phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định ca Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu có trong hvụ án, lời trình bày của các
đương sự, lời khai những người làm chứng thì việc Ngân hàng nhận thế chấp các tài
sản gồm: Thửa đất số 144, tờ bản đồ số 33, địa chỉ: Phường T, thị B, tỉnh Đắk
Lắk, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số A089273, số vào số cấp GCN: 04357 do UBND huyện K cấp
ngày 26/7/1991 mang tên Nguyễn Thị H, được điều chỉnh biến động tặng cho bà
Thị Mỹ T và Thửa đất số 78, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Phường B, thị xã B, tỉnh Đắk
Lắk, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số: BQ809973, số vào số cấp GCN CH 02998 do UBND thị B
ngày 31/5/2018 mang tên Thị Mỹ T là không đảm bảo, bị đơn Thị Mỹ
T (Nguyễn Thị T1) chỉ người đứng tên trên GCNQSD đất, không phải là chủ sử
dụng đất, không quyền thế chấp tài sản. Khi nhận thế chấp, Thị Mỹ T
(Nguyễn Thị T1) không quản lý, sử dụng đất nhưng Ngân hàng không phát hiện ra.
vậy, cấp thẩm tuyên hợp đồng thế chấp tài sản vô hiệu căn cứ. Đề nghị
hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên quyết định
của án thẩm. Các quyết định khác của án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về nội dung:
Năm 2018, Nguyễn Th T1 địa chthường trú tại số D N, TDP G, phường
B, thị B, Đắk Lắk sử dụng Chứng minh nhân dân tên Thị Mỹ T, năm sinh:
1966, số CMND 240270731 do Công an Đ1 cấp ngày 21/9/2017 để ký kết các hợp
đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP Á. Cụ thể hợp đồng tín dụng số
BUH.CN.361.271217 ngày 03/01/2018, để vay stiền 200.000.000 đồng, thời
hạn vay 12 tháng Hợp đồng tín dụng số BUH.CN.387.070618 ngày 07/6/2018,
phụ lục hợp đồng số BUH.CN.387.070618/PL-01 ngày 07/6/2018, để vay số tiền là
400.000.000 đồng. Lãi suất cho vay quy định cụ thtrong các khế ước nhận nợ.
Ngân hàng đã giải ngân cho bà Lê Thị Mỹ T (tức Nguyễn Thị T1) tổng số tiến
400.000.000 đồng theo khế ước nhận n số BUH.CN.361.27121701,
BUH.CN.387.070618/01 và BUH.CN 387.070618/02.
9
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Thị Mỹ T (Nguyễn Thị T1) vi phạm
nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện. Cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn, buộc Lê Thị Mỹ T (Nguyễn Thị T1) phải có nghĩa vụ
trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á tổng số tiền tính đến ngày 17/6/2025
464.759.788 đồng, cụ thể nợ gốc 104.999.988 đồng, nợ lãi trong hạn 17.747.008
đồng; nợ lãi quá hạn 263.819.504 đồng, phạt chậm trả lãi là 78.193.289 đồng tiếp
tục tính lãi suất theo hợp đồng tín dụng từ ngày 18/6/2025 cho đến khi bà Lê Thị Mỹ
T (Nguyễn Thị T1) thanh toán xong nợ cho Ngân hàng. Nội dung này không bị
kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm không
xem xét.
Họ tên người vay trong Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp Thị Mỹ
T”, do Nguyễn Thị T1 sử dụng sổ hộ khẩu của Nguyễn Thị H để đăng
cấp CMND mang tên Lê Thị Mỹ T, sinh năm 1966, địa chỉ cư trú tại phường T, thị
B dùng thông tin này Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp với Ngân
hàng. Nguyễn Thị T1 khai đã cùng bà Trần Thị Bích L2 (không địa chỉ) thực hin
thủ tục tặng cho Thửa đất số 144, tờ bản đồ số 33, địa chỉ: Phường T, thị xã B, tỉnh
Đắk Lắk, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số A089273 do UBND huyện K cấp ngày 26/7/1991 mang tên
Nguyễn Thị H tại n phòng C3, sau khi sang tên đã dùng Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất này để thế chấp vay vốn tại Ngân hàng. Hành vi của Nguyễn Thị T1 có
dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự, Lê Thị Mỹ T (sinh năm 1968) đã có đơn tố
giác gửi cơ quan CSĐT Công an thị xã B, do đó kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra
Công an tỉnh Đ1 xem xét theo quy định.
Ngân hàng khởi kiện bà Lê Thị Mỹ T (Nguyễn Thị T1) có địa chỉ cư trú tại số
D N, TDP G, phường B, thị B, tỉnh Đắk Lắk đúng đối tượng, đúng địa chỉ
người Hợp đồng nhận tiền, nên cấp thẩm xem xét giải quyết trách nhiệm
dân scủa Nguyễn Thị T1 theo Hợp đồng tín dụng đã phù hợp, đảm bảo quyền
lợi của Ngân hàng. Để tránh vướng mắc khi thi hành án, cần bổ sung thông tin của
bị đơn theon cước công dân mà bị đơn xuất trình tại phiên tòa phúc thẩm.
[2] Xét kháng o của Ngân hàng đnghị công nhận các hợp đồng thế chấp
để Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý thu hồi nợ, Hội đồng
xét xử xét thấy:
[2.1] Để bảo đảm các khoản vay trên, bà Lê Thị Mỹ T (tên thật là Nguyễn Thị
T1) đã các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất sBUH. BĐCN.141.271217
ngày 27/12/2017 số BUH.BĐCN.198.070618 ngày 07/6/2018. Tài sản thế chấp
gồm:
+ Thửa đất số 144, tờ bản đồ s 33, địa chỉ: Phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk,
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất số A089273, số vào scấp GCN: 04357 do UBND huyện K cấp ngày
10
26/7/1991 mang tên Nguyễn Thị H, được điều chỉnh biến động tặng cho Thị
Mỹ T.
+ Thửa đất số 78, tờ bn đồ s 18, đa chỉ: Phường B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk,
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất số: BQ809973, số vào số cấp GCN CH 02998 do UBND thị xã B ngày
31/5/2018 mang tên bà Lê Thị Mỹ T.
[2.2] Đối với tài sản thế chấp là thửa đất số 78, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Phường
B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, xét thấy:
Ông Nguyễn Thanh L1 khai mua lô đất trên từ năm 2017 từ ông Bùi Đình T3,
sau đó ông L1 nhông Hồng N (cán bộ địa chính phường B trước đây) m
thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với đất này và đưa toàn bộ giấy
tờ liên quan cho ông Võ Hồng N, ông L1 vẫn là người quản lý, sử dụng đất. Trước
phiên tòa sơ thẩm, ông Hồng Nguyên K1 thửa đất số 78, tờ bản đồ số 18 là của
ông N nhờ Nguyễn Thị T1 (Thị Mỹ T) đứng tên vay vốn Ngân hàng nhưng
không chứng cứ chứng minh thửa đất s78, tờ bản đồ số 18 là của ông. Tại phiên
tòa thẩm, ông Võ Hồng Nguyên K1 Năm 2017, anh Nguyễn Thanh L1 nhờ
tôi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tôi hẹn 06 tháng bìa đỏ
nhưng sau đó tôi đã làm thủ tục sang tên đất mang tên bà Lê Thị Mỹ T thế chấp
cho Ngân hàng để vay vốn. Thực tế tôi không phải người đang quản sử dụng
thửa đất số 78, tờ bn đồ số 18”.
Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã ủy thác cho cấp thẩm lấy lời khai của
những người sử dụng đất liền kề, những người này đều khai: thửa đất số 78 nêu trên
trước đây là của vợ chồng ông T6, bà V1 chuyển nhượng cho ông Bùi Đình T3, sau
đó ông Bùi Đình T3 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thanh L1, hiện nay đang do
ông Nguyễn Thanh L1 quản lý, sử dụng. Ông Bùi Đình T3 cũng xác nhận là người
chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Thanh L1, đồng thời cung cấp giấy trả tiền đất
rẫy” giữa người mua ông Bùi Đình T3 người bán vợ chồng ông Nguyễn Văn
T6. Như vậy, Thị Mỹ T (Nguyễn Thị T1) chỉ người đng tên trên GCNQSD
đối với thửa đất số 78, tờ bn đồ số 18, không phải là chủ sử dụng đất, cũng không
quản lý, canh tác.
[2.3] Đối với tài sản thế chp thửa đất số 144, tờ bản đồ số 33, địa chỉ:
Phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, xét thấy:
Quá trình xác minh xác định, thửa đất số 144, tờ bản đồ số 33 được UBND
huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất sA089273, số vào số cấp GCN: 04357 ngày 26/7/1991 cho
Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H chưa tặng cho ai. Thửa đất trên do Nguyễn
Thị Hsau này con gái bà H là Lê Thị Mỹ Thanh quản L3, sử dụng. Bị đơn bà
Thị Mỹ T (Nguyễn Thị T1) cũng khai nhận không được tặng cho đất, không quản lý
sử dụng đối với thửa đất trên.
11
[2.4] Như vậy, Thị Mỹ T (Nguyễn Thị T1) không phải là chủ sử dụng
đất, nên không có quyền thế chấp tài sản. Khi ký hợp đồng thế chấp, Thị Mỹ
T (Nguyễn Thị T1) đã che dấu tng tin cho người nhận thế chấp. Tuy nhiên, Ngân
hàng có thiếu sót khi tiến hành thẩm định tài sản nên đã không phát hiện ra và nhận
thế chấp không đảm bảo. Người tài sản vẫn đang quản lý, sử dụng đất nên cần
được pháp luật bảo vệ. Cấp thẩm tuyên hợp đồng thế chấp tài sản hiệu
căn cứ. Quá trình cấp sơ thẩm giải quyết vụ án, ông Nguyễn Thanh L1Lê Thị
Mỹ T (con gái bà Nguyễn Thị H) đã có đơn tố giác tội phạm gửi Cơ quan Cảnh sát
điều tra Công an thị xã B.
[3] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xphúc thẩm t thấy án
thẩm đã giải quyết đúng quy định pháp luật. Do đó, không căn cứ chấp nhận
kháng cáo của nguyên đơn, cần giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không được chấp nhận đơn kháng cáo
nên Ngân hàng Thương mại cổ phần Á phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á. Giữ
nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 98/2025/DS-ST, ngày 15/9/2025 của Toà án nhân
dân khu vực 8 - Đắk Lắk.
[2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á phải chịu
300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Được khu trừ vào số tin 300.000 đồng
Ngân hàng đã nộp (do ông Bùi Đức T7 nộp thay) tại Thi hành án dân sự tỉnh Đ theo
biên lai số 0000653 ngày 08 tháng 9 năm 2025.
[3] Các quyết định khác của án thẩm không kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDTC tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- CQCSĐT CA tỉnh Đắk Lắk;
- TAND Khu vực 8;
- Phòng THADS Khu vực 8;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Lưu Thị Thu Hường
Tải về
Bản án số 199/2026/DS-PT Bản án số 199/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 199/2026/DS-PT Bản án số 199/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất