Bản án số 312/2026/DS-PT ngày 10/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 312/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 312/2026/DS-PT ngày 10/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 312/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Phúc M kiện yêu cầu Nguyễn Thị B trả lại nhà đất.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 312/2026/DS-PT Bản án số 312/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 312/2026/DS-PT Bản án số 312/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 312/2026/DS-PT
Ngày: 10 – 6 – 2026
“V/v Tranh chấp đòi lại tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Ly;
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Quang và bà Nguyễn Thị Thu Trang.
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Kiều Thanh Thanh Thư ký viên Tòa án
nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông
Phan n Công – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk m
phiên tòa xét xphúc thẩm công khai ván thụ s76/2026/TLPT-DS ngày
19 tháng 3 năm 2026 về “Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 06/2026/DS-ST ngày 19 tháng 01 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xsố 247/2026/QĐXXPT-DS ngày 05
tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Phúc M, sinh năm 1976; căn cước công dân số:
************ Thị Thu T, sinh năm 1977; căn cước công dân số:
************; Cùng địa chỉ: C N, phường B, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
Người bo vệ quyền lợi ích hợp pháp ca nguyên đơn: Ông n H
Luật sư, ng ty L2, thuộc Đoàn Luật tỉnh Đ; Địa chỉ: Căn hộ A, Tầng A,
Tòa nhà khu A, Dự án phát triển nhà hội, đường T, phường T, tỉnh Đắk
Lắk; có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyn Thị B, sinh năm 1969; căn cước công dân số:
************; Địa chỉ: Số F Q, thôn B, phường T, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt ti
phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
+ Ông Lăng Minh C, sinh m 2001; Địa chỉ: G N, phường T, tỉnh Đắk
Lắk (Theo văn bản ủy quyn ngày 24/4/2025); vắng mặt đơn đề nghị xét
xử vắng mặt.
2
+ Ông Bùi Quang H1, sinh năm 1985; Địa chỉ: A Đ, phường B, tỉnh Đắk
Lắk, (Theo văn bản ủy quyền ngày 24/4/2025); vắng mặt đơn đnghị xét
xử vắng mặt.
+ Ông Lê Hoàng L, sinh năm 1992; Địa chỉ: A L, phường T, tỉnh Đắk Lắk,
(Theo văn bản ủy quyền ngày 24/4/2025); vắng mặt.
Người bảo vquyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Đỗ Xuân N -
Luật sư, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; Địa chỉ: Số A L, phường T, tỉnh Đắk Lắk;
có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Nguyễn Thị Lan P, sinh m 1940; căn cước công dân số:
************; Người đại diện theo y quyền của bà P: Ông Nguyễn Minh P1,
sinh năm: 1974; căn cướcng dân số: ************; Cùng địa chỉ: Số D Ông
Í, phường B thành phố Hồ Chí Minh, (Theo văn bản ủy quyền ngày
17/01/2026); có mặt.
+ Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh Đ1; Đại diện theo uỷ
quyền: Ông Bùi Đình H2; Địa chỉ: A N, phường B, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
+ Trần Thị Kim L1, sinh m 1953; Địa chỉ: Tổ dân phố B, phưng T,
tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
Do có kháng cáo của bị đơn bà Nguyn Thị B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Ngày 19/12/2024, vợ chồng nguyên đơn nhận chuyển nhượng của
Nguyễn Thị Lan P, sinh năm: 1940; n cước công dân số: ************ do
Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 06/10/2022. Địa chỉ:
D Ông Í, Phường A, 11, phố H gồm các tài sản có thông tin như sau:
Thửa đất số: 232 (cũ 210); tờ bản đồ số: 44 (cũ 10). Diện ch: 1557,9 m
2
;
trong đó đất đô th: 400 m
2
; đất trồng cây ng năm khác: 1.157,9 m
2
. Địa chỉ
thửa đất: Xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (: 68 QL 14, thôn B, xã H, thành phố
B, tỉnh Đắk Lắk). Thuộc Giấy chứng nhận quyền s dụng đất số: DO 809823, số
vào sổ cp GCN: CN 6624; do Chi nhánh phòng đăng ký đất đai thành phố B
cấp ngày 09 tháng 12 năm 2024. Chỉnh thông tin người sử dụng đất ngày 09
tháng 01 năm 2025.
Thửa đất số: 713 (cũ 209A); tờ bản đồ số: 44 (cũ 10). Diện tích: 230,8 m
2
;
trong đó đất tại nông thôn: 100 m
2
; đất trng cây hàng năm kc: 130,8 m
2
.
Địa chỉ thửa đất: H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (: 68 QL 14, thôn B, H,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk). Thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: DO
699383, số vào sổ cấp GCN: CN 4600; do Chi nhánh phòng đăng đất đai
3
thành phố B cấp ngày 07 tháng 11 năm 2024. Chỉnh thông tin người sử dụng
đất ngày 10 tháng 01 năm 2025.
Tài sản trên đất gồm có gian nhà cũ cấp 4, diện tích sử dụng kết cấu nhà 01
tầng trệt xây ng gạch, trần lợp mái tôn, cửa sắt kéo. Vào ngày 22/10/2024,
trước khi thực hiện giao dịch mua bán thì nguyên đơn đã trực tiếp đến nhà số F
QL14, H được bị đơn Nguyễn Thị B con dâu P, được P cho
nhờ trên đất dẫn đi xem tn bộ đất và ranh giới của thửa đất nêu trên. Bà B cho
biết bà có sở hữu riêng nhiều bất động sản khác tọa lạc trên địa bàn xã H (nhà số
A Q, Thôn B, H; Thửa đất số 226 tờ bản đsố 44 giáp ranh với thửa đất 232
nêu trên…). Nguyên đơn người nhận chuyển nhượng quyn sử dụng đất hợp
pháp. Đã được quan có thẩm quyền thực hiện việc đăng biến động theo
quy định của pháp luật. Mặc dù bà P đã nhiều lần liên hệ báo tin cho bị đơn bà B
biết để chủ động thời gian sắp xếp di chuyển về nriêng của mình, đồng thời
bà P cũng có thư gửi bà B thông báo ngày bàn giao nhà cho nguyên đơn và đồng
thời Đơn trình báo gửi chính quyền H, tuy nhiên B vẫn không chịu tr
lại nhà cho bà P.
Ngày 05/3/2025, nguyên đơn đã đến gặp mặt trao đổi trực tiếp với B tại
nhà số F QL14, thôn B, H, thành phố B để yêu cầu B giao nhà. Nguyên
đơn đã tạo điều kiện thống nhất với B kéo dài thời gian đến hết tháng
3/2025 để sắp xếp kế hoạch di dời và sẽ thông báo thời gian cụ thể.
Ngày 26/4/2025, Nguyễn Thị P 02 con ruột ông Nguyễn Minh P1
bà Nguyễn Thị Hà Q cùng vi nguyên đơn có mặt tại nhà số F Q, Thôn B,
H m việc trực tiếp với bà B để bàn giao tài sản chuyển nhượng nêu trên. Biên
bản bàn giao được lập có xác nhận của chính quyền UBND xã H, nhưng bà B có
thái độ không hợp tác vẫn ngang nhiên chiếm giữ bất hợp pháp.
Việc bà B không chịu dời đi, trả lại các tài sản nêu trên đã gây thiệt hại về
vật chất và tinh thần, làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn.
Do đó nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị B di dời ra khỏi nhà
cho ở nhờ, trả lại các tài sản sau cho nguyên đơn:
- Tài sản thứ nhất: Thửa đất số; 232 (cũ 210); tờ bản đsố: 44 (cũ 10).
Diện tích: 1557,9 m
2
; trong đó đất đô thị: 400 m
2
; đất trồng y hàng năm
khác: 1.157,9 m
2
. Địa chỉ thửa đất: Xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay thuộc
phưng T, tỉnh Đắk Lắk).
- Tài sản thứ hai: Thửa đất số; 713 (cũ 209A); tờ bản đsố: 44 (cũ 10).
Diện tích: 230,8 m
2
; trong đó đất tại nông thôn: 100 m
2
; đất trồng cây hàng
m khác: 130,8 m
2
. Địa chỉ thửa đất: H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay
thuộc phường T, tỉnh Đắk Lắk).
4
- i sản thba: Căn nhà 01 tầng trệt cấp 4 được xây trên nền hai thửa
đất, diện tích sử dụng nhà xây tường gch, trần lợp mái tôn, cửa sắt kéo và các
tài sản trên đất.
Nguyên đơn đồng ý tự nguyện hoàn trả giá trị tài sản trên đất cho bà B theo
giá trị tài sn đã định giá.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Nguyễn Thị B người đại diện
theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Phúc M, bà ThThu T yêu
cầu Nguyễn Thị B phải trả cho nguyên đơn thửa đất số 232 (cũ 210), tờ bản
đồ số 44 (cũ 10) tại xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thửa đất số 713 (cũ 209A),
tờ bản đồ số 44 (cũ 10) tại xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk căn nhà cũ 01
tầng trệt cấp 4 được xây dựng trên hai thửa đất nêu trên, bị đơn hoàn toàn không
đồng ý vì:
Tháng 4 năm 1994 Nguyễn Thị B vlàm dâu, chồng ông Nguyễn Như
H3, sinh năm 1962 và các con đều sinh sống cùng cha mẹ chồng của bà B là ông
Nguyễn Minh S, Nguyễn Thị Lan P. Năm 2013 ông S đến sống với con trai
thứ Nguyễn Minh P1 tại thành phố Hồ Chí Minh và từ đó ông S liên tục đi về lại
thành phố B. Đến tháng 6 năm 2013 ông S chết. Trước khi chết ông S để lại
di chúc nội dụng cụ thể như thế nào bà Nguyễn Thị B không được rõ nhưng tóm
tắt ni dung cốt lõi ông S để lại căn nhà thành phố Hồ Chí Minh cho Nguyễn
Minh P1, để lại căn nhà xã H, thành phố B, tnh Đắk Lắk cho ông Nguyễn
Như H3, điều này chính chồng Nguyn Thị B cũng thông báo bằng miệng
cho bà Nguyn Thị B cũng như các con của bà B được biết. Kể từ đó bà Nguyễn
Thị B và các con vẫn chung sống với mẹ chồng là bà Nguyễn Thị Lan P cho đến
cuối năm 2024. Cũng vào thời điểm cuối m 2024 Nguyễn Thị Lan P mới
thông báo với Nguyễn Thị B là bà đã chuyển nhượng căn nhà ở xã H nêu trên
cho người khác. Việc P chuyển nhượng căn nhà của gia đình Nguyễn Thị
B đang mà không được sự đồng ý của Nguyễn Thị B. Do đó, B không
đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông M, T, bởi B không nhờ như
phía nguyên đơn đã trình bày. Việc bên mua chmua trên giấy tờ không xem xét
thực tế, không được bàn giao trên thực địa không phù hợp, n nữa từ thuế
nhà đất bị đơn cũng là người đóng, chủ hộ là ông Nguyễn Như H3 cũng đã được
quan thẩm quyền xác định và sự ổn định về nơi trú của gia đình B từ
m 1992 cho đến nay. Nhà cửa cũng do gia đình Nguyễn Thị B tu sửa, xây
dựng. Quá trình giải quyết vụ án B đề nghị Tòa án tiến hành thu thập chứng
cứ, có hay không di chúc do ông S để lại, để từ đó có căn cứ xem xét toàn bộ 02
thửa đất nêu trên hồ sơ lưu trữ thể hiện như thế nào mà sang qua đứng tên một
mình P rồi P chuyển nhưng cho người khác. Tâm nguyện của cha chồng
chồng của B giữ lại căn nhà làm nơi thcúng cho gia tộc. Do đó,
Nguyễn Thị B cũng sẽ cgắng thực hiện như tâm niệm của những người đã mất.
5
Với những trình bày nêu trên đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo
quy định của pháp luật.
- Đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị Lan P trình bày:
Ngày 19/12/2024 bà Nguyễn Thị Lan P đã chuyển nhượng 02 thửa đất số
232 (cũ 210), tờ bản đồ số 44 (cũ 10) tại xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lk, Thửa
đất s713 ( 209A), tờ bản đồ số 44 (cũ 10) tại H, thành phố B, tỉnh Đắk
Lắk và căn ntrên đất cho vợ chồng ông Huỳnh Phúc M bà Thị Thu T.
P đã thực hiện đy đủ thủ tục pháp lý để chuyển nhượng sang tên tài sản trên
cho vợ chồng ông M T theo đúng quy định pháp luật. Sau khi làm giấy tờ
chuyển nhượng, sang tên cho vợ chồng ông M thì vào ngày 26/4/2025, P
cùng 02 con của bà P và vợ chồng ông M bà T tiến hành bàn giao nhà đất tại số
F QL14, xã H, thành phố B sự xác nhận của UBND H nhưng Nguyễn
Thị B là con dâu của bà P đang ở nhờ trên đất không chịu dời đi để giao nhà cho
vợ chồng ông M T. Nguồn gốc 02 thửa đất trên tài sản của vợ chồng
Nguyễn ThLan P ông Nguyễn Minh S. Sau khi ông S chết năm 2013 thì bà
P và các con trong đó chồng của B ông H3 đã thực hiện việc chia thừa
kế tài sản, các con đã từ chối nhận di sản thừa kế và đồng ý giao i sản cho bà
P, việc chia thừa kế theo đúng quy định của pháp luật đã được chỉnh biến
động sang tên cho bà P vào năm 2016. Như vậy tài sản này là tài sản của bà P và
P quyền bán tài sản y. Việc Nguyễn Thị B trên đất do B
con dâu nên bà P cho nhờ trên đất để tiện trông coi chăm sóc nhà cửa. Khi
P bán tài sản thì báo với B biết để chủ động sắp xếp thời gian dời đi bàn
giao lại nhà cho chủ mới nhưng bà B không chịu dời đi trả lại nhà.
Nay việc chuyn nhượng đã xong P đã nhận đủ tiền và giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đã đứng tên ông Huỳnh Phúc M và Thị Thu T. Ông M
T khởi kiện yêu cầu B trả lại tài sản trên thì P đồng ý với yêu cầu
khởi kiện này.
- Đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng B1 trình bày: Ông Hunh Phúc M
Thị Thu T đảm bảo quan hệ vay vốn cho Trần Thị Kim L1 bằng
tài sản Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DQ 809823 do Chi nhánh
phòng đăng ký đất đai TP B cập nhật biến động ngày 09/01/2025, theo hợp đồng
thế chấp số 01/2025/720784/HĐBĐ ngày 6/2/2025. Trần Thị Kim L1 đang
vay vốn hàng BIDV nhánh B1 theo hp đồng tín dụng số
01/2025/720784/HĐTD ngày 10/2/2025 hợp đồng tín dụng số
02/2025/72078/HĐTD ngày 09/5/2025. Hiện nay Trần Thị Kim L1 trả nợ
đúng hạn cả gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng, không vi phạm nghĩa vtrả nợ
nên ngân hàng không ý kiến gì. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của
pháp lut.
6
- Trần Thị Kim L1 trình bày: L1 là mruột của ThThu T,
hiện nay L1 đang vay vốn ng BIDV nhánh B1 theo hợp đồng n dụng số
01/2025/720784/HĐTD ngày 10/2/2025 hợp đồng tín dụng số
02/2025/72078/HĐTD ngày 09/5/2025, theo hợp đồng thế chấp tài sản số
01/2025/720784/HĐBĐ ngày 6/2/2025 do ông Huỳnh Phúc M và bà Tô Thị Thu
T đảm bảo khoản vay cho L1. Hiện nay L1 trnợ đúng hạn cả gốc lãi
theo hợp đồng tín dụng, không vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên không có ý kiến gì.
Tại bản án dân sự thẩm số 06/2026/DS-ST ngày 19/01/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk đã quyết định:
Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Huỳnh Phúc M và bà Tô Thị Thu T.
Buộc Nguyễn Thị B trả lại tài sản cho ông Huỳnh Phúc M ThThu
T căn nhà, đt các tài sn trên đất tại số F QL A, thôn B, H, thành phố B,
tỉnh Đắk Lắk (nay phường T, tỉnh Đắk Lắk) thuộc 02 thửa đất số 232 tờ bản
đồ số: 44 diện tích: 1557,9 m
2
được Chi nhánh phòng đất đai thành phB
chỉnh lý biến động ngày 09 tháng 01 năm 2025 mang tên ông Hunh Phúc M và
Thị Thu T thửa đất số: 713tờ bản đồ số: 44 diện tích: 230,8 m
2
được
Chi nhánh phòng đất đai thành phố B chỉnh biến động ngày 10 tháng 01
m 2025 mang tên ông Hunh Phúc M và bà Tô Thị Thu T cụ thể:
- Thửa đất số 232, tờ bản đồ số: 44, diện tích: 1557,9 m
2
tọa lạc tại H, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) trị giá 14.583.546.600
đồng. Thửa đất tứ cận như sau: phía Bắc giáp các tha đất 349, 201 212;
phía Đông giáp các thửa đất số 227, 238, 593, 594; phía Tây giáp thửa đất số
226; phía Nam giáp đường QL14.
Tài sản trên đất gồm 01 căn nhà y cấp 4 diện tích 122m
2
trị giá
230.397.000 đồng; mái hiên sau nhà 39m
2
trị giá 16.122.600 đồng; sân xi măng
673m
2
trị giá 31.499.650 đồng; hàng rào phía trước và sau dài 32,34m trị g
34.707.596 đồng; giếng đào trị giá 28.978.000 đồng; chuồng heo 16m
2
trị giá
5.078.880 đồng (tổng vật kiến trúc là 346.783.726 đồng). Cây trồng: 01 cây xoài
trị giá 1.124.900 đồng; 02 y trị giá 2.386.200 đồng; 17 cây sầu riêng trị g
35.605.000 đồng; 98 cây cau trị giá 14.444.800 đồng; 01 cây trị giá
4.757.000 đồng; 03 y măng cụt trị giá 2.700.000 đồng; 02 y vải trị giá
3.588.800 đồng; 01 cây vú sữa trị giá 674.200 đồng; 1 y bòn bon trị giá
604.200 đồng; 02 y mít trgiá 2.002.200 đồng; 03 cây ởi trị giá 459.600
đồng; 01 y ổi trgiá 604.200 đồng; 53 y chuối trị giá 4.452.000 đồng; 02
y thanh long trị giá 484.560 đồng; 01 cây chanh trị giá 533.900 đồng (tổng trị
giá cây trồng là 74.421.560 đồng).
- Thửa đất số 713, tờ bản đồ số: 44, diện tích: 230,8m
2
tọa lạc tại xã H, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay phường T, tỉnh Đắk Lắk) trị giá 4.414.050.000
7
đồng. Tha đất tứ cận như sau: phía Bắc phía Đông giáp thửa đất 232;
phía Tây giáp thửa đất số 328; phía Nam giáp ki ốt bán hàng của ông Đỗ N1.
Tài sản trên đất gồm 01 căn nhà cấp 4 diện tích 94m
2
trị giá 177.519.000
đồng; mái hiên 14m
2
trị giá 4.823.000 đồng; hàng rào sau nhà 7m trị giá
2.429.000 đồng; sân xi măng 91m
2
trị giá 4.499.950 đồng; nhà vệ sinh 2,75m
2
trị
giá 2.397.450 đồng (tng vật kiến trúc 191.668.400 đồng). y trồng: 03 y
cau trị giá 1.471.320 đồng; 02 câytrị giá 7.612.000 đồng; 01 cây sầu riêng trị
giá 7.190.000 đồng (tổng trị giá cây trồng là 16.273.320 đồng).
Chấp nhận ông Huỳnh Phúc M và ThThu T tự nguyện thanh toán
giá trị tài sn trên đất cho bà Nguyễn Thị B số tiền là 629.147.006 đồng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, chi phí xem xét
thẩm định, thẩm định giá tài sản và quyn kháng cáo của các đương sự.
- Ngày 02/2/2026, bị đơn Nguyn Thị B đơn kháng cáo toàn bộ bản
án và đề nghị hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm s 06/2026/DS-ST ngày
19/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 Đắk Lắk, do cho rằng hồ v
án có nhiều thiếu sót chưa được làm rõ, vi phạm đặc biệt nghiêm trọng thủ tục tố
tụng trong hoạt động thu thập chứng cứ y bất lợi cho bị đơn; Chưa phù hợp
với những tình tiết khách quan của vụ án làm ảnh hưởng quyền, lợi ích hợp pháp
của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị
đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
những ngưi tham gia tố tụng đều thực hiện đúng c quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự; Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đưc thẩm tra tại
phiên a; căn cứ vào kết qutranh tụng tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự,
Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn kháng cáo nộp tiền tạm ứng án phí trong
thời hạn quy định là kháng cáo hợp lệ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tại
phiên tòa phúc thẩm bị đơn người đại din uỷ quyền của bị đơn đều đơn
đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến
hành xét xử vắng mặt đương sự.
[2] Về nguồn gốc thửa đất:
Hai thửa đất 232 (cũ 210) 713 (cũ 209A) tờ bản đồ số 44 (cũ 10) lài
8
sản chung của ông Nguyễn Minh S và bà Nguyễn Thị Lan P. Thửa 210 được Ủy
ban nhân dân thị xã B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày
30/11/1993; Thửa 209A được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất vào ngày 24/01/2005. Năm 2013, ông Nguyễn Minh S
chết. Ngày 12/01/2016, hàng thừa kế thnht của ông S gồm vợ là Nguyễn
Thị Lan P và 07 người con lập Văn bản tha thuận phân chia di sản thừa kế (bút
lục 184) và giao cho bà Nguyễn Thị Lan P đưc toàn quyn quản lý và định đoạt
đối với hai thửa đất nêu trên. Ngày 26/01/2016, Chi nhánh Văn phòng ký đất đai
thành phố B chỉnh lý biến động sang tên hai thửa đất trên cho bà Nguyễn Thị
Lan P. Ngày 09/12/2024, bà Nguyn Thị Lan P được Chi nhánh Văn phòng
đất đai thành phố B cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyn sở
hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số DQ 809823 đối với thửa đất 232
(cũ 210); ngày 07/11/2024, P được Chi nhánh Văn phòng đất đai thành
phố B cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
tài sản khác gắn liền với đất số DQ 699383 đối với thửa đất 713 (cũ 209A).
Ngày 19/12/2024, bà Nguyễn ThLan P lập hợp đồng chuyển nhượng hai
thửa đất nêu trên cho ông Huỳnh Phúc M Thị Thu T, được Văn phòng
C1 chứng nhận. Ngày 09/01/2025 và ngày 10/01/2025, Chi nhánh phòng ký đất
đai thành phố B chỉnh biến động mang tên ông Huỳnh Phúc M Thị
Thu T. Như vậy, nguyên đơn ông M, bà T đã được xác lp quyền sử dụng hợp
pháp đối với hai thửa đất nêu trên.
[3] Đối với kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị B:
Xét thấy: Bị đơn cho rằng ông Nguyễn Minh S di chúc để lại nhà đất
cho chồng của bị đơn là ông Nguyễn Như H3. Tuy nhiên, quá trình giải quyết v
án Tòa án sơ thẩm tại phiên tòa phúc thẩm (bị đơn vắng mặt) nhưng không
cung cấp được di chúc hoặc bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh căn nhà và
đất nêu trên tài sản hợp pháp của bị đơn. Hơn nữa lời khai của bị đơn mâu
thuẫn với Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 12/01/2016 do
chính chồng bị đơn ông Nguyễn Như H3 đã tên đồng ý giao quyền i sản
đối vi hai thửa đất trên lại cho P. Việc bị đơn đang trên thửa đất từ m
1994 đến nay là xuất phát từ quan hệ gia đình, bà P cho ở nhờ. Khi P chuyển
nhưng nhà, đất cho nguyên đơn, nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn di dời giao
nhà và đất cho nguyên đơn quản lý sử dụng.
Do đó bản án thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc
bị đơn bà Nguyễn Thị B trả cho nguyên đơn n nhà đất tại thôn B, H,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay phường T, tỉnh Đắk Lắk) thuộc thửa số 232
(cũ 210), tờ bản đồ số 44 (cũ 10), diện tích: 1557,9 m
2
thửa đất s 713 (cũ
209A), tờ bản đồ s44 (cũ 10), diện tích: 230,8 m
2
tại H, thành phố B, tỉnh
Đắk Lắk (nay phường T, tỉnh Đắk Lắk) có căn cứ, đúng pháp luật theo quy
9
định tại Điều 164, 166 Bộ luật Dân sự 2015.
Mặc dù buộc bị đơn phải trả lại nhà đất, nhưng bản án sơ thẩm đã xem xét
toàn diện khách quan công sức duy trì, tôn tạo tài sản của bđơn đã ghi nhận sự
tự nguyện của nguyên đơn trong việc hoàn trả toàn bộ giá trị vật kiến trúc và cây
trồng trên đất cho bị đơn bà B với tổng số tiền 629.147.006 đồng là có căn cứ.
Bị đơn kháng o nhưng không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì mới để
chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó, Hi đồng xét xử phúc
thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn giữ nguyên bản án
thẩm.
[4] Về án phí: Bị đơn kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm theo quy định Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/NQ-
UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị B. Giữ nguyên
bản án dân ssơ thẩm số 06/2026/DS-ST ngày 19/01/2026 của Toà án nhân dân
khu vực 1 – Đắk Lắk.
Áp dụng các Điều 164, 166, 500, 501, 502, 579, Điều 580 Bluật dân sự;
Điều 147, 148, 157, 158, 165, 166 của Bộ luật tố tng dân sự 2015; Điều 26,
Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Phúc
M và bà Tô Thị Thu T.
Buộc bị đơn Nguyễn Thị B trả lại tài sản cho ông Huỳnh Phúc M
Thị Thu T căn n, đất và các tài sản trên đất tại số F QL A, thôn B, xã H, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay phường T, tỉnh Đắk Lắk) thuộc 02 thửa đt số 232
tờ bản đồ số: 44 diện tích: 1557,9 m
2
được Chi nhánh phòng đất đai thành
phố B chỉnh biến động ngày 09 tháng 01 năm 2025 mang n ông Hunh
Phúc M và Tô Thị Thu T và thửa đt số: 713tờ bn đồ s: 44 diện tích: 230,8
m
2
được Chi nhánh phòng đất đai thành phố B chỉnh biến động ngày 10
tháng 01 năm 2025 mang tên ông Huỳnh Phúc M và bà Tô Thị Thu T cụ thể:
10
- Thửa đất số 232, tờ bản đồ số: 44, diện tích: 1557,9 m
2
tọa lạc tại xã H,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay phường T, tỉnh Đắk Lắk) trị giá
14.583.546.600 đồng. Thửa đất tứ cận như sau: phía Bắc giáp các thửa đất
349, 201 và 212; phía Đông giáp các thửa đất số 227, 238, 593, 594; phía y
giáp thửa đất số 226; phía Nam giáp đường QL14.
Tài sản trên đất gồm 01 n nhà xây cấp 4 din tích 122m
2
trị giá
230.397.000 đồng; mái hiên sau nhà 39m
2
trị giá 16.122.600 đồng; sân xi măng
673m
2
trị giá 31.499.650 đồng; hàng rào phía trước và sau dài 32,34m trị g
34.707.596 đồng; giếng đào trị giá 28.978.000 đồng; chuồng heo 16m
2
trị giá
5.078.880 đồng (tổng vật kiến trúc là 346.783.726 đồng). Cây trồng: 01 cây xoài
trị giá 1.124.900 đồng; 02 y trị giá 2.386.200 đồng; 17 cây sầu riêng trị g
35.605.000 đồng; 98 cây cau trị giá 14.444.800 đồng; 01 cây trị giá
4.757.000 đồng; 03 y măng cụt trị giá 2.700.000 đồng; 02 y vải trị giá
3.588.800 đồng; 01 cây vú sữa trị giá 674.200 đồng; 1 y bòn bon trị giá
604.200 đồng; 02 y mít trgiá 2.002.200 đồng; 03 cây ởi trị giá 459.600
đồng; 01 y ổi trgiá 604.200 đồng; 53 y chuối trị giá 4.452.000 đồng; 02
y thanh long trị giá 484.560 đồng; 01 cây chanh trị giá 533.900 đồng (tổng trị
giá cây trồng là 74.421.560 đồng).
- Thửa đất s713, tờ bản đồ số: 44, diện tích: 230,8m
2
tọa lạc tại H,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay phường T, tỉnh Đắk Lắk) trị giá
4.414.050.000 đồng. Thửa đất tứ cận như sau: phía Bắc phía Đông giáp
thửa đất 232; phía y giáp thửa đất số 328; phía Nam giáp ki ốt bán hàng của
ông Đỗ N1.
Tài sản trên đất gồm 01 căn nhà cấp 4 diện tích 94m
2
trị giá 177.519.000
đồng; mái hiên 14m
2
trị giá 4.823.000 đồng; hàng rào sau nhà 7m trị giá
2.429.000 đồng; sân xi măng 91m
2
trị giá 4.499.950 đồng; nhà vệ sinh 2,75m
2
trị
giá 2.397.450 đồng (tng vật kiến trúc 191.668.400 đồng). y trồng: 03 y
cau trị giá 1.471.320 đồng; 02 câytrị giá 7.612.000 đồng; 01 cây sầu riêng trị
giá 7.190.000 đồng (tổng trị giá cây trồng là 16.273.320 đồng).
Chấp nhận ông Huỳnh Phúc M và ThThu T tự nguyện thanh toán
giá trị tài sn trên đất cho bà Nguyễn Thị B số tiền là 629.147.006 đồng.
2. Về chi phí tố tụng xem xét thẩm định, đnh giá tài sản: Bị đơn bà Nguyễn
Thị B phải chịu các chi phí đo vẽ k thut, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá
tài sản tranh chấp, tổng cộng stiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Nguyên đơn không phải chịu chi phí tố tụng và đã nộp tạm ứng 20.000.000
đồng; Buộc bị đơn Nguyn Thị B phải hoàn trả cho nguyên đơn ông Hunh
Phúc M và bà Tô Thị Thu T số tiền 20.000.000 đồng.
3. Về án phí:
11
3.1. Án phí dân s thẩm: Bị đơn Nguyễn Thị B phải chịu 300.000
đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho ông Huỳnh Phúc M Thị Thu T số tiền 300.000
đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ng án p đã nộp tại Chi cục Thi nh án
dân sự thành phố Buôn Ma Thuột (Nay là Thi nh án dân sự tỉnh Đ) theo biên
lai thu số 0001257 ngày 14/4/2025.
3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị B phi chịu 300.000
đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí n sphúc thẩm; nhưng được khấu trừ o
số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai số 0001726 ngày
10/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn
yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mc lãi suất quy ðịnh tại khoản 2 ðiều 468 của B luật Dân sự năm
2015
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyn thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định ti các Điều 6, 7, 7a, 7b và
9 Luật Thi hành án dân s, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án/.
Nơi nhận:
- Vụ giám đốc, kiểm tra II-TANDTC;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 1 - Đắk Lắk (2);
- Phòng THADS khu vực 1 - Đắk Lắk
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Qu
c Ly
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 312/2026/DS-PT Bản án số 312/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 312/2026/DS-PT Bản án số 312/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất