Bản án số 18/2021/DSPT ngày 19/01/2021 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 18/2021/DSPT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 18/2021/DSPT
| Tên Bản án: | Bản án số 18/2021/DSPT ngày 19/01/2021 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 18/2021/DSPT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/01/2021 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà Lê Thị Lan A khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Phạm Thị Thanh C |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 18/2021/DS-PT
Ngày: 19-01-2021
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Anh Tuấn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Huờn, bà Nguyễn Thị Hằng
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Phúc - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Ông Ngụ Văn Minh -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 19 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 284/2020/TLPT-DS ngày 20
tháng 11 năm 2020 về việc“Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 119/2020/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2020
của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột,tỉnh ĐắkLắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 280/2020/QĐ-PT
ngày 16 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 250/2020/QĐ-PT
ngày 31 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Lê Thị Lan A – sinh năm: 1975
Địa chỉ: Số nhà 60, đường S1, phường TT, quận TP, Tp. Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Nam B – sinh năm: 1984
Địa chỉ: 9/12 NLB, P. TH, Tp. BMT, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)
* Bị đơn: Bà Phạm Thị Thanh C – sinh năm: 1985
Địa chỉ: 186 PVĐ, P. TH, Tp. BMT, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Trường D – sinh năm 1985
Địa chỉ: 186 PVĐ, P. TH, Tp. BMT, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)
2
* Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Hoàng Trường D – sinh năm 1985
Địa chỉ: Địa chỉ: 186 PVĐ, P. TH, Tp. BMT, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt).
2. Bà Trần Ngọc Thị Lệ Đ – sinh năm 1963 và ông Phương Mạnh E –
sinh năm: 1963
Cùng địa chỉ: 08 NĐC nối dài, phường TL, Tp. BMT, tỉnh Đắk Lắk. (Đều
có mặt)
3. Bà Bùi Nữ Lệ F và ông Phạm A G
Địa chỉ: 184/43/6 YM, P. TL, Tp. BMT, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
4. Ông Nguyễn Thanh H
Địa chỉ: Số nhà 60, đường S1, phường TT, quận TP, Tp. Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Nam B – sinh năm: 1984
Địa chỉ: 9/12 NLB, P. TH, Tp. BMT, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)
5. Ngân hàng I – chi nhánh Đắk Lắk.
Địa chỉ: số 10 THĐ, Tp. BMT, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Ngọc J – Chức vụ: Giám đốc
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Quốc K. (Vắng
mặt)
- Người kháng cáo: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị
Lan A, bị đơn bà Phạm Thị Thanh C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn; ông Lê Nam B đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
đồng thời là đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Nguyễn Thanh H trình bày:
Ngày 24/5/2014 bà Lê Thị Lan A có nhận chuyển nhượng của ông
Phương Mạnh E, bà Trần Ngọc Thị Lệ Đ, anh Phương Nhật L, chị Phương Thị
Ngọc M, anh Phương Nhật N, diện tích đất 1.498,5m², ở phường TL, thành phố
BMT, tỉnh Đắk Lắk; tại thửa số 272, tờ bản đồ số 89. Vị trí: Đông giáp đường số
9; Tây giáp đất bà Trần Ngọc Thị Lệ Đ; Nam giáp đất bà Liên; Bắc giáp đất nhà
3
chùa. GCNQSDĐ số: BP 224055 cấp ngày 03/09/2013 mang tên hộ bà Trần
Ngọc Thị Lệ Đ. Việc chuyển nhượng bà A đã giao đủ tiền cho gia đình ông E,
gia đình ông E đã giao đất cho bà A và đã hoàn tất thủ tục sang tên, ngày
17/7/2014 thì được cấp GCNQSDĐ số: BT 779158 mang tên bà Lê Thị Lan A.
Bà A nhận quản lý và sử dụng, do không thường xuyên quản lý, sử dụng đất vì
nhà chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống nên vào năm 2017 không biết
lý do gì bà Phạm Thị Thanh C lại canh tác trồng cây mít, quản lý trên đất của bà
A. Khi biết được việc làm của bà C, bà A đã yêu cầu bà C di dời cây, tài sản trên
đất để trả lại đất cho bà A nhưng bà C không đồng ý.
Do vậy, nguyên đơn bà A khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố
Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk giải quyết buộc bà C, ông D di dời tài sản trên đất
và trả lại cho bà A là thửa đất số 272, tờ bản đồ số 89, diện tích 1.498,5m², theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khắc gắn liền
với đất số BT 779158 do Ủy ban nhân dân thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk cấp
ngày 17/7/2014 cho bà Lê Thị Lan A. Ngoài ra không có ý kiến, yêu cầu nào
khác.
*Bị đơn bà Phạm Thị Thanh C trình bày:
Năm 2017 bà C có nhận chuyển nhượng 01 lô đất tại phường TL, thành
phố BMT, tỉnh Đắk Lắk của bà Bùi Nữ Lệ F, sau khi nhận chuyển nhượng bà F
chỉ lô đất cần bán cụ thể theo hướng giáp ranh như sau: Hướng Đông Bắc giáp
đường đi và đối diện với đất ông O; Hướng Tây Bắc giáp đất ông P; Hướng
Đông Nam giáp đất bà Q; Hướng Tây Nam giáp đất bà Lan A, do tin tưởng nên
bà C đã nhận chuyển nhượng mà không kiểm tra, đối chiếu với đất thực địa,
thửa đất bà C nhận chuyển nhượng của bà F là thửa đất số 271, tờ bản đồ số 89,
diện tích 1505.5m
2
, theo Giấy chứng nhận QSD đất quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khắc gắn liền với đất số CB 472322 do UBND thành phố BMT cấp ngày
23/10/2015 mang tên người sử dụng đất bà Bùi Nữ Lệ F. Sau khi, thực hiện
xong thủ tục chuyển nhượng thì thửa đất số 271, tờ bản đồ số 89, diện tích
1505.5m
2
, theo Giấy chứng nhận QSD đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khắc
gắn liền với đất số CL 068773 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp
ngày 07/9/2017 đã mang tên người sử dụng đất bà Phạm Thị Phương C.
Đầu năm 2019 khi cần tiền nên bà C thế chấp giấy chứng nhận QSD đất
trên cho Ngân hàng, khi Ngân hàng xuống thẩm định giá đất thì mới phát hiện
sự nhầm lẫn thửa đất theo giấy chứng nhận QSD đất cấp cho bà C không phải là
thửa đất đang quản lý, sử dụng mà thửa đất của bà C là thửa đất số số 271, tờ
bản đồ số 89, diện tích 1505.5m
2
, theo Giấy chứng nhận QSD đất quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khắc gắn liền với đất số CB 472322 do UBND thành phố BMT
4
cấp ngày 23/10/2015 ở phía sau, còn thửa đất thực chất bà C đang quản lý, sử
dụng là thửa đất số 272, tờ bản đồ số 89, diện tích 1.498,5m², theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khắc gắn liền với đất số
BT 779158 do Ủy ban nhân dân thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày
17/7/2014 mang tên người sử dụng đất của nguyên đơn bà Lê Thị Lan A.
Do cả hai thửa đất này đều kế cận nhau và cùng có chung một chủ sở hữu,
vì vậy sau khi phát hiện ra sự nhầm lẫn bà C đã đến gặp người bán đất là bà F,
bà F mua lại của bà Trần Ngọc Thị Lệ Đ và ông Phương Mạnh E, bà C cùng bà
F đến gặp bà Đ, ông E thì được ông E xác nhận trước đây ông bà có bán cho bà
F 01 lô đất chính là lô đất bà C hiện đang quản lý, sử dụng thửa đất số 272, tờ
bản đồ số 89, diện tích 1.498,5m², đồng thời ông E cũng xác nhận trước đó có
bán cho bà A thửa đất số 271, tờ bản đồ số 89, diện tích 1505.5m
2
.
Nay nguyên đơn khởi kiện buộc bị đơn di dời toàn bộ tài sản trên đất và
trả lại Quyền sử dụng đất là thửa đất số 272, tờ bản đồ số 89, diện tích
1.498,5m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khắc gắn liền với đất số BT 779158 do Ủy ban nhân dân thành phố BMT,
tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 17/7/2014 cho nguyên đơn thì bị đơn bà C không đồng ý
vì diện tích đất này là bị đơn đã nhận chuyển nhượng từ bà F và quản lý, sử
dụng từ khi chuyển nhượng đến nay.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Trường D trình
bày: Ông D là chồng bà C nay ông D thống nhất với ý kiến của bà C để nghị
Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phương Mạnh E trình
bày: Vào cuối năm 2005, ông E có nhận chuyển nhượng 01 lô đất tại phường
TL, thành phố BMT với diện tích 3.000m
2
đã có Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Đến năm 2006 ông E có chuyển nhượng cho vợ, chồng bà A 1000m
2
,
nhưng chưa làm hợp đồng gì, đến năm 2013 tiếp tục chuyển nhượng thêm
500m
2
, tổng diện tích chuyển nhượng là 1.500m
2
, cụ thể bên ông E đã chuyển
nhượng cho bên bà A thửa đất số 272, tờ bản đồ số 89, diện tích 1498,5m
2
theo
giấy chứng nhận QSD đất số BP 224055 do UBND thành phố Buôn Ma Thuột
cấp ngày 03/9/2013, hợp đồng chuyển nhượng này được công chứng tại Văn
Phòng Công Chứng ĐA, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 24/5/2014 theo đúng quy định
của pháp luật, hiện bà Lê Thị Lan A đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất số
BT779158 do UBND thành phố BMT ngày 17/7/2014.
Phần quyền sử dụng đất còn lại của ông E vào ngày 10/10/2015 gia đình
ông E đã chuyển nhượng cho bên nhận chuyển nhượng bà Bùi Nữ Lệ F thửa đất
5
số 271, tờ bản đồ số 89, diện tích 1501,5m
2
theo giấy chứng nhận QSD đất số BP
224056 do UBND thành phố BMT cấp ngày 03/9/2013, theo hợp đồng chuyển
nhượng QSD đất được phòng công chứng ĐA Công chứng ngày 10/10/2015.
Bên bà F đã nhận đất và được cấp giấy chứng nhận QSD đất số CB 472322 ngày
23/10/2015.
Ông E khẳng định ông chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bên bà A,
bà F là đúng quy định của pháp luật, bà A, bà F đã trả hết tiền và nhận đất quản
lý, sử dụng theo đúng đất chuyển nhượng nên nay ông E không tranh chấp gì
thửa đất số 271 và thửa đất số 272.
Nay bà A và bà C tranh chấp với nhau về Quyền sử dụng đất của thửa đất
số 272, tờ bản đồ số 89, diện tích 1498,5m
2
, ông E không có quyền lợi gì và
không tranh chấp gì về việc này đề nghị các bên thực hiện đúng theo hợp đồng
đã chuyển nhượng và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo đúng quy định của
pháp luật. Ngoài ra, không có ý kiến, yêu cầu nào thêm.
*Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Ngân hàng I – Chi nhánh Đắk Lắk ông Nguyễn Quốc K trình bày:
Hiện quyền sử dụng đất thửa đất số 272, tờ bản đồ số 89, diện tích
1498,5m
2
, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT779158 do Ủy ban
nhân thành phố BMT ngày 17/7/2014 cho người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất Lê Thị Lan A đang thế chấp tại Ngân hàng I –
Chi nhánh Đắk Lắk để bảo đảm cho khoản vay với Ngân hàng. Khoản vay trên
hiện chưa đến hạn nên Ngân hàng không thực hiện việc khởi kiện. Nay giữa
nguyên đơn và bị đơn tranh chấp với nhau về thửa đất số 272 thì đề nghị Tòa án
giải quyết vụ án theo pháp luật để bảo vệ quyền lợi của Ngân hàng.
*Người làm chứng ông Phạm Đình R trình bày:
Ông R là bố của chị C, anh D việc anh D, chị C đang quản lý sử dụng
272, tờ bản đồ số 89, diện tích 1498,5m
2
là đúng, đây là tài sản của chị C, anh D.
*Người làm chứng bà Nguyễn Thị S trình bày: Bà S là người giới thiệu
cho chị C, anh D nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ chị F, nay bà S xác
định thửa đất anh D, chị C hiện đang quản lý sử dụng là đúng với thửa đất đã
nhận chuyển nhượng từ chị F.
*Người làm chứng ông Lê Tú T trình bày: Ông T là người đã đi làm
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 272, tờ bản đồ số 89, 1498,5m
2
cho bà A là đúng quy định của pháp luật.
6
Tại Bản án số 119/2020/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân
dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
- Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39 Điều 147, Điều 165, Điều 166, Điều 220, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố
tụng dân sự; Căn cứ Điều Điều 163, Điều 166 của Bộ luật dân sự;Căn cứ Điều
166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013;Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về
việc mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê
Thị Lan A.
Buộc bị đơn bà Phạm Thị Thanh C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
ông Hoàng Trường D có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn bà Lê Thị Lan A
Quyền sử dụng đất là thửa đất số 272, tờ bản đồ số 89, diện tích 1498,5m
2
, theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT779158 do Ủy ban nhân thành phố
BMT cấp ngày 17/7/2014 cho người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất bà Lê Thị Lan A, tọa lạc tại: Phường TL, thành phố BMT,
tỉnh Đắk Lắk; có tứ cận như sau:
Phía Bắc giáp thửa đất số 231, cạnh dài 45,45m.
Phía Tây giáp thửa đất số 271, cạnh dài 33,77m.
Phía Đông giáp đường cạnh dài 13,62 + 19,36m.
Phía Nam giáp thửa đất số 267 cạnh dài 43,33m.
Nguyên đơn bà Lê Thị Lan A được quyền quản lý, sở hữu các tài sản gắn
liền với quyền sử dụng đất của thửa đất số 272, tờ bản đố số 89 gồm: Hàng rào
lưới B40, cọc bê tông đúc sẵn có chiều dài 112,2m, 85 cây mít trồng năm 2017.
Nguyên đơn bà Lê Thị Lan A có trách nhiệm thanh toán giá trị tài sản gắn
liền với Quyền sử dụng đất của thửa đất số 272, tờ bản đồ số 89 cho bị đơn
Phạm Thị Thanh C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên ông Hoàng Trường D
số tiền là 34.802.400 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án
xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
7
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Lan A
buộc bị đơn Phạm Thị Thanh C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên ông Hoàng
Trường D di dời toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất số 272, tờ bản đồ số 89.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về chi phí xem xét thẩm định tại
chỗ, định giá tài sản, án phí, và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định
của pháp luật.
Ngày 14/10/2020 đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Nam B
kháng cáo bản án sơ thẩm số 119/2020/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Toà án
nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột với nội dung: Bà C là người chiếm dụng đất, bà
Lan A không có lỗi nên không chấp nhận bồi thường toàn bộ tài sản trên đất cho bị
đơn. Ngày 02/11/2020 tại đơn kháng cáo bổ sung ông Lê Nam B kháng cáo bản án
về chi phí tố tụng, tại bản án xác định nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí xem xét
thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là không chính xác và đề nghị cấp phúc thẩm
xét xử lại vụ án.
Ngày 07/10/2020 bị đơn bà Phạm Thị Thanh C kháng cáo toàn bộ bản án sơ
thẩm số 119/2020/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân thành phố
Buôn Ma Thuột với nội dung bà C nhận đất và quản lý sử dụng đúng như nội dung
nhận chuyển nhượng nên bà không đồng ý trả lại đất cho nguyên đơn. Đề nghị cấp
phúc thẩm xét xử lại vụ án bác đơn khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lê Nam B đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn và ông Hoàng Trường D đại diện theo ủy quyền của bị đơn tự nguyện thỏa
thuận như sau: Bà Phạm Thị Thanh C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên ông
Hoàng Trường D tự nguyện trả lại cho nguyên đơn bà Lê Thị Lan A quyền sử
dụng đất tại thửa đất số 272, tờ bản đồ số 89, diện tích 1498,5m
2
, theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số BT779158 do Ủy ban nhân thành phố BMT
cấp ngày 17/7/2014 cho bà Lê Thị Lan A. Bà Lê Thị Lan A được sở hữu toàn
bộ tài sản trên đất và bà Lê Thị Lan A tự nguyện thanh toán cho bà Phạm Thị
Thanh C và ông Hoàng Trường D ½ giá trị tài sản trên đất là 17.401.200đồng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk cho rằng:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán,Hội đồng xét
xử, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét thấy việc thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa hôm nay
là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị HĐXX
căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm và
công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
8
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu
chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của đại diện theo ủy quyền nguyên đơn
ông Lê Nam B, bị đơn bà Phạm Thị Tanh C trong hạn luật định và có nộp tạm ứng
án phí DSPT là hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Xét đơn kháng cáo bổ sung ngày 02/11/2020 của người đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn là ông Lê Nam A cho rằng bản án sơ thẩm xác định nguyên
đơn tự nguyện chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là không
chính xác, HĐXX thấy rằng: Vụ án được đưa ra xét xử ngày 30/9/2020 và người đại
diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt. Tuy nhiên, ngày 02/11/2020 ông Lê
Nam B làm đơn kháng cáo bổ sung là hết thời hạn kháng cáo. Nội dung đơn kháng
cáo bổ sung của ông Nam A vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu. Do đó, theo quy
định tại khoản 2 Điều 284 BLTTDS thì không chấp nhận và xem xét nội dung
kháng cáo bổ sung này.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của các đương sự thấy rằng:
[2.1] Nguồn gốc diện tích đất đang tranh chấp tại thửa đất số 272 mà hiện nay
bị đơn bà C đang quản lý trồng cây trên đất là do nguyên đơn bà Lê Thị Lan A nhận
chuyển nhượng của hộ ông Phương Mạnh E, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất được Văn phòng Công chứng Đại An công chứng ngày 24/5/2014. Đến
ngày 17/7/2014 Ủy ban nhân thành phố BMT đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số BT779158 cho bà Lê Thị Lan A đúng thửa đất, đúng diện tích đã nhận
chuyển nhượng. Sau khi nhận chuyển nhượng đất nguyên đơn chuyển đi thành phố
Hồ Chí Minh sinh sống nên không canh tác trên đất; phía bị đơn bà C đã canh tác
trên thửa đất này. Bà C cho rằng đã nhận chuyển nhượng thửa đất số 272. Tuy nhiên,
qua các tài kiệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bà C nhận chuyển nhượng
thửa đất 271 từ bà F và ông Tuấn chứ không phải thửa đất số 272. Sau khi Tòa án
tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ xác định thửa đất các bên đang tranh chấp là
thửa 272 đã được cấp GCNQSDĐ cho bà Lê Thị Lan A. Vì vậy, bản án sơ thẩm đã
chấp nhận đơn khởi kiện của bà A buộc bà C và ông D trả lại thửa đất 272 cho bà A
là có căn cứ.
[2.2] Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đã tự thỏa thuận với nhau về việc
giải quyết vụ án: Bà Phạm Thị Thanh C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên ông
Hoàng Trường D có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn bà Lê Thị Lan A quyền
sử dụng đất là thửa đất số 272, tờ bản đồ số 89, diện tích 1498,5m
2
, theo Giấy

9
chứng nhận quyền sử dụng đất số BT779158 do Ủy ban nhân thành phố BMT
cấp ngày 17/7/2014 cho bà Lê Thị Lan A. Bà Lê Thị Lan A được quyền sở hữu
toàn bộ tài sản trên đất bao gồm: Hàng rào lưới B40; cọc bê tông đúc sẵn có
chiều dài 112,2m; 85 cây mít trồng năm 2017, bà Lê Thị Lan A có nghĩa vụ
thanh toán lại ½ giá trị tài sản trên đất có giá trị 17.401.200đồng cho bà C, ông
D. Xét việc thỏa thuận của các bên đương sự là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp
với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên cần chấp nhận.
Tại phần quyết định bản án sơ thẩm tuyên lãi suất trong giai đoạn thi hành
án kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự là chưa
chính xác mà cần áp dụng quy định tại điểm b, khoản 1, điều 13 Nghị quyết
01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
Tối cao quyết định kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể
từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi
hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật
Dân sự năm 2015. Do đó cần điều chỉnh lại cho đúng, cấp sơ thẩm cần rút kinh
nghiệm.
Từ những nhận định trên, HĐXX xét thấy cần chấp nhận đơn kháng cáo
của các bên để sửa bản án sơ thẩm và công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự.
[3]. Về án phí:
[3.1]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên sửa về phần
án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Phạm Thị Thanh C phải chịu 300.000đồng án phí DSST không có giá
ngạch.
Bà Lê Thị Lan A phải chịu 870.000đồng án phí DSST có giá ngạch.
[3.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do các đương sự thỏa thuận với nhau
về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm nên căn cứ khoản 5 Điều 29
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc Hội buộc bà Lê Thị Lan A, bà Phạm Thị Thanh C mỗi người phải chịu
300.000đồng án phí DSPT và được khấu trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí đã
nộp.

10
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Chấp nhận đơn kháng cáo trong hạn của người đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn bà Lê Thị Lan A và đơn kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị Thanh C -
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự - Sửa bản án dân sự sơ thẩm số
119/2020/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma
Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39 Điều 147, Điều 165, Điều 166, Điều 220, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố
tụng dân sự; Căn cứ Điều Điều 163, Điều 166 của Bộ luật dân sự. Căn cứ Điều
166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Căn cứ Điều 26, 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về
việc mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Lan A.
Công nhân sự thỏa thuận của các đương sự: Bà Phạm Thị Thanh C và
ông Hoàng Trường D tự nguyện trả cho nguyên đơn bà Lê Thị Lan A Quyền sử
dụng đất tại thửa đất số 272, tờ bản đồ số 89, diện tích 1498,5m
2
, theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số BT779158 do Ủy ban nhân thành phố BMT
cấp ngày 17/7/2014 cho bà Lê Thị Lan A, lô đất có tứ cận như sau:
Phía Bắc giáp thửa đất số 231, cạnh dài 45,45m.
Phía Tây giáp thửa đất số 271, cạnh rộng 33,77m.
Phía Đông giáp đường cạnh rộng 13,62 + 19,36m.
Phía Nam giáp thửa đất số 267 cạnh dài 43,33m.
Bà Lê Thị Lan A được sở hữu toàn bộ tài sản trên đất, bao gồm: Hàng rào
lưới B40, cọc bê tông đúc sẵn có chiều dài 112,2m, 85 cây mít trồng năm 2017,
trị giá tài sản là 34.802.400 đồng.
Bà Lê Thị Lan A tự nguyện thanh toán cho bà Phạm Thị Thanh C và ông
Hoàng Trường D ½ giá trị tài sản trên đất là 17.401.200đồng
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có
đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án

11
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015.
[2]. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn bà Lê Thị Lan A chịu 4.000.000 đồng
tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, được khấu trừ số tiền
đã nộp tạm ứng và chi phí xong.
[3]. Về án phí:
[3.1]. Bị đơn bà Phạm Thị Thanh C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự
sơn thẩm.
Nguyên đơn bà Lê Thị Lan A phải chịu 870.000đồng án phí dân sự sơ
thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 5.000.000 đồng tạm ứng án phí do bà Lưu Thị
Bình nộp thay tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh
Đắk Lắk theo biên lai thu số AA/2019/0007479 ngày 02/3/2020. Bà Lê Thị Lan
A được nhận lại 4.130.000đồng.
[3.2]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị Lan A phải chịu
300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm. Được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án
phí dân sự phúc thẩm ông Lê Nam B nộp thay cho bà Lê Thị Lan A theo biên lai
thu số 0013216 ngày 29/10/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn
Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Bà Phạm Thị Thanh C phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Được khấu trừ 300.000đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm bà Phạm Thị
Thanh C đã nộp theo biên lai thu số 0013203 ngày 28/12/2020 tại Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Đắk Lắk; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- TAND Tp. Buôn Ma Thuột; (đã ký)
- Chi cục THADS Tp. BMT;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Trần Anh Tuấn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm