Bản án số 19/2023/HNGĐ-ST ngày 30/11/2023 của TAND huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 19/2023/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 19/2023/HNGĐ-ST ngày 30/11/2023 của TAND huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Krông Bông (TAND tỉnh Đắk Lắk)
Số hiệu: 19/2023/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/11/2023
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Th và anh Lê Viết Th tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã HL, KB, Đắk Lắk vào năm 2012. Do vậy, hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Lê Viết Th là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, cuộc sống của hai vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nên từ năm 2013 đến nay, chị Nguyễn Thị Th và anh Lê Viết Th không còn chung sống với nhau, không có sự quan tâm, chăm sóc nhau. Mặc dù vậy, nhiều lần Toà án triệu tập anh Lê Viết Th lên Toà án để làm việc nhưng anh Lê Viết Th không lên làm việc, không có thiện chí hoà giải để hàn gắn hạnh phúc gia đình.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG BÔNG
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 19/2023/HNGĐ-ST
Ngày : 30/11/2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Huế
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Văn Hoè và ông Phạm Văn Lịch
Thư ký phiên tòa: Trần Thị Tuyết Nga Thư Tòa án nhân dân huyện
Krông Bông.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông, Đắk Lắk: Bà Phạm Thị
Thanh Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Bông,
xét xử thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ số 128/2023/TLST- HN
ngày 04 tháng 8 m 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 20/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/10/2023 Quyết định
hoãn phiên tòa số: 39/2023/QĐST – HNGĐ ngày 14/11/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Th, sinh năm: 1983 ( có mặt)
Địa chỉ: Thôn B, HL, KB, tỉnh Đắk Lắk
- Bị đơn: Lê Viết Th, sinh năm: 1982 ( vắng mặt)
Đồng trú tại : Thôn A, HL, KB, tỉnh Đắk Lắk
NHẬN THẤY
Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai các biên bản làm việc ng như tại
phiên toà, chị Nguyễn Thị Thtrình bày:
Về hôn nhân : Tôi anh Viết Th tự nguyện kết hôn với nhau, chúng tôi
đã đăng kết hôn tại UBND HL, KB, Đắk Lắk vào m 2012. vợ chồng
mâu thuẫn với nhau từ m 2013 đến nay, tôi anh Viết Th không còn
chung sống với nhau, không có sự quan tâm, chăm sóc nhau.
Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hoà hợp để duy trì hạnh
phúc gia đình nên tôi đề nghị Toà án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk
giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Lê Viết Th .
Về con chung : Tôi anh Viết Th 01 người con chung, tên Thị
Ánh O, sinh ngày 26/10/2012. Từ nhỏ, tôi đã một mình chăm sóc con, anh Lê Viết
Th không quan tâm, hỏi han gì đến con. Vì vậy, khi ly hôn, nguyện vọng của tôi
được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lê Thị Ánh O, sinh ngày 26/10/2012.
Về cấp ỡng nuôi con tài sản chung : Tôi không yêu cầu Toà án giải
quyết.
Về án phí: Tôi tự nguyện chịu trách nhiệm nộp toàn bộ án phí Hôn nhân
gia đình theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Lê Viết Th không đến Toà án để làm việc, chị
Nguyễn Thị Th cho biết anh Viết Th hiện đang đi làm ăn sinh sống tại thôn
A, TN, huyện BĐ, Bình Phước. Lâu lâu mới về nhà bố mẹ tại thôn A, HL, KB,
tỉnh Đắk Lắk
Tại biên bản xác minh ngày 18/7/2023 của Toà án nhân dân huyện BĐ, Bình
Phước, công an TN, BĐ, Bình Phước cho biết: Anh Viết Th, sinh ngày
01/10/1982 có đăng tạm trú tại thôn A, xã TN, huyn BĐ, tỉnh Bình Phước. Thời
gian tạm trú từ ngày 12/11/2022 đến ngày 10/11/2024. Cách đây khoảng 02 tháng,
anh Viết Th trả phòng trọ đi khỏi địa phương. Khi đi anh Viết Th không
khai báo với địa phương nên địa phương không biết anh Lê Viết Th đi đâu, làm gì.
Liên lạc qua số điện thoại 0345 845 894, anh Viết Th cho biết hiện nay đang đi
làm tự do tại Thành phố Hồ Chí Minh, không có nơi cư trú ổn định. Tuy nhiên, anh
vẫn đi về nhà bố mẹ ruột tại thôn A, HL, KB, tỉnh Đắk Lắk không còn trở về
thôn A, xã TN, BĐ, Bình Phước để sinh sống nữa.
Tại biên bản xác minh ngày 03/8/2023 ngày 07/8/2023, thôn trưởng thôn
A, HL, KB, tỉnh Đắk Lắk cho biết: Anh Viết Th hộ khẩu thường trú tại thôn
A, HL, KB, tỉnh Đắk Lắk, anh Viết Th thường đi m ăn xa cũng thường
xuyên về nhà bmẹ đẻ tại thôn A, HL, KB, tỉnh Đắk Lắk. Anh Viết Th và ch
Nguyễn Thị Th kết hôn với nhau nhưng hai người chỉ sống chung với nhau khoảng
01 năm thì không chung sống với nhau nữa. Sau khi không sống chung với chị
Nguyễn Thị Th tanh Viết Th sống chung với một vài người phụ nữ khác.
Hiện nay, anh Viết Th đi m ăn xa không mặt tại địa phương. Tôi cũng đã
gọi điện báo cho anh Thiện biết về việc Nguyễn Thị Th làm đơn xin ly hôn với
anh và Toà án nhân dân huyện Krông Bông, Đăk Lăk đang giải quyết vụ án nhưng
anh Lê Viết Th nói không về làm việc được vì bận công việc.
Tại biên bản xác minh ngày 7/8/2023, công an HL, KB , tỉnh Đắk Lắk cho
biết: Anh Viết Th đăng hộ khẩu thường trú tại địa phương thôn A, HL,
KB, tỉnh Đắk Lắk. Theo thông tin trên cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì ông
Viết Th đăng tạm ttại thôn A, TN, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước. Khoảng
thời gian gần đây, ông Viết Th không trở lại địa phương, thôn A, HL, KB, tỉnh
Đắk Lắk. Ông Viết Th hiện nay đi đâu, làm không báo với chính quyền địa
phương nên chúng tôi không biết.
Tại bản tự khai ngày 25/10/2023, cháu Thị Ánh O trình bày: Khi cha mẹ
cháu ly hôn thì cháu muốn ở với mẹ vì cháu ở với mẹ từ nhỏ.
Tại phiên toà:
Chị Nguyễn Thị Th ginguyên quan điểm mong muốn ly hôn với anh
Viết Th được trực tiếp nuôi ỡng con chung Thị Ánh O. Chị không yêu
cầu Toà án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông tham gia
phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án của Thẩm phán từ khi thlý vụ án theo đúng thẩm quyền, xác định mối
quan hệ tranh chấp, những người tham gia tố tụng đúng, đủ; tiến hành thu thập
chứng cứ, hoà giải, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng, chuyển
hồ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu Thẩm phán đã chấp hành đúng với quy
định tại Điều 48 BLTTDS và tiến hành các hoạt động tố tụng khác khi giải quyết vụ
án theo đúng quy định của BLTTDS; Đối với thành phần Hội đồng xét xử không
thành viên nào thuộc trường hợp phải thay đổi, việc hỏi tại phiên tòa, thời hạn
xét xử cũng như thủ tục tống đạt được đảm bảo đúng các quy định của BLTTDS về
phiên toà sơ thẩm.
Về nội dung: Áp dụng khoản 4 Điều 147; Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82 83 Luật Hôn nhân gia đình; Áp dụng điểm
đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Qua lời trình y của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ
trong hồvụ án, thấy rằng: Chị Nguyễn Thị Th và anh Viết Th tự nguyện kết
hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã HL, KB, Đắk Lắk vào năm 2012.
Do vậy, hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Th anh Viết Th là hôn nhân hợp pháp.
Tuy nhiên, cuộc sống của hai vchồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nên từ m
2013 đến nay, chị Nguyễn Thị Th anh Viết Th không còn chung sống với
nhau, không có sự quan tâm, chăm sóc nhau.
Mặc vậy, nhiều lần Toà án đã triệu tập anh Lê Viết Th lên làm việc nhưng
anh Viết Th không lên Toà án để làm việc, anh Viết Th không thiện chí
hoà giải để hàn gắn hạnh phúc gia đình.
Nhận thấy, trong một thời gian dài mà chị Nguyễn Thị Thvà anh Lê Viết Th
không thể tự hoà giải để hàn gắn hạnh phúc gia đình được. Do vậy, đề nghị Hội
đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Th.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Th và anh Lê Viết Th có 01 người con chung,
tên Thị Ánh O, sinh ngày 26/10/2012. Khi ly hôn, chị Nguyễn Thị Th
nguyện vọng được trực tiếp nuôi con, cháu Thị Ánh O nguyện vọng được
với mẹ khi cha mẹ cháu ly hôn vì từ nhỏ cháu được mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc.
Để đảm bảo quyền lợi cho người con chưa thành niên. Đề nghị Hội đồng xét
xử giao con chung là Lê Thị Ánh O , sinh ngày 26/10/2012 cho chị Nguyễn Thị Th
trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Th không yêu cầu
Toà án giải quyết. Vì vậy, không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình y và xác
nhận của đương sự trước phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét
tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị Th yêu cầu Tòa án giải quyết “Ly hôn,
tranh chấp về nuôi con ” với anh Lê Viết Th. Các đương sự đều có hộ khẩu thường
trú tại HL, KB, tỉnh Đăk Lăk. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân huyện Krông Bông theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a
khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
* Về tố tụng: Tại phiên tòa ngàym nay, anh Lê Viết Th không đến tham
dự phiên tòa nhưng đây là lần thứ hai phiên toà được mở. Do vậy, căn cứ vào Điều
227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện
Krông Bông, Đăk Lăk vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Qua lời trình y của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ
trong hồvụ án, thấy rằng: Chị Nguyễn Thị Th và anh Viết Th tự nguyện kết
hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã HL, KB, Đắk Lắk vào năm 2012.
Do vậy, hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Th anh Viết Th là hôn nhân hợp pháp.
Tuy nhiên, cuộc sống của hai vchồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nên từ m
2013 đến nay, chị Nguyễn Thị Th anh Viết Th không còn chung sống với
nhau, không có sự quan tâm, chăm sóc nhau.
Mặc vậy, nhiều lần Toà án triệu tập anh Viết Th lên Toà án để làm
việc nhưng anh Viết Th không lên làm việc, không thiện chí hoà giải để hàn
gắn hạnh phúc gia đình.
Nhận thấy, trong một thời gian dài mà chị Nguyễn Thị Th và anh Lê Viết Th
không thể tự hoà giải để hàn gắn hạnh phúc gia đình được. Do vậy, cần chấp nhận
đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Th đối với anh Lê Viết Th.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Th và anh Lê Viết Th có 01 người con chung,
tên Thị Ánh O , sinh ngày 26/10/2012. Khi ly hôn, chị Nguyễn Thị Th
nguyện vọng được trực tiếp nuôi con, cháu Thị Ánh O nguyện vọng được
với mẹ khi cha mẹ cháu ly hôn vì từ nhỏ cháu được mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc.
Để đảm bảo quyền lợi cho người con chưa thành niên. Cần giao con chung
Lê Thị Ánh O , sinh ngày 26/10/2012 cho chị Nguyễn Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Th không yêu cầu
Toà án giải quyết. Vì vậy, không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Th tự nguyện chịu trách nhiệm nộp án phí Hôn
nhân và gia đình sơ thẩm nhưng chị Nguyễn Thị Th là cá nhân thuộc hộ nghèo, chị
Nguyễn Thị Th cũng đã có đơn xin miễn, giảm tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ
thẩm. vậy, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn
toàn bộ tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho chị Nguyễn Thị Th.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; Điều 48; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 278 khoản 4 Điều
147 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân
và gia đình;
- Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị
Th về việc xin ly hôn với anh Lê Viết Th .
Giấy chứng nhận kết hôn số 59 , ngày 10/12/2012 do y ban nhân dân
HL, KB, tỉnh Đắk Lắk cấp cho chị Nguyễn Thị Th và anh Lê Viết Th hết hiệu lực
kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
[2] Về con chung:
Giao con chung Thị Ánh O , sinh ngày 26/10/2012 cho chị Nguyễn Thị
Th trực tiếp nuôi dưỡng.
Về án phí: Miễn toàn bộ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho chị Nguyễn
Thị Th
[3] Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười m ngày kể từ
ngày tuyên án .
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười
lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND H. Krông Bông;
- Chi cục THADS;
- Các đương sự;
- UBND xã Hoà Lễ ;
- Lưu HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trương Thị Huế
Tải về
Bản án số 19/2023/HNGĐ-ST Bản án số 19/2023/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất