Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 15/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 18/2025/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 15/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 3 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên |
| Số hiệu: | 18/2025/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 15/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Lò Thị B + Lò Văn Đ |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST
Ngày 15-9-2025.
V/v: Ly hôn.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Việt Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cà Văn Ngọc và bà Bạc Thị Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Giàng A Tằng, Thẩm phán Tòa án nhân dân khu vực
3 - Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
khu vực 3 - Điện Biên tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Điện Biên
xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 95/2025/TLST-HN&GĐ ngày 13
tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-
HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2025/QĐST-
HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị B, sinh năm 1991; địa chỉ: Bản V, xã C, huyện T,
tỉnh Điện Biên (nay là bản V, xã B, tỉnh Điện Biên) - Có đơn đề nghị xét xử vắng
mặt.
2. Bị đơn: Anh Cà Văn D, sinh năm 1991. Nơi ĐKTT: Bản V, xã C, huyện T,
tỉnh Điện Biên (nay là bản V, xã B, tỉnh Điện Biên). Nơi ở hiện nay: Bản Đ, xã S,
tỉnh Điện Biên) - Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 11/6/2025 và bản tự khai nguyên đơn chị Lò
Thị B trình bày:
Về hôn nhân: Chị Lò Thị B và anh Cà Văn D đăng ký kết hôn ngày 26/3/2024
tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên (nay là Ủy ban nhân dân xã B,
tỉnh Điện Biên), kết hôn tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng
sống hạnh phúc đến đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm
sống, thường xuyên cãi nhau, nên anh chị đã sống ly thân từ tháng 02/2025 cho đến
nay. Từ khi sống ly thân anh chị không còn quan tâm, thương yêu và liên lạc gì với
nhau. Tình cảm vợ chồng không còn, chị Lò Thị B đề nghị Tòa án giải quyết cho
chị được ly hôn với anh Cà Văn D.
2
Về con chung: Chị Lò Thị B và anh Cà Văn D không có con chung; hiện tại chị
Lò Thị B không có thai.
Về tài sản chung; nợ chung: Chị Lò Thị B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 13/6/2025 thụ lý vụ án, đến ngày 02/7/2025 Tòa án đã tiến hành xác
minh tại nơi cư trú của đương sự, lấy lời khai chị Quàng Thị T về tình trạng hôn
nhân của chị Lò Thị B và anh Cà Văn D. Qua xác minh cho thấy: Chị Lò Thị B và
anh Cà Văn D kết hôn ngày 26/3/2024, cuối năm 2024 anh Cà Văn D chuyển đăng
ký thường trú từ bản Đ, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên (nay là bản Đ, xã S, tỉnh
Điện Biên) đến bản V, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên (nay là bản V, xã B, tỉnh Điện
Biên). Khoảng tháng 02/2025 anh chị phát sinh mâu thuẫn, anh Cà Văn D đã về nhà
anh trai và chị dâu (anh Cà Văn T1, chị Quàng Thị T) tại bản Đun Nưa, xã S, tỉnh
Điện Biên sinh sống một thời gian vì hiện tại anh Cà Văn D đang có một người con
riêng (cháu Cà Hải Y) của vợ trước đã ly hôn sinh sống cùng gia đình anh chị (C,
Quàng Thị T). Hiện tại anh Cà Văn D đang đi làm thuê ở thành phố Hà Nội nhưng
chị Quàng Thị T không biết địa chỉ. Anh Cà Văn D đi làm thuê ở xa và chính quyền
địa phương không biết địa chỉ nơi ở, nơi làm việc, không thể tống đạt trực tiếp các
văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Cà Văn D. Tòa án đã tiến hành niêm yết công
khai các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm
tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp
luật.
Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết các văn bản tố tụng anh Cà Văn D
vẫn không có mặt nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi
kiện. Ngày 31/7/2025, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự nhưng anh Cà Văn D vắng mặt
không có lý do. Tòa án đã lập biên bản về sự vắng mặt không có lý do của anh Cà
Văn D và tiến hành niêm yết Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định của pháp luật. Ngày 31/7/2025, chị Lò
Thị B đã có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và đề nghị Tòa án xét xử
vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 28/8/2025, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Điện Biên mở phiên tòa xét xử
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 11 tháng
8 năm 2025 và đã tống đạt, niêm yết theo quy định của pháp luật, anh Cà Văn D
vắng mặt lần thứ nhất không có lý do, Tòa án đã hoãn phiên tòa theo luật định.
Tại phiên tòa ngày 15/9/2025, chị Lò Thị B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
vẫn giữ nguyên quan điểm như trong đơn khởi kiện và bản tự khai. Anh Cà Văn D
vắng mặt lần 2 không có lý do.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng
trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử tại phiên tòa
hôm nay thấy rằng. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự trong việc giải quyết vụ án, đảm bảo việc giải quyết vụ
án kịp thời, đúng pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Điện Biên không
có yêu cầu, kiến nghị gì. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2
Điều 1 Luật số: 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về Luật sửa đổi bổ
3
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp
người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 51,
khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238
Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề
nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm không có giá ngạch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ nội
dung đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo và địa chỉ của các đương sự,
Tòa án xác định đây là vụ án: “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân khu vực 3 - Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1
Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Luật số:
85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về Luật sửa đổi bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành
niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; điểm a khoản 1 Điều 39
Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến
hành các biện pháp xác minh sự vắng mặt của bị đơn tại nơi cư trú, tình trạng hôn
nhân, tống đạt và niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án,
thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho anh Cà Văn D,
nhưng anh Cà Văn D không có mặt tại Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ
của đương sự theo Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, anh Cà Văn D đã tự từ
bỏ các quyền và không thực hiện nghĩa vụ của mình. Ngày 31/7/2025 chị Lò Thị B
có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành
hòa giải được theo Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Lò Thị B,
được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn anh
Cà Văn D được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt. Căn cứ điểm b
khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong trường hợp vắng mặt chị Lò Thị B và anh
Cà Văn D tại phiên tòa.
[3] Về quan hệ hôn nhân:
Về kết hôn: Chị Lò Thị B và anh Cà Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng
ký kết hôn ngày 26/3/2024 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên (nay
là Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Điện Biên), cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Lò
Thị B và anh Cà Văn D là hôn nhân hợp pháp.
4
Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn: Chị Lò Thị B khai nguyên nhân mâu
thuẫn gia đình do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy
ra mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn và anh chị đã sống ly thân.
Về tình trạng hôn nhân: Lời khai của chị Lò Thị B về tình trạng hôn nhân là có
căn cứ phù hợp với biên bản xác minh tình trạng hôn nhân, thực tế anh chị đã sống
ly thân và trong thời gian sống ly thân không ai quan tâm tới ai. Hội đồng xét xử
nhận định chị Lò Thị B và anh Cà Văn D không còn tình cảm vợ chồng; không còn
yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng
làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài,
mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào quy định tại Điều 51, Điều 56
Luật Hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị
Lò Thị B.
[4] Về con chung: Chị Lò Thị B và anh Cà Văn D không có con chung; hiện
tại chị Lò Thị B không có thai, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lò Thị B không yêu cầu Tòa án giải
quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Phát biểu của kiểm sát viên: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về việc
giải quyết vụ án là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Án phí: Chị Lò Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch
theo quy định tại Điều 9, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản
4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự được sửa
đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Luật số: 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc
hội về Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng
hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối
thoại tại Tòa án; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227;
khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân
sự;
- Điều 9, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lò Thị B đối với bị đơn
anh Cà Văn D.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị B được ly hôn anh Cà Văn D.
- Về con chung: Không có.
2. Về án phí: Chị Lò Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 300.000đ (ba
5
trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Lò Thị B đã
nộp: 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án
số: 0001966 ngày 13 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuần
Giáo, tỉnh Điện Biên (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 3).
3. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc ngày niêm yết bản án sơ thẩm tại
địa phương nơi cư trú.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- TAND tỉnh Điện Biên;
- VKSND khu vực 3 - Điện Biên;
- THADS tỉnh Điện Biên;
- UBND xã B, tỉnh Điện Biên;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Việt Hương
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 19/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 08/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm