Bản án số 169/2026/DS-PT ngày 11/06/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 169/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 169/2026/DS-PT ngày 11/06/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 169/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị H3; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 169/2026/DS-PT Bản án số 169/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 169/2026/DS-PT Bản án số 169/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 169/2026/DS-PT
Ngày 11-6-2026
V/v tranh chấp kiện đòi tài sản
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Tân
Ông Nguyễn Hải Bằng
- Thư phiên toà: Hoàng Thị Hồng Hạnh - Thư Toà án nhân dân
thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Ông Trịnh Văn Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xử phúc thẩm ng khai vụ án dân sự thụ số: 08/2026/TLPT-DS ngày 15 tháng
01 năm 2026 v việc tranh chấp kiện đòi tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 92/2026/QĐ-PT ngày 09
tháng 3 năm 2026 Quyết định hoãn phiên toà s228/2026/QĐ-PT ngày 14 tháng
5 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Văn S, sinh năm 1952; Số CCCD: ************; nơi
trú: Số D T, phường V, quận L (nay là phường A), thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Bị đơn:
+ Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1962; Số CCCD: ************; nơi cư trú:
Số C H, phường H, quận L (nay là phường L), thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
+ Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1957; Số CCCD: ************; nơi cư trú:
Số I Chợ H, phường Đ, quận L (nay là phường L), thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
+ Nguyễn Thị N, sinh năm 1964; Số CCCD: ************; nơi trú:
Số E Đ, phường Đ, quận L (nay là phường L), thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
2
+ Nguyễn Thị L, sinh năm 1968; Số CCCD: ************; nơi trú: Số
E Hồ S, phường H, quận L (nay là phường L), thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
+ Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1961; Số CCCD: ************; nơi cư trú:
Số B A X, phường T, quận H (nay là phường H), thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
+ Nguyễn Thị H3, sinh năm 1970; Số CCCD: ************; nơi
ĐKHKTT: Số D Hồ S, phường H, quận L (nay là phường L), thành phố Hải Phòng;
nơi ở hiện nay: Số A B H, phường L, quận Đ (nay là phường L), thành phố Hà Nội;
có mặt;
Người đại diện theo ủy quyền của các bị đơn: Nguyễn Thị H3, sinh năm
1970; Số CCCD: ************; nơi ĐKHKTT: Số D Hồ S, phường H, quận L (nay
phường L), thành phố Hải Phòng; nơi hiện nay: Số A B H, phường L, quận Đ
(nay là phường L), thành phố Hà Nội; có mặt;
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các bị đơn: Nguyễn Thị N1
Ngô Thị Tuyết N2, Luật Công ty TNHH MTV N6 - Đoàn Luật thành
phố H; đu có mặt;
- Những người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Phạm Văn N3, sinh năm 1966; Số CCCD: ************; nơi
ĐKHKTT: Số D Hồ S, phường H, quận L (nay là phường L), thành phố Hải Phòng;
nơi ở hiện nay: Số A B H, phường L, quận Đ (nay là phường L), thành phố Hà Nội;
vắng mặt;
Người đại diện theo ủy quyền của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Phạm Văn N3: Nguyễn Thị H3, sinh năm 1970; Số CCCD: ************; nơi
ĐKHKTT: Số D Hồ S, phường H, quận L (nay là phường L), thành phố Hải Phòng;
nơi ở hiện nay: Số A B H, phường L, quận Đ (nay là phường L), thành phố Hà Nội;
có mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Phạm Văn N3:Nguyễn Thị N1 Ngô Thị Tuyết N2, Luật sư Công
ty TNHH MTV N6 - Đoàn Luật sư thành phố H; đu có mặt;
+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: Số A
Hồ S, phường L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1970; Số CCCD:
************; nơi ĐKHKTT: Số D Hồ S, phường H, quận L (nay phường L),
thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số A B H, phường L, quận Đ (nay là phường
L), thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn ông Vũ Văn S trình bày:
Do mối quan hệ họ hàng, ông Văn S đã cho vợ chồng Nguyễn Thị
H3 ông Phạm Văn N3 mượn mảnh đất đã được cấp giấy chứng nhận quyn sử
dụng đất mang tên ông S để cầm cố, vay tin của bà Dương Thị Kim N4, sinh năm
1972; nơi cư trú: Số A M, quận H, (nay phường H), thành phố Hải Phòng; nơi ở
hiện tại: Số I Lô B đường L, phường N, thành phố Hải Phòng. Ngày 22/3/2007, bà
Nguyễn Thị H3 và ông Phạm Văn N3 đã lập “Giấy mượn đất” với nội dung mượn
mảnh đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyn sử dụng đất mang tên ông Vũ Văn S
diện tích 80m
2
(4mx20m) trên đường T, Đ, thuộc 207, thửa 502 do UBND
huyện A cấp ngày 20/12/1996. Mục đích mượn để bán mảnh đất này lấy tin trả cho
N4. Bà H3, ông N3 cam kết trong Giấy mượn đất” trong thời hạn 06 tháng sẽ có
trách nhiệm mua trả lại ông S mảnh đất trên hoặc trả bằng tin theo giá thời điểm
thanh toán. Để đảm bảo nội dung trên, cụ Nguyễn Văn C và cụ Vũ Thị L1 là bố m
Nguyễn Thị H3 đã đứng ra làm người bảo lãnh trong cùng văn bản này với nội
dung “bảo lãnh cho cháu H3 vay đất của ông S. Nếu sau thời hạn thanh toán, các
cháu không khả năng thanh toán cho ông S thì vchồng tôi sẽ trách nhiệm
thanh toán cho ông S bằng tin đúng với giá trị mảnh đất tại thời điểm thanh toán
hoặc sẽ nhượng cho ông S ½ căn nhà số D Hồ S cũng tính giá trị hai bên tương
đương tại thời điểm bàn giao”.
Tháng 4/2007 ông S và H3 bán được mảnh đất trên cho Nguyễn Thị T
với giá 170.000.000 đồng. Số tin này ông S, H3 cùng có mặt trả cho bà Dương
Thị Kim N4. Sau khi nhận đủ 170 triệu đồng, N4 cùng với ông S, H3 và ông
N3 cùng làm quyết toán khoản vay ghi trên tờ chốt nợ ghi “Hoan Song” nội dung
như sau:
- Tính đến 21/7/2007 âm lịch, tổng phải trả là 15.237 USD;
- Ngày 28/3/2007 (tức ngày 10/02/2007 âm lịch) bà N4 đã nhận số tin trả nợ
của ông bà Hoan N5 là 3000 USD.;
- Ngày 19/4/2007, (bà N4) đã nhận của ông S số tin 170 triệu đồng, tương
đương số tin 10.578 USD; số tin còn ông S còn nợ (bà N4) 1.600 USD. (Đến
nay, ông S đã trả được bà Ngân khoản tin này, nhưng ông S không yêu cầu bà H3
trả lại).
Hết thời hạn 6 tháng ghi trong “Giấy mượn đất”, ông S đã nhiu lần yêu cầu
H3, ông N5 trả đất nhưng ông bà Hoan N5 không trả. Đồng thời ông S cũng yêu
cầu cụ C, cụ L1 thực hiện nghĩa vụ trả lại đất hoặc ½ giá trị căn nhà sD Hồ S nhưng
cụ C khất lần khi nào dự án thu hồi đất thì trả lại tin cho ông S. Cụ Thị L1
chết ngày 02/11/2015; Cụ Nguyễn Văn C chết ngày 26/5/2020.
4
Ông S được biết toàn bộ diện tích nhà đất tại số D Hồ S, phường H, quận L,
thành phố Hải Phòng thuộc dự án đường H - Cầu R đã được giải toả, thu hồi đất và
Nhà nước đang tiến hành chi trả đn bù, hỗ trợ tái định cư.
Ngày 13/7/2020, ông S đơn gửi UBND phường H để yêu cầu giải quyết
tranh chấp nhà đất số D Hồ S. Ngày 12/8/2020, UBND phường H tiến hành họp, chủ
tịch UBND phường H đã có “Biên bản làm việc” nêu “UBND phường báo cáo
UBND quận làm căn cứ, tin chi trả bồi thường đối với hộ ông Nguyễn Văn C sẽ
được chuyển vào kho bạc Nhà nước theo quy định pháp luật”. Tuy nhiên, ngày
20/8/2020, Trung tâm phát triển quỹ đất quận L đã chi trả toàn b số tin
5.021.547.899 đồng cho 06 người con của cụ Nguyễn Văn C. Đến nay, ông N5
H3 không không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho ông S. Do vậy, UBND
phường H (cũ) phải nghĩa vụ liên đới đối với khoản nợ của bà H3, ông N5 đã
được cụ Nguyễn Văn C, cụ Vũ Thị L1 cam kết bảo lãnh bằng ½ giá trị của căn nhà
số D Hồ S.
Tại đơn khởi kiện quá trình giải quyết vụ án, ông S yêu cu Tòa án buc
các đồng tha kế ca c C, c L1 gm các ông bà: Ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn
Thị H1, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị H2
phi thanh toán ½ giá tr căn nhà số D Hồ S ã được đn bù theo d án thu hồi đất
và tái định cư) s tin là 2.510.773.949,5 đồng (hai t năm trăm mười triu bẩy trăm
bẩy mươi ba nghìn chín trăm bốn mươi chín phẩy năm đồng). Đồng thi ông S yêu
cu Ủy ban nhân dân phường H (cũ) nghĩa vụ liên đới đối với khoản nợ trên do
vi phm kết lun ti bui làm vic ngày 12/8/2020. Yêu cầu Toà án áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời cấm chuyển nhượng, giao dịch, giữ nguyên hiện trạng đối
với lô đất số 691 diện tích 55,2m
2
cấp cho cụ Nguyễn Văn C tại Khu tái định cư A,
phường V, quận L, thành phố Hải Phòng đất 274 diện tích 40m
2
cấp cho
Nguyễn Thị H3 tại Khu tái định cư A, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng.
Tại phiên toà sơ thẩm, ông Vũ Văn S thay đổi, bổ sung, rút một phần yêu cầu
khởi kiện:
Rút yêu cầu buộc các đồng tha kế của cụ Nguyễn Văn C cụ Thị L1
phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, thanh toán cho ông S giá trị của mảnh đất mà bà
H3, ông N5 đã ợn theo cam kết tại “Giấy mượn đất” ngày 22/3/2007, đồng thời
không yêu cầu Toà án tiến hành áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với lô đất
số 691 Khu tái định A, phường V, quận L (nay là phường A), thành phố Hải
Phòng; rút yêu cầu buộc UBND phường H (cũ) có trách nhiệm đối với việc cố tình
thực hiện chi trả bồi thường thu hồi đất cho công dân, vi phạm kết luận tại buổi làm
việc ngày 12/8/2020 tại UBND phường H (cũ) giữa ông S các thành viên gia đình
cụ Nguyễn Văn C.
Nguyên đơn ông Vũ Văn S yêu cầu Toà án giải quyết:
5
- Buộc Nguyễn Thị H3, ông Phạm Văn N3 phải thực hiện cam kết tại “Giấy
mượn đất” ngày 22/3/2007, thanh toán cho ông S số tin tương đương với giá trị
80m
2
đất tại Đ, huyện A (sau đổi thành phường Đ, quận H), nay phường Đ,
thành phố Hải Phòng do UBND huyện A cấp giấy chứng nhận quyn sử dụng đất số
I 752897, vào sổ cấp Giấy chứng nhận số 05137 QSDĐ ngày 24/12/1996 mang tên
Văn S (nay mảnh đất này thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị T, theo giấy chứng
nhận quyn sử dụng đất số CM 021608, số vào sổ CH03386 do UBND quận H cấp
ngày 16/12/2017).
Tại biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn
Thị H3 trình bày:
Cuối năm 2004, Nguyễn Thị H3 có vay ca bà ơng Thị Kim N4 s tin
khoảng 10.000.000 đồng. Do lãi suất cao (5000 đồng/triệu) nên bà H3 không có kh
năng trả. Đến năm 2007 do có mi quan h làm ăn của ông S và chng bà N4 nên
ông S đã ép bà H3 phi viết giấy ợn đất. Thc tế bà H3 không mượn tin ca ông
S. Giấy mượn đt ngày 22/3/2007 là do chng bà H3 (ông Phạm Văn N3) viết, ch
ký Thị L1 và Nguyễn Văn C là do bà H3 và ông N3 t ký, không phi ch ký
ca c Thị L1 và Nguyễn Văn C. Đến nay bà H3 đã tr đưc n cho bà N4, Giy
ợn đấtch là hình thc, còn thc tế bà không mượn bìa đỏ của ông S, không biết
mảnh đất này đâu; việc ông S buc bà tr lại đất là không đúng, bà cũng không
đồng ý tr cho ông S 1/2 giá tr căn nhà tại số D Hồ S.
Việc ông S xuất trình tài liệu liên quan chốt nợ không đúng, giấy chốt nợ
chỉ thể hiện chữ của một mình bà N4, không có xác nhận 3 bên nên không có g
trị. Không có tài liệu nào thể hiện các thoả thuận giữa ông S và bà N4 nên việc ông
S khai bà N4 yêu cầu ông S phải người bảo lãnh, cho mượn bìa đỏ để N4 thu
hồi vốn vay là không có căn cứ. Ngoài ra cũng không có căn cứ gì v việc ông S n
đất để trả nợ cho bà H3.
Đối với các chứng t thể hiện trả nợ cho bà N4, H3 tha nhận ngày
28/3/2007 vợ chồng H3 đã trả cho N4 số tin 3000 USD (có giấy biên nhận
ngày 28/3/2007).
Các b đơn gm: Ông Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị N, Nguyễn
Thị L, Nguyễn Thị H3, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn N3
trình bày: Các ông bà không biết gì v việc vay mượn tin ca v chng ông Phạm
Văn N3 bà Nguyễn Thị H3 với ông S, N4; không biết gì v việc vay mượn
tin, vay mượn nhà thế chp và các nội dung đã ghi trong Giấy mượn đtngày
22/3/2007. Các ông bà Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị
L khng định ch ký ca các c Thị L1, Nguyễn Văn C trong phần người bo
lãnh ngày 22/3/2007 là không đúng.
Bị đơn bà Nguyễn Thị H2 không có quan điểm trình bày.
6
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T trình bày:
Nguyễn Thị T quen biết với ông Văn S qua giới thiệu của ông Đặng
Hữu X anh rể của bà. Năm 2007, ông X giới thiệu cho T mua mảnh đất của
ông S tại địa chỉ Đ, huyện A (phường Đ, quận H, nay phường H, thành phố
Hải Phòng). Mảnh đất này có diện tích 80m
2
, hai bên thoả thuận giá trị là 150 triệu
đồng. V giao dịch mua bán: T người trực tiếp giao dịch với ông S. Khoảng
tháng 4 năm 2007, T đưa tin cho ông S lấy bìa đỏ v. T đi cùng với ông
X, ông S đến nhà bà N4 M để trả tin, sau đó đến nhà bà H3 lấy bìa. Khi đến nhà
N4H3 thì bà chỉ đứng ở ngoài, không vào nhà. Bà T và ông S có lập Hợp
đồng mua bán và giấy biên nhận tin nhưng hiện tại không còn giữ giấy tờ này.
Sau khi trả tin ông S và lấy bìa, ông S dẫn đến văn phòng C1 để làm thủ tục sang
tên. T không nhớ địa chỉ văn phòng C1. Năm 2012, UBND quận H chủ trương
thu hồi đất đthực hiện cải tạo, đầu nâng cấp đường 356 đoạn 2A. Mảnh đất bà
T mua của ông S bị thu hồi 23,4m
2
, T người được nhận đn đối với phần
diện tích đất bị thu hồi. Đến năm 2017, T xin cấp đổi Giấy chứng nhận được
UBND quận H cấp Giấy chứng nhận quyn sử dụng đất số seri CM 021618, số vào
sổ CH 03386 ngày 16/12/2017. Hiện tại thửa đất này chỉ còn 56,6m
2
. T khng
định không liên quan đến việc vay nợ giữa ông S và H3, bà mua đất của ông S và
trả tin cho ông S. T đnghị Toà án không triệu tập tham gia tố tụng với
cách là người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan.
Người làm chứng là ông Đặng Hữu X trình bày:
Ông Đặng Hữu X là anh rể của bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; địa chỉ: S
B Khu P, V, quận H, thành phố Hải Phòng. Ông là người góp tin cùng mua chung
thửa đất có diện tích 80m
2
tại xã Đ, huyện A (phường Đ, quận H, nay là phường Đ,
thành phố Hải Phòng) do UBND huyện A cấp giấy chứng nhận quyn sdụng đất
số I 752897, vào sổ cấp Giấy chứng nhận số 05137 QSDĐ ngày 24/12/1996 mang
tên Văn S. Vào năm 2007, ông X và anh trai bà T ông Nguyễn Hải T1 đến nhà
Dương Thị Kim N4 tại địa chỉ phường M, quận H, thành phố Hải Phòng để thực
hiện giao dịch mua bán đất. Trước đó giao dịch giữa T và bà N4 như thế nào ông
X không nắm được. Tại nhà bà N4, ông T1 là người giao tin cho bà N4 với số tin
170 triệu đồng nhận 01 a đỏ mang tên ông Vũ Văn S t bà N4, địa chỉ của mảnh
đất này khu Đ nhưng ông X không nhớ địa chỉ. Ông T1 là người trực tiếp giao tin
cho bà N4.
Người làm chứng là ông Nguyễn Hải T1 trình bày:
Ông Nguyễn Hải T1 được Dương Thị Kim N4 thông tin cần bán thửa đất
số 207/125, tờ bản đồ số 12 tại Đ, huyện A (phường Đ, quận H, nay phường
H, thành phố Hải Phòng). Việc mua bán thửa đất trên có sự thống nhất của 3 người
là bà N4, vợ chồng bà H3 và ông S. Do thửa đất này là của ông S nên ông là người
7
bảo lãnh; còn người thế chấp đất vchồng H3. Vợ chồng H3 đã thế chấp
mảnh đất này cho N4 để vay tin. Nhưng do vợ chồng H3 không tin trả nợ
nên bà N4 bán để thu hồi nợ. Anh em ông T1 gồm: Ông T1, ông X, bà T thỏa thuận
với N4 mua thửa đất trên với số tin 170 triệu đồng. Ông T1 người trực tiếp
giao tin cho bà N4 vào ngày 21/1/2007. Khi giao tin có ông S và vợ chồng bà H3
chứng kiến. Sau khi mua đất, anh em ông T1 thống nhất cử Nguyễn Thị T đứng
ra làm đại diện bên nhận chuyển nhượng vào ngày 29/6/2012.
Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 10
tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Văn S:
Buộc bà Nguyễn Thị H3, ông Phạm Văn N3 phải thanh toán cho ông Vũn
S stin 2.238.103.550 (hai tỉ hai trăm ba mươi tám triệu một trăm linh ba nghìn
năm trăm năm mươi) đồng.
Kể t ngày bản án có hiệu lực, ông Vũ Văn S đơn yêu cầu thi hành án, nếu
người phải thi hành án chưa thi hành khoản tin phải nộp thì hàng tháng còn phải
chịu lãi suất của khoản tin chưa thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điu 466,
468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án cho đến khi thi hành
xong toàn bộ khoản nợ.
2. Đình chỉ yêu cầu buộc các đồng tha kế của cụ Nguyễn Văn C, cụ Vũ Thị
L1 gồm các ông bà: Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị
L, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị H3 phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thanh toán cho
ông Vũ Văn S khoản tin theo cam kết tại phần bảo lãnh trong “Giấy mượn đất”
ngày 22/3/2007;
3. Đình chỉ yêu cầu buộc Chủ tịch UBND phường L (là người kế tha quyn
nghĩa vụ ttụng của UBND phường H cũ) phải trách nhiệm liên đới đối với
khoản nợ của các đồng tha kế của cụ Nguyễn Văn C với ông Vũ Văn S.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên v án phí quyn kháng cáo đối với các
đương sự.
* Sau khi xét x sơ thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị H3 kháng cáo toàn bộ bản án
dân sự thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 5 - Hải Phòng, đ nghị Toà án cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ n S và hủy bản án dân sự sơ thẩm hoặc xét
xử phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại giai đoạn phúc thẩm, bị đơn Nguyễn Thị H3 không cung cấp thêm được
tài liệu, chứng cứ gì mới.
Người bảo vquyn lợi ích hợp pháp của các bị đơn người quyn lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn N3 trình bày:
8
Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ lời trình bày của các
đương snhững người làm chứng tại phiên tòa, không đủ tài liệu, chứng cứ
căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Văn S đòi đất
hoặc tin đối với bà Nguyễn Thị H3 bởi các tài liệu chứng cứ có trong vụ án không
xác định được tính có thật, cụ thể là:
- Giấy mượn đất ngày 22/3/2007 do vợ chồng ông Phạm Văn N3 Nguyễn
Thị H3 cam kết không thể hiện rõ là đã thực mượn quyn sử dụng đất có GCNQSD
đất hay chỉ cam kết mượn quyn sử dụng đất GCNQSD đất giữa ông N3,
H3 ông S. Trong Giấy mượn đất nội dung ghi vợ chồng tôi vay một số
tin của chị N4 có thế chấp bằng bìa đỏ mang tên ông S - có thể hiểu là đã mượn bìa
đỏ mang tên ông S, tuy nhiên trong Giấy mượn đất có nội dung ghi là vchồng tôi
nhất trí mượn của ông S mảnh đất - thể hiểu mới nhất trí mượn, chưa thực
mượn.
- Địa chỉ diện tích đất ghi trong Giấy mượn đất tại 27 thửa 502 do UBND
huyện A cấp ngày 20/12/1996, nhưng mảnh đất này được Văn phòng Đ Chi nhánh
quận H xác nhận là: Thửa đất số 502 diện tích 80m
2
hiện không có thông tin lưu trữ
tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận Đ, như vậy mảnh đất ghi trong Giấy
mượn đất không trên thực tế nên không thể xác định yêu cầu vợ chồng ông
N3, bà H3 phải chịu trách nhiệm đối với mảnh đất không có thông tin này ghi trong
Giấy mượn đất.
- Việc cho mượn thế chấp diện tích đất GCNQSD đất, có việc bảo lãnh cho
vay trả nợ bằng diện ch đất Giấy CNQSD đất thì bắt buộc phải 2 chứng cứ
quan trọng sau:
+ Chứng cứ cam kết giữa N4 (người cho vay tin), H3 (người vay tin),
ông S (người bảo lãnh) v nội dung ông S sẽ bảo lãnh cho H3 vay tin của N4
được đảm bảo bằng mảnh đất của ông S đồng thời phải có chứng t giao nhận mảnh
đất cho mượn Giấy CNQSD đất cho mượn giữa ông S H3, giữa ông S
N4.
+ Chứng cứ cam kết giữa N4, H3 ông S đồng ý bán diện tích đất
mượn có Giấy CNQSD đất, đồng ý bán diện tích đất này với giá cụ thể, người đứng
tên bán, số tin bán thu được dùng số tin này trả nợ cho N4 thay H3,
H3 phải chịu trách nhiệm trả ông S diện tích đất đã mượn mang bán hoặc số tin
phải trả cụ thể. Tuy nhiên 2 nội dung quan trọng này đu không có chứng cứ, ông S
lấy do quan hệ họ hàng giữa ông S H3 đồng thời tin nhau nên không
xác lập những tài liệu này còn bà H3 khng định hoàn toàn không có việc mượn đất
bìa đỏ của đối với ông S. H3 khng định ông S chưa bao giờ giao cho
H3 mảnh đất mượn cũng như chưa giao Giấy CNQSD đất cho bà H3.
9
+ Việc mua bán đất của ông S cho bà T đã được những người làm chứng của
ông S trình bày không khách quan, không đúng sự thật. Ông S và những người làm
chứng của ông S khng định trong việc bán đất, thanh toán tin cho N4 thay
H3 đu mặt N4 và bà H3 nhưng H3 khng định H3 hoàn toàn không biết
việc bán đất của ông S, không biết ông S bán đất như thế nào, không được ông S hỏi
ý kiến và thống nhất v việc trả tin vay cho N4 thay bà H3. Những nhân chứng
của ông S khăng định khi bán đất, thanh toán tin cho N4 đu H3 nhưng
lúc đối chứng có mặt bà H3 ở đó thì họ đu nói không biết bà này (bà H3).
Các lời trình bày của hai bên không chứng cứ, không giống nhau phải được
xác định không chứng cứ để xác định sự việc nhưng Tòa thẩm đã căn cứ
vào toàn blời trình bày của ông S những người làm chứng của ông S để giải
quyết vụ án. Trong hồ 01 chứng tghi tên H3 Song ghi các khoản tin tính
(được tạm hiểu là quyết toán khoản vay). Tuy nhiên, chứng cứ này không rõ ai viết,
không có bản gốc, chỉ có bản photocoppy thường, không có người ký xác nhận, đặc
biệt chữ của hai người liên quan đến các khoản vay nH3 N4
đã không trên chứng cứ này. Tuy nhiên, Tòa thẩm đã căn cứ vào tài liệu không
căn cứ này kết hợp với những chứng cứ khác không logic lời trình bày gán
ghép xâu chuỗi theo chủ quan của ông S đbuộc H3 phải chịu trách nhiệm với
ông S v mảnh đất, sau là v tin là không đúng.
- Trong giải quyết vụ án này phải sự mặt của N4 hoặc lời trình bày
của bà N4 cùng những chứng cứ do N4 cung cấp để xác định ông S có cho H3
mượn đất và có Giấy CNQSD đất để bảo lãnh cho các khoản tin vay của H3 đối
với N4, N4 thực nhận mảnh đất Giấy CNQSD đất của ông S đđảm bảo
khoản vay của N4 cho H3 hay không. Khi ông S bán đất được N4,
H3 đồng ý không v việc bán đất, số tin thu được do bán đất bao nhiêu, số tin
ông S đã trả cho bà N4 thay bà H3 trả nợ tin vay bà N4 là bao nhiêu và H3 phải
có trách nhiệm v số tin bao nhiêu ...
Các yêu cầu phải xác định này t bà N4 để làm rõ chính xác nội dung của vụ
án hoàn toàn không bât cứ tài liệu nào trong hồ sơ. Trong các lời khai đ giải
quyết vụ án chỉ có ông S và bà H3, ông S nói có và H3 i không hoặc ngược lại
nhưng không tài liệu chứng cứ để xác định lời trình bày của ai là đúng, là chính
xác.
T các trình bày trên, chúng tôi căn cứ xác định không có tài liệu chứng cứ
cụ thể, khách quan để chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Văn S
trong vụ án này căn cứ và hợp pháp. vậy, đ nghị Hội đồng xét xphúc
thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Văn S, sửa Bản
án thẩm v nội dung này để bảo đảm phù hợp với sự thật khách quan của vụ án
và quy định của pháp luật.
10
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
V thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc
thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành thực hiện đúng các quyn
và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
V quan điểm đối với kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị H3:
- V phạm vi khởi kiện: Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Vũ Văn S đã
thay đổi nội dung khởi kiện, rút một phần yêu cầu đối với nội dung buộc các đồng
tha kế của cụ Nguyễn Văn C, cụ Vũ Thị L1 phải thực hiện nghĩa vbảo lãnh, thanh
toán cho ông S giá trị của mảnh đất H3, ông N3 đã mượn của ông S ngày
22/3/2007; đồng thời không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
đối với đất số 691 khu tái định A51 đất số 274 khu tái định A, đu
cùng địa chỉ phường V, quận L, thành phố Hải Phòng (là các lô đất cụ C, H3 đã
được cấp tái định cư) không buộc UBND phường H (nay UBND phường L)
phải có trách nhiệm đối với việc cố tình thực hiện chi trả bồi thường thu hồi đất cho
các thành viên trong gia đình cụ C, cụ L1.
Ông S chỉ còn yêu cầu H3, ông N3 phải thực hiện cam kết tại “Giấy mượn
đất ngày 22/3/2007”, thanh toán cho ông S số tin tương đương với giá trị 80m
2
thuộc thửa đất số 207/125, tờ bản đồ số 12, địa chỉ TDP H, phường Đ, quận H (nay
là phường Đ), thành phố Hải Phòng.
Tòa án thẩm đã đình chỉ một phần nội dung khởi kiện và chỉ xem xét giải
quyết yêu cầu đã được thay đổi đảm bảo căn cứ đúng phạm vi khởi kiện của
nguyên đơn.
- V thời hiệu khởi kiện: Đâyvụ án tranh chấp kiện đòi tài sản được xác
định là tranh chấp “Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu” nên áp dụng quy định Điu 155
Bộ luật Dân sự, không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với vụ việc tranh chấp này.
- Xét các nội dung vụ án:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, đủ sở để xác
định. Tòa án cấp thẩm căn cứ vào các quy định của pháp luật để buộc bà Nguyễn
Thị H3, ông Phạm Văn N3 phải trả lại cho ông S thửa đất đã mượn tương ứng bằng
tin và số tin phải trả được tính theo diện tích đất hiện còn của thửa đất là 54,97m
2
(tương đương 2.238.103.550 đồng) là đảm bảo tính hợp lý, cũng đảm bảo một phần
quyn lợi cho vợ chồng H3, ông N3.
- V án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điu 27 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Đối
với tranh chấp về đòi tài sản cho mượn, cho nhờ thì đương sự phải chịu án phí
dân sự thẩm như đối với trường hợp vụ án dân sự không giá ngạch. Trường
11
hợp ngoài tranh chấp về đòi tài sản cho mượn, cho nhờ, đương sự còn tranh
chấp về bi thường thiệt hại yêu cầu Tòa án giải quyết, thì đương sự phải chịu
án phí không giá ngạch đối với tranh chấp về đòi tài sản cho mượn, cho nh
án phí giá ngạch đối với yêu cầu bi thường thiệt hại”. H3, ông N3 phải
chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bản án sơ thẩm xác định án phí dân sự sơ
thẩm H3, ông N3 phải chịu 76.762.072 đồng không đúng quy định tại
khoản 1 Điu 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
vậy, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án, kết quả tranh luận tại phiên
tòa, căn cứ vào khoản 2 Điu 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Bộ luật T
tụng dân sự, đ nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn
Nguyễn Thị H3; sửa bản án dân sự thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 10 tháng 10
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng theo hướng: Bà Nguyễn Thị
H3, ông Phạm Văn N3 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Các nội dung
khác của bản án giữ nguyên.
V án pdân sự phúc thẩm: Nguyễn Thị H3 không phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- V tố tụng:
[1] V quan hệ pháp luật thẩm quyn giải quyết: Đây vụ án tranh chấp
v kiện đòi tài sản theo quy định tại khoản 3 Điu 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vụ
án kháng cáo nên thuộc thẩm quyn giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố
Hải Phòng theo điểm b khoản 1 Điu 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] V thời hiệu khởi kiện: Quá trình giải quyết vụ án, không đương sự nào
yêu cầu áp dụng thời hiệu nên HĐXX không áp dụng quy định v thời hiệu khởi
kiện theo quy định tại Điu 184 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- V yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Văn S:
[3] Do nguyên đơn ông Văn S rút yêu cầu buộc các đồng tha kế của cụ
Nguyễn Văn C, cụThị L1 phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của cụ C, cụ L1 tại
“Giấy mượn đất”; rút yêu cầu buộc UBND phường H (nay người kế tha quyn và
nghĩa vụ tố tụng Chủ tịch UBND phường L) nghĩa vụ liên đới đối với khoản
nợ của các đồng tha kế nên HĐXX đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu này theo
quy định tại điểm c khoản 1 Điu 217 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Tại phiên toà thẩm, ông Vũ Văn S yêu cầu Toà án buộc bà Nguyễn Thị
H3ông Phạm Văn N3 thực hiện nghĩa vụ theo cam kết tại “Giấy mượn đất” ngày
22/3/2007 là trả lại cho ông giá trị của 80m
2
đất đã được cấp giấy chứng nhận quyn
sử dụng đất mang tên ông S tại thời điểm năm 2007 theo giá trị hiện tại. Mảnh đất
12
này đã được ông S H3 thống nhất bán cho Nguyễn Thị T, hiện nay mảnh
đất này đã được cấp Giấy chứng nhận quyn sử dụng đất số CM 021608, số vào sổ
CH03386 ngày 16/12/2017 do UBND quận H cấp cho bà Nguyễn Thị T, thửa đất số
207/125, tờ bản đồ số 12, tại địa chỉ: TDP H, phường Đ, quận H (nay là TDP Hạ
Đoạn 2, thành phố Hải Phòng). Biên bản định giá tài sản ngày 25/3/2025, Hội đồng
định gUBND quận H, thành phố Hải Phòng kết luận: Giá trị 1m
2
của thửa đất trên
là 40.715.000 đồng. Số tin mà ông S yêu cầu H3, ông N3 phải trả lại cho ông là:
80m
2
x 40.715.000 đồng = 3.257.200.000đ (ba tỉ hai trăm năm mươi bẩy triệu hai
trăm nghìn đồng).
[5] Xét v hình thức: “Giấy ợn đất” ngày 22/3/2007 một hợp đồng vay
tài sản. Quá trình giải quyết vụ án, Nguyễn Thị H3 ông Phạm Văn N3 phủ
nhận việc vay mượn, bông S ép phải viết “Giấy mượn đất” này, nhưng không
căn cứ chứng minh bị ép buộc. Bà H3, ông N3những người có đủ năng lực hành
vi dân sự, việc vay mượn đất (tài sản) thuộc quyn sở hữu hợp pháp của ông Vũ Văn
S tại thời điểm xác lập giao dịch là một thoả thuận tự nguyện, thoả thuận này không
vi phạm điu cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, do vậy, giao dịch này
hợp pháp, làm phát sinh nghĩa vụ của bà H3 và ông N3.
[6] Xem xét, đánh giá việc vay nợ giữa Nguyễn Thị H3 Dương Thị
Kim N4 và tính liên quan trong các tài liệu, chứng cứ trong vụ án:
[6.1] Tại bảng chốt nợ ghi “Hoan Song” do nguyên đơn cung cấp v việc
Dương Thị Kim N4 chốt nợ với ông S và bà H3 thể hiện:
- T ngày 21/8/2006 (âm lịch) đến 21/9/2006 (âm lịch), số nợ gốc 11.500
USD, với lãi suất 5%/tháng thì số tin lãi hàng tháng là 575 USD;
- 2 cách tính lãi của khoản vay này: 1. Nếu cộng số tin lãi của tháng trước
vào số tin gốc tiếp tục nhân với lãi suất 5%/tháng cho tháng sau, thì tính đến
21/02/2007 (âm lịch), cả gốc và lãi bên vay phải thanh toán là 15.411 USD; 2. Nếu
nhân stin lãi hàng tháng cố định 575 USD với 6 tháng rưỡi chưa thanh toán rồi
cộng vào tin gốc, thì số nợ gốc và lãi sẽ là: 11.500 USD + 575(USD) x 6(tháng) +
tin lãi của ½ tháng là (575 USD : 2 = 287 USD) = 15.237 USD. Số tin 15.411
USD phù hợp với “Giấy vay tin” ngày 21/01/2007 (âm lịch) do ông S giao nộp và
đã được bà H3 tha nhận chính tayviết: “do rất cần một số tin để trả nợ cho ch
N4 nên chúng tôi đã vay của ông S số tin là 15.410 USD t ngày 21/01/2007 và
chúng tôi hẹn ông S đến ngày 21/04/2007 (âm lịch) sẽ thanh toán đầy đủ cho ông
S”. “Giấy vay tin” này chữ của vợ chồng bà H3, ông N3 người làm chứng
Dương Thị Kim N4. Đến nay, ông S không yêu cầu Toà án giải quyết khoản
nợ liên quan đến “Giấy vay tin” này vì thực tế ông S không cho bà H3 vay tin; và
mặc dù số tin mà bà N4 liệt kê tại bảng kê “Hoan Song” và giấy vay tin có chênh
13
lệch 01 USD, nhưng vẫn đủ căn cứ khng định số tin nợ của H3, ông N3
15.411 USD.
- Tại bảng chốt nợ này cũng thể hiện N4 đã được thanh toán số tin 3000
USD 10.578 USD (quy đổi t số tin 170.000.000 VNĐ bán mảnh đất của ông
S) nên số tin còn phải thanh toán 1.659 USD. Tài liệu này phù hợp với lời khai
của những người làm chứng v việc đã thanh toán số tin 170.000.000 đồng cho
N4 để mua mảnh đất của ông Văn S; phù hợp với lời khai của ông S v việc
N4 làm tròn khoản nợ t 1.659 USD còn 1.600 USD các chứng t khác như:
“Giấy vay tin” ngày 19/4/2007 v việc ông Văn S vay của bà Dương Thị Kim
N4 số tin 1.600 USD, có chữ ký của ông S và bên bảo lãnh là Nguyễn Thị H3.
Theo ông S trình y: do H3 còn nợ lại N4 số tin này nhưng để đảm bảo
khoản tin khả năng thanh toán nên N4 buộc ông S phải nhận nợ N4.
H3 không tha nhận, nhưng có cơ sở khng định H3 biết rõ khoản nợ 1.600 USD
chính là số tin mà bà H3 còn nợ bà N4. Đến nay ông S không yêu cầu gì v khoản
tin 1.600 USD này nên HĐXX không xem xét, tuy nhiên đây chứng cứ mối
liên hệ với các chứng cứ khác thể hiện giữa bà H3, ông S và N4 mối quan hệ
vay mượn như ông S trình bày là đúng.
[6.2] Tại giấy biên nhận ngày 28/3/2007 dương lịch (tức ngày 10/02/2007 âm
lịch) thể hiện: “Tên tôi Dương Thị Kim N4, đã nhận số tin trả nợ của ông
Nguyễn Thị H3, Phạm Văn N3 số tin 3000 USD (ba ngàn đô la Mỹ). Tôi hẹn đến
khi nào trả tiếp tin nợ tôi sẽ biên nhận tiếp”. tên Dương Thị Kim N4. H3
tha nhận đã trả bà N4 số tin này, chữ ký trong giấy biên nhận này đúng là chữ ký
của bà. Điu này phù hợp với bảng chốt nợ Hoan Song” v việc N4 đã được
thanh toán 3000 USD.
[6.3] T các phân tích trên cho thấy, mặc dù H3 không tha nhận nhưng
sở khng định: Việc bà Nguyễn Thị H3 nợ Dương Thị Kim N4 số tin
15.411 USD (hoặc 15.410 USD) là có thật trên thực tế.
[7] Xét giao dịch chuyển nhượng mảnh đất của ông Vũ Văn S tại khu vực Đ,
H (nay là phường Đ), thành phố Hải Phòng (mục đích bán để trả nợ cho bà H3):
[7.1] Theo Công văn số 132/VPĐKĐĐ- CNHA ngày 06/6/2023 của Văn
phòng Đ Chi nhánh H cung cấp, tài sản mà ông S cho H3, ông N3 vay để thế chấp
vay tin của Dương Thị Kim N4 tại thời điểm lập “Giấy mượn đất” Giấy chứng
nhận quyn sử dụng đất số I752897, thửa đất số 207/125, tờ bản đồ số 12, diện
tích 80m
2
, do UBND huyện A (cũ) cấp cho ông Vũ Văn S ngày 24/12/1996, tại địa
chỉ: Xã Đ, huyện A (nay là phường H), thành phố Hải Phòng. Tại “Giấy ợn đất”,
các bên sự nhầm lẫn v các thông tin, hiệu của thửa đất này: “Lô 207, thửa
502”, thực tế “thửa đất 207/125”; do UBND huyện A cấp ngày 20/12/1996”,
thực tế “do UBND huyện A cấp ngày 24/12/1996”, các thông tin v diện tích 80m
2
14
chủ sở hữu ông Văn S đúng. Ông S khai, do ông đã giao bìa đỏ cho
H3 để thế chấp cho N4, nên khi cung cấp các thông tin cho H3, ông N3 để lập
“Giấy mượn đất” ông đã không nhớ dẫn đến sự nhầm lẫn trên, ngoài mảnh đất trên,
ông S không còn mảnh đất nào khác. Do vậy, sở khng định thửa đất nêu trong
“Giấy mượn đất” chính là thửa đất thông tin đầy đủ theo Công văn số
132/VPĐKĐĐ- CNHA ngày 06/6/2023 của Văn phòng Đ Chi nhánh H u trên
tài sản thuộc sở hữu của ông S tại thời điểm lập “Giấy mượn đất”.
[7.2] Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Hải T1, ông
Đặng Hữu X trình bày các ông bà trên có thực hiện việc mua bán đất với ông S,
N4 vào tháng 4/2007, giá nhận chuyển nhượng mảnh đất này là 170.000.000 đồng.
Cũng tại Công văn số 132/VPĐKĐĐ- CNHA ngày 06/6/2023 của Văn phòng Đ Chi
nhánh H thể hiện: Thửa đất số 207/125, tờ bản đồ số 12, diện tích 80m
2
, do UBND
huyện A (cũ) cấp cho ông Vũ Văn S ngày 24/12/1996. Ngày 22/6/2012, Văn phòng
đăng quyn sdụng đất - Phòng Tài nguyên và môi trường quận H xác nhận Nhà
nước thu hồi 23,4m
2
tại tha đất này để thực hiện dự án Đầu xây dựng, cải tạo,
nâng cấp đường 356 đoạn 2A do Sở G làm chđầu tư. Ngày 28/6/2012, ông Vũ Văn
S chuyển nhượng thửa đất số 207/125, diện tích 56,6m
2
cho Nguyễn Thị T
được UBND quận H cấp giấy chứng nhận quyn sử dụng đất số Seri BK 455988, số
vào sổ CH01771 ngày 10/12/2012. Ngày 12/12/2017, Nguyễn Thị T đơn xin
cấp đổi Giấy chứng nhận được UBND quận H cấp Giấy chứng nhận quyn sử
dụng đất số seri CM 021608, số vào sổ CH03386 ngày 16/12/2017. Điu này cho
thấy giữa ông S T trên thực tế việc chuyển nhượng thửa đất trên. Số tin
mua bán đất là 170.000.000 đồng phù hợp với văn bản chốt nợ “Hoan Song” của bà
Dương Thị Kim N4, phù hợp với lời khai của những người làm chứng. Do vậy, việc
ông S trình bày đã bán mảnh đất trên cho bà Nguyễn Thị T sau đó dùng số tin này
trả nợ cho bà N4 thay cho H3 là có cơ sở.
[8] T các phân tích chứng cứ nêu trên căn cứ khng định: Mặc H3,
ông N3 phủ nhận việc ông S đã giao Giấy chứng nhận quyn sử dụng đất mang tên
ông S cho H3, ông N3, nhưng thực tế ông Vũ Văn S đã chuyển nhượng mảnh đất
trên cho bà Nguyễn Thị T với giá 170.000.000 đồng để trả nợ ông bà Hoan N5 (trả
cho Dương Thị Kim N4). Ông Hoan N5 cam kết sẽ mua trả lại ông S mảnh
đất đã ợn hoặc trả lại giá trị tại thời điểm thanh toán. Cho đến nay, do ông bà
Hoan N5 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, ông S có yêu cầu buộc ông bà Hoan
N5 thực hiện cam kết tại Giấy mượn đất”, buộc trlại giá trị của mảnh đất đã mượn
là có căn cứ, cần được chấp nhận.
[9] Tuy nhiên, xét thấy, do việc lập các hợp đồng, cam kết không chặt chẽ,
dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau dẫn đến việc phủ nhận trách nhiệm của bên có nghĩa
vụ cũng là một phần lỗi của ông Văn S n cần xem xét chấp nhận một phần yêu
cầu của ông S trên sở phần diện tích đất còn lại trên thực tế đã được xem xét thẩm
15
định, định giá của Hội đồng định giá do Toà án thành lập. Tại Biên bản định giá tài
sản ngày 25/3/2025 đã kết luận: Thửa đất s207/125, tờ bản đồ số 12, tại địa chỉ
TDP H, phường Đ quận H, (nay phường Đ) thành phố Hải Phòng diện tích thực
tế 54,97m
2
; giá trị 40.715.000đ/m
2
; tổng giá trị thửa đất 2.238.103.550 đồng.
Do vậy, HĐXX chấp nhận một phần yêu cầu của ông Văn S, buộc Nguyễn
Thị H3 ông Phạm Văn N3 phải thanh toán cho ông S phần giá trị của thửa đất
còn lại trên thực tế tại thời điểm xét xử 2.238.103.550đ (hai t hai trăm ba mươi
tám triệu một trăm linh ba nghìn năm trăm năm mươi đồng).
[10] Sau khi xét x thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị H3 kháng cáo toàn bộ bn
án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 5 - Hải Phòng, đ nghị Toà án cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Văn S hủy bản án dân sự thẩm hoặc
xét xử phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại giai đoạn phúc thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị H3 không cung cấp thêm được
tài liệu, chứng cứ gì mới làm căn cứ cho HĐXX xem xét kháng cáo của mình.
Quan điểm của kiểm sát viên tại phiên tòa đ nghị Hội đồng xét xử sửa bản
án thẩm v phần án phí áp dụng đối với Nguyễn Thị H3, ông Phạm Văn N3
chỉ phải nộp án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hội
đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Văn S
buộc bị đơn phải thực hiện trả số tin tương đương với giá trị ncho mượn. vậy,
bị đơn bà Nguyễn Thị H3, ông Phạm Văn N3 phải chịu án phí có giá ngạch đối với
số tin phải trả cho ông S, nên không có căn cứ sửa bản án sơ thẩm.
Xét thấy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị
H3; giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 10 tháng 10 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng theo quy định tại khoản 1 Điu
308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[11] V án phí: Căn cứ khoản 1 Điu 147, khoản 1 Điu 148 của Bộ luật Tố
tụng dân sự; khoản 1 Điu 26, khoản 1 Điu 29 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
V án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Văn S được miễn án phí dân
sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu khởi kiện không được Tòa án chấp nhận.
Nguyễn Thị H3, ông Phạm Văn N3 phải chịu án phí dân sự thẩm số tin
72.000.000 đồng + 2% × (2.238.103.550 đồng - 2.000.000.000 đồng) =
76.762.072đ (bẩy mươi sáu triệu bẩy trăm sáu mươi hai nghìn không trăm bẩy ơi
hai đồng).
16
V án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bđơn bà Nguyễn Thị
H3 không được chấp nhận nên H3 phải nộp 300.000 đồng tin án phí dân sự phúc
thẩm. H3 đã nộp số tin tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai
thu tin tạm ứng án phí số 0006120 ngày 10/11/2025 tại Thi hành án dân sự thành
phố Hải Phòng. H3 đã nộp đủ tin án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điu 26, điểm a khoản 1 Điu 35, điểm b khoản 1 Điu
38, điểm a khoản 1 Điu 39, khoản 1 Điu 147, khoản 1 Điu 148, điểm c khoản 1
Điu 217, Điu 273; khoản 1 Điu 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điu 116, 117, 119, 280, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điu 12; khoản 2 Điu 26; khoản 1 Điu 29 của
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị H3; giữ nguyên
Bản án sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 5 - Hải Phòng.
1. Chấp nhận mt phần yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn S:
Buộc bà Nguyễn Thị H3, ông Phạm Văn N3 phải thanh toán cho ông Vũn
S số tin 2.238.103.550đ (hai tỉ hai trăm ba mươi tám triệu một trăm linh ba nghìn
năm trăm năm mươi đồng).
Kể t ngày bản án có hiệu lực, ông Vũ Văn S đơn yêu cầu thi hành án, nếu
người phải thi hành án chưa thi hành khoản tin phải nộp thì hàng tháng còn phải
chịu lãi suất của khoản tin chưa thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điu 466,
468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án cho đến khi thi hành
xong toàn bộ khoản nợ.
2. Đình chỉ yêu cầu buộc các đồng tha kế của cụ Nguyễn Văn C, cụ Vũ Thị
L1 gồm các ông bà: Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị
L, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị H3 phải thực hiện nghĩa vụ bảo ưlãnh thanh toán cho
ông Văn S khoản tin theo cam kết tại phần bảo lãnh trong “Giấy mượn đất”
ngày 22/3/2007;
17
3. Đình chỉ yêu cầu buộc Chủ tịch UBND phường L (là người kế tha quyn
nghĩa vụ ttụng của UBND phường H cũ) phải trách nhiệm liên đới đối với
khoản nợ của các đồng tha kế của cụ Nguyễn Văn C với ông Vũ Văn S.
4. V án phí:
V án phí dân sự thẩm: Nguyên đơn ông Văn S được miễn án phí dân
sự thẩm đối với phần yêu cầu khởi kiện không được Tòa án chấp nhận. Nguyễn
Thị H3, ông Phạm Văn N3 phải chịu án phí dân sự thẩm số tin 76.762.072đ
(bẩy mươi sáu triệu bẩy trăm sáu mươi hai nghìn không trăm bẩy ơi hai đồng).
V án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn Nguyễn Thị H3 phải nộp 300.000
đồng tin án phí dân sự phúc thẩm. Bà H3 đã nộp số tin tạm ứng án phí phúc thẩm
300.000 đồng theo biên lai thu tin tạm ứng án phí số 0006120 ngày 10/11/2025 tại
Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Bà H3 đã nộp đủ tin án phí dân sự phúc
thẩm.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điu 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyn
thỏa thuận thi hành án, quyn yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điu 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điu 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- TAND khu vực 5 - Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 5 - Hải Phòng;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hồng Giang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 169/2026/DS-PT Bản án số 169/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 169/2026/DS-PT Bản án số 169/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất