Bản án số 15/2026/HC-PT ngày 12/08/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 15/2026/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 15/2026/HC-PT ngày 12/08/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 15/2026/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/08/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 15/2026/HC-PT Bản án số 15/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 15/2026/HC-PT Bản án số 15/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 15/2026/HC-PT
Ngày 12 08 2026
V/v “Kiện quyết định hành chính
trong lĩnh vực quản lý thuế”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hồng.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Anh và bà Đặng Thị Thu Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hải Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xphúc
thẩm công khai vụ án hành chính thụ số: 05/2026/TLPT-HC ngày 12/5/2026, về
việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 02/2026/HC-ST ngày 31/3/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2026/QĐ-PT ngày 30/6/2026
Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2026/QĐPT-HC ngày 15/7/2026, giữa các đương
sự:
1. Người khi kin: Công ty c phn D.
Người đại din theo pháp lut: Ông Lê Ngc L - Chc v: Tng giám đốc;
Địa ch: S C P, Phường B, tnh Đắk Lk.
Người đại din theo u quyn: Bà Nguyn Th S, sinh năm 1969 Chc v:
Giám đốc tài chính Công ty c phn D; Có mt.
Địa ch: A L, phường B, tnh Đắk Lk;
2. Người b kin: Thuế tnh Đắk Lk.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Anh T Chức vụ: Trưởng thuế tỉnh Đắk
Lắk.
Người đại din theo u quyn: Ông Phm Thanh L1, sinh năm 1975 - Chc v:
Phó trưởng Thuế tnh Đ; Có mt.
Người bo v quyn và nghĩa v ca người b kin: Ông Nguyn S P, sinh
năm 1969 Trưởng phòng Thuế cá nhân, h kinh doanh và thu khác; Có mt.
Cùng địa ch: S A L, phường T, tnh Đắk Lk.
3. Người kháng cáo: Người bị kiện Thuế tỉnh Đ kháng cáo.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình tham gia tố tụng, người khởi kiện Công ty cổ phần D người đại
diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị S cùng trình bày:
Công ty c phần D (Công tD) là Doanh nghiệp kinh doanh Du lịch, Nhà hàng -
Khách sạn dịch vụ vui chơi giải trí Công viên nước. Công ty được Nhà nước cho
thuê trả tiền thuê đất hằng năm và đơn giá thuê đất ổn định chu k05 năm. Hiện công
ty có tổng diện tích đất thuê sử dụng là 91.080,2 m²; trong dó: Diện tích đất xây dựng
Nhà hàng - Khách sạn là 5,997 ; Công viên nước 49.320 khu D 35.763.2
m².
- Căn cứ Nghị đinh 135/2016/NĐ-CP ngày 09/09/2016 của Chính phủ:
- Căn cứ Quyết định số 3535/QĐ-UB ngày 15/12/2000 và hợp dồng thuê đất số
06/HĐ-ngày 14/02/2001, về việc cho Công ty cổ phần D thuê 2730 m²; n cứ
Quyết định số 3539/QĐ-UB ngày 15/12/2000 Hợp đồng thuê đất s08/HĐ-
ngày 14/02/2001, về việc cho Công ty cổ phần D thuê 319 m²; Căn cứ Quyết định số
3536/QĐ-UB ngày 15/12/2000 và Hợp đồng thuê đất số 07/HĐ-TD ngày 14/02/2001
về việc cho Công ty cổ phần D thuê 2948 m². Thời hạn thuê đất của tất cả các thửa
đất nêu trên là 20 năm, kể từ 15/12/2000;
- Căn cứ Quyết đinh số 2230/QĐ-UBND ngày 04/09/2007 vviệc điều chỉnh
Quyết định số 3535/QĐ-UB; Quyết định số 3536/QĐ-UB và Quyết định số 3539/QĐ-
UB ngày 15/12/2000 của UBND tỉnh Đ.
Năm 2021, Công ty cổ phần D nhận được Thông báo số 19/TB-CT ngày
06/01/2021 của Cục thuế tỉnh Đ, về việc điều chỉnh đơn giá thuê đất cho “kỳ điều
chỉnh từ ngày 01/01/2021 đền hết ngày 31/12/2025”. Với số tiền thuê đất công ty phải
nộp tiền thuê đất hàng năm là: 1.494.002.122 đồng. Đơn giá thuê đất cho kỳ điều
chỉnh nêu trên cơ quan Thuế đã áp dụng theo Nghị đinh số 135/2016/NĐ-CP để tính
là hoàn toàn chính xác và phù hợp với các quy định hiện hành.
Năm 2023, Công ty c phần D nhận được Thông báo số 1049/TB-CTĐLA ngày
29/03/2023 của Cục thuế tỉnh Đ, về việc điều chỉnh đơn giá thuê đất áp dụng cho: “Kỳ
điều chỉnh từ ngày 15/12/2020 đền hết ngày 14/12/2025” với số tiền thuê đất công ty
phải nộp tiền thuê đất hàng năm 4.272.120.701 đồng; Theo đó, đến ngày 26/12/2023
Cục thuế tỉnh ban hành quyết đinh miễn giảm số 4319/QĐ-CT về việc giảm tiền thuê
đất năm đối với Công ty cổ phần D, số tiền là 1.271.396.610 đồng.
Công ty không nhất tvới Thông báo số 1049/TB-CTĐLA ngày 29/03/2023 của
Cục thuế tỉnh Đ, vviệc điều chỉnh đơn giá thuê đất áp dụng cho kỳ điều chỉnh từ
ngày 15/12/2020 đến hết ngày 14/12/2025. Công ty đã làm việc trực tiếp với Lãnh đạo
cục Thuế tỉnh Đ Cục T đã cho Công ty nộp tiền thuê đất theo giá thuê đất tại Thông
báo số 19/TB-CT ngày 06/01/2021 (từ năm 2021 đến năm 2024). Tuy nhiên, Cục
Thuế tỉnh Đ không thực hiện thu hồi Thông báo số 1049/TB-TB-CTĐLA ngày
29/03/2023. vậy, đến ngày 04/01/2024 Công ty đã làm Đơn khiếu nại gửi Cục Thuế
tỉnh Đ “Về việc xác định đơn giá thuê đất đã tính theo Nghị định 135/2016/NĐ-CP
của Chính phủ cho kỳ điều chỉnh từ 01/01/2021 đến 31/12/2025” như sau:
Theo tiết a, khoản 8 Điều 3 Nghị định 135/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày
09/09/2016 Hồ sơ thuê đất (Quyết định thuê đất và hợp đồng thuê đất) thì Công ty cổ
3
phần D được UBND tỉnh Đ cho thuê đất từ ngày 15/12/2000; thời hạn thuê 20 năm
tại Quyết định số 2230/QĐ-UB ngày 04/09/2007 của UBND tỉnh Đ, về việc điều chỉnh
thời gian thuê đất t20 năm lên 50 năm, kể từ ngày 15/12/2000 của các Quyết định
số 3535/QĐ-UB; Quyết định số 3536/QĐ-UB Quyết định số 3539/QĐ-UB ngày
15/12/2000 của UBND tỉnh Đ các Hợp đồng s236/HĐ-TĐ, Hợp đồng số 237/HĐ-
TĐ, Hợp đồng số 238/HĐ-ngày 12/9/2007 điều chỉnh thời gian thuê đất từ 20 năm
lên 50 năm, ktừ ngày 15/12/2000. Cho nên Quyết định số 2230/QĐ - UB ngày
04/9/2007 các Hợp đồng số 236/HĐ-TĐ; số 237/HĐ-TĐ; số 238/HĐ-TĐ, ngày
12/9/2007 là Quyết định Hợp đồng điều chỉnh thời gian thuê đất chứ không phải
Quyết định Hợp đồng gia hạn thời gian thuê đất khi Hợp đồng thuê đất hết hạn.
Bởi vì, Công ty được UBND tỉnh cho thuê đất 20 năm, kể từ ngày 15/12/2000, đến
ngày 04/09/2007 được UBND tỉnh Quyết định điều chỉnh thời gian thuê đất lên 50
năm, kể từ ngày 15/12/2000. Như vậy, tính từ ngày 15/12/2000 đến ngày 04/9/2007
thời gian sử dụng đất của Công ty chỉ mới 06 năm 7 tháng 20 ngày thì không thể gọi
Quyết định và Hợp đồng gia hạn thời gian thuê đất như quan điểm của Phòng Tổng
hợp dự toán lý giải cho Công ty khi đến làm trực tiếp tại Cục Thuế tỉnh Đ. Ngoài ra,
Công ty cổ phần D cũng đã được Kiểm toán Nhà nước Khu vực IV thực hiện Kiểm
toán Báo cáo tài chính năm 2022. Kiểm toán đã xác định chi phí hợp lý, hợp lệ, trong
đó chi phí tiền thuê đất năm 2022 để xác định lãi, lỗ kinh doanh năm 2022 của
Công ty và xác định nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước tiền thuế nhà đất, thuê đất
1.753.566.114 đồng (tiền thuế sử dụng đất phi nông nghiệp: 259.563.992 đồng; tiền
thuê đất: 1.494.002.122 đồng) tại Thông báo số 15/TB-KV IV ngày 15/09/2023, về
việc Thông báo Kết quả kiểm toán. Vì vậy, Công ty nhận thấy việc điều chỉnh tiền
thuê đất theo Thông báo số 1049/TB-CTĐLA ngày 29/03/2023 của Cục thuế tỉnh Đ
không đúng với tinh thần Nghị định số 135/2016/NĐ-CP ngày 09/09/2016 của
Chính phủ; theo đó việc xác định miễn giảm tiền thuê đất năm 2023 theo Quyết định
số 4319/QĐ-CT ngày 26/12/2023 của Cục thuế tỉnh Đ, về việc miễn giảm tiền thuê
đất năm 2023 là không phù hợp.
Ngày 25/01/2024, Cục Thuế tỉnh Đ đã Công văn số 333/CTĐLA- HKDCN
gửi Sở Tài Nguyên Môi Trường tỉnh Đ, về viêc đề nghị xác định thời gian điều
chỉnh thuê đất tại Quyết định số 2230/QĐ-UBND ngày 04/9/2007. Tại Công văn này
Cục Thuế tỉnh Đ cũng trích dẫn tại khoản 3 Điều 67 Luật đất đai năm 2003 đối
chiếu với Công văn số 2018/STNMT- QLĐĐ ngày 10/7/2023 của Sở T tỉnh, Cục T1
nhận thấy việc Sở T tỉnh xác định thời gian thuê đất được điều chỉnh là 50 năm, kể từ
15/12/2000 tại Quyết định số 2230/QĐ-UBND ngày 04/9/2007 của UBND tỉnh được
xác định thời gian gia hạn thuê đất cho Công ty cổ phần D chưa phù hợp với
khoản 3 Điều 67 Luật đất đai năm 2003. Đến ngày 04/11/2024 Cục Thuế tỉnh Đ tiếp
tục gửi Công văn số 3323/CTĐLA-HKDCN ngàv 04/11/2024 đến Sở T (nay là Sở
Nông Nghiệp Môi Trường tỉnh Đ) để tiếp tục đề nghị gần 1 năm (Công văn số
333/CTĐLA-HKDCN ngày 25/1/2024) Cục Thuế tỉnh Đ (nay Chi Cục Thuế khu
vực X) không nhận được phản hồi của Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Đ (nay là
Sở Nông Nghiệp và Môi Trường tỉnh Đ), về việc xác định hình thức sử dụng đất (gia
hạn sử dụng đất hay điều chỉnh thời hạn thuê đất) đối với thời gian thuê tăng thêm của
Công ty cổ phần D được điều chỉnh tại Quyết định số 2230/QĐ-UBND ngày
04/9/2007 của UBND tỉnh.
4
Ngày 09/4/ 2025 Sở Nông Nghiệp Môi Trường tỉnh Đ đã Công văn số
832/SNNMT-QLĐĐĐĐBĐ gửi UBND tỉnh Đ, về việc xác định thời hạn thuê đất
được điều chỉnh tăng thêm (kể từ 15/12/2000 đến ngày 15/12/2050) tại Quyết định
3535/QĐ-UBND của UBND tỉnh được xác định là thời gian UBND tỉnh cho Công ty
cổ phần D gia hạn sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 67 Luật đất đai năm
2003; điểm a khoản 2 Điều 34 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của
Chính phủ (có Công văn số 832/SNNMT- QLĐĐĐĐBĐ đính kèm).
Từ những nhận định của Sở Nông Nghiệp Môi Trường tỉnh Đ, đến ngày
17/4/2025 UBND tỉnh Đ có Công văn số 3723/UBND-NNMT gửi Chi Cục Thuế khu
vực X. Đối với thời hạn thuê đất được điều chỉnh tăng thêm (kể từ 15/12/2000 đến
ngày 15/12/2050) tại Quyết định 2230/QĐ-UBND của UBND tỉnh được xác định
thời gian UBND tỉnh cho Công ty cổ phần D gia hạn sdụng đất theo quy định tại
khoản 3 Điều 67 Luật đất đai năm 2003; điểm a khoản 2 Điều 34 Nghị định
181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ.
Sau khi xem xét các điều kiện và chức năng nhiệm vụ của Cơ quan thuế tại Luật
quản lý Thuế và Luật đất đai năm 2003 đã nêu rõ quan Thuế chịu trách nhiệm xác
định các khoản nghĩa vụ nộp ngân sách của các Doanh nghiệp, trong đó tiền thuê
đất theo đúng quy đinh pháp luật. Công văn của Sở Nông Nghiệp và Môi Trường tỉnh
Đ chỉ là văn bản tham chiếu chứ không phải là Văn bản quy phạm pháp luật. Văn bản
tham chiếu xét thấy không phù hợp vói các quy định pháp luật tquan Thuế
quyền thực hiện theo Đúng quy định pháp Luật hiện hành. Mặc vậy, nhưng Chi
Cục Thuế khu vực X vẫn thưc hiên Thông báo tiền thuê đất phải nộp năm 2025 và
Thông báo tiền thuê đất phải nộp bổ sung từ ngày 15/12/2020 đến hết năm 2024 các
đơn vị trực thuộc Công ty thuê 11.557.708.151 đồng (có bảng chi tiết đính kèm),
cũng như việc giải quyết đơn khiếu nại của Công ty không thỏa đáng.
Xuất phát từ những do nhận đinh đã nêu trên. Do đó, ngày 20/8/2025 Công
ty cổ phần D đã làm Đơn khởi kiện Thuế Tỉnh Đ ra Tòa án khu vực 1 - Đắk Lắk. Đơn
khởi kiện yêu cầu Hủy Thông báo số 1049/TB-CTĐLA ngày 29/3/2023 của Cục thuế
tỉnh Đ (nay là Thuế tỉnh Đ) Thông báo số 325/TB-CCT ngày 25/4/2025 của Chi
Cục Thuế khu vực X (nay là T tỉnh Đắk Lắk).
* Quá trình tham gia tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện
Thuế tỉnh Đắk Lắk, ông Phạm Thanh L1 người bảo vệ quyền lợi ích của
người bị kiện ông Nguyễn Sỹ P cùng trình bày nội dung:
sở pháp để Cục Thuế tỉnh Đ ban hành Thông báo số 1049/TB-CTĐLA
ngày 29/3/2023 Chi cục Thuế khu vực X ban hành Thông báo số 325/TB-CCT
ngày 25/4/2025.
1. Tình hình thuê đất của Công ty D (sau này là Công ty Cổ phần D).
Công ty D được UBND tỉnh Đ cho thuê đất với tổng diện ch là 98,461,3m²,
trong đó: diện tích của 03 thửa đất xây dựng khách sạn nhà hàng là 5.997m². Cụ thể
như sau:
(1) Quyết định số 3539/QĐ-UB ngày 15/12/2000 của UBND tỉnh về việc cho
Công ty D thuê 319 m² đất tại số E, đường L, phường T, thành phố B để sử dụng vào
mục đích xây dựng khách sạn; Thời hạn thuê đất 20 năm, kể từ ngày quyết định
cho thuê đất; Thời hạn thuê đất 20 năm, kể từ ngày ký quyết định cho thuê đất.
5
(2) Quyết định số 3536/QĐ-UB ngày 15/12/2000 của UBND tỉnh về việc cho
Công ty D thuê 2.948 đất tại số F, đường P, phường T, thành phố B để sử dụng
vào mục đích xây dựng khách sạn; Thời hạn thuê đất 20 năm, kể từ ngày quyết
định cho thuê đất.
(3) Quyết định số 3535/QĐ-UB ngày 15/12/2000 của UBND tỉnh về việc cho
Công ty D thuê 2.730 đất tại số A, đường P, phường T, thành phố B đsử dụng
vào muc đích xây dựng khách sạn; Thời hạn thuê đất 20 năm, kể từ ngày quyết
định cho thuê đất.
(4) Ngày 04/9/2007, sau khi Công ty D được cổ phần hóa, UBND tỉnh Đ đã ban
hành Quyết định số 2230/QĐ-UBND về việc điều chỉnh Điều 1 của các Quyết định:
Quyết định 3535/QĐ-UB ngày 15/12/2000; Quyết định 3536/QĐ-UB ngày
15/12/2000, Quyết định 3539/QĐ-UB ngày 15/12/2000 của UBND tỉnh, cụ thể:
“Điều 1. Nay điều chỉnh Điều 1 của các Quyết định: Quyết định số 3535/QĐ-
UB, ngày 15/12/2000 “về việc cho Công ty D thuê 2.730m² đất”: Quyết định số
3536/QĐ-UB ngày 15/12/2000” về việc cho Công ty D thuê 2.948 đất”; Quyết
định số 3539/-UB, ngày 15/12/2000 “về việc cho Công ty D thuê 319 m² đất” với
nội dung:
- Tên tổ chức được thuê đất được điều chỉnh là: Công ty cổ phần D.
- Thời gian thuê đất được điều chỉnh là: 50 năm, kể từ ngày 15/12/2000.
Các nội dung khác thực hiện theo Quyết định số 3535/QĐ-UB, ngày 15/12/2000:
Quyết định số 3536/QĐ-UB, ngày 15/12/2000 và Quyết định số 3539/QĐ-UB, ngày
15/12/2000 của UBND tỉnh”.
2. Việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật:
2.1. Căn cứ pháp lý quy định việc điều chỉnh đơn giá thuê đất.
- Tại khoản 2 Điều 4 Thông tư số 333/2016/TT-BTC ngày 26/12/2016 (bổ sung
khoản 3 vào Điều 8 Thông số 77/2014/TT-BTC ngày 15/5/2014) của Bộ T2, quy
định:
“2. Bổ sung Khoản 3 như sau:
3. Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm theo quy
định của pháp luật trước ngày 01 tháng 01 năm 2006 đơn giá cho thuê đất xác
định theo quy định tại một trong các Quyết đinh: Quyết định số 210A-TC/VP ngày 01
tháng 4 năm 1990, Quyết đinh số 1417/TC/TCĐN ngày 30 tháng 12 năm 1994, Quyết
định số 179/1998/QĐ-BTC ngày 24 tháng 02 năm 1998, ... thì việc xác định thu
nộp tiền thuê đất cho thời hạn thuê đất còn lại (không bao gồm trường hợp đã được
gia hạn thời gian thuê đất) được thực hiện như sau:
e) Trường hợp doanh nghiệp thuê đất đã thực hiện cổ phần hoá hoặc chuyển đổi
hình hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp được kế thừa toàn
bộ quyền, nghĩa vụ về đất đai trong đó bao gồm cả thời hạn thuê đất còn lại và không
thay đổi mục đích sử dụng đất trước ngày Nghị định số 135/2016/NĐ-CP có hiệu lực
thi hành thì việc xác định và thu nộp tiền thuế đất cho thời gian thuê đất còn lại tính
từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 được thực hiện theo quy định tại Điểm b, Điểm c, Điểm
d, Đ a Khoản này.”
- Tại Công văn số 4362/BTC-QLCS ngày 16/4/2018 của Bộ T2, hướng dẫn:
6
“…Căn cứ quy định trên, trường hợp doanh nghiệp được Nhà nước cho thuê đất
trả tiền hàng năm trước ngày 01/01/2006, đang sử dụng đất đúng mục đích đã ghi tại
Quyết định cho thuê đất, Hợp đồng thuê đất đã thực hiện cphần hóa, chuyển đổi mô
hình hoạt động trước ngày Nghị định 135/2015/NĐ-CP hiệu lực thi hành nhưng
được thừa kế toàn bộ quyền lợi, nghĩa vụ về đất đai (trong đó bao gồm cả thời gian
thuê đất còn lại của doanh nghiệp trước cổ phần hóa) thì được thực hiện theo quy
đinh tại tiết a điểm 8 khoản 4 Điều 3 Nghi định số 135/2016/NĐ-CP cho thời gian
thuê đất còn lại theo quyết định cho thuê đất của quan nhà nước thẩm quyền
cho doanh nghiệp trước cổ phần hóa. Đối với thời gian gia hạn thêm theo quyết định
cho thuê đất của quan nhà nước thẩm quyền cho doanh nghiệp C thì xác định
đơn giá thuê đất theo chính sách và giá đất tại thời điểm được gia hạn theo quy định
tại điểm 2 khoản 5 Điều 3 Nghị định số 123/2017/NĐ-CP.”
- Tai khoản 5 Điều 3 Nghị định số 123/2017/NĐ-CP ngày 14/11/2017 (sửa đổi
khoản 2 Điều 17 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014) của Chính phủ, quy
định:
“…15. Sửa đổi khoản 2 Điều 17 như sau:
2. Khi được gia hạn sử dụng đất mà người sử dụng đất thuộc đối tượng phải nộp
tiền thuê đất thì tiền thuê đất được xác đinh theo chính sách giá đất tại thời điểm
được gia hạn.”
Căn cứ các quy định nêu trên, Cục Thuế tỉnh Đ (nay là Thuế tỉnh Đ) đã ban hành
Thông báo số 1049/TB-CTĐLA ngày 29/3/2023 về việc điều chỉnh đơn giá thuê đất
đối với Công ty cổ phần D, theo đó đã xác định đơn giá thuê đất như sau:
(1) Đối với diện tích đất 319 m²: Đơn giá thuê đất là 432.000 đồng/m
2
/năm.
(2) Đối với diện tích đất 2.948 m²: Đơn giá thuê đất là 388.800 đồng/m
2
/năm.
(3) Đối với diện tích đất 2.730 m²: Đơn giá thuê dát là 622.080 đồng/m
2
/năm.
2.2. Căn cứ pháp lý quy định việc tính tiền thuê đất
Tại khoản 1 Điều 30 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính
phủ quy định:
“Điều 30. Tính tiền thuê đất
1. Đối với trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm, tiền thuê đất một năm
được tính như sau:
Diện tích tính tiền thuê đất theo Tiền thuê đất một năm quy định tai Điều 24 Nghị
định này
Đơn giá thuê đất hằng năm theo quy định tại khoản 1 Điều 26, khoản 1, điểm a
khoản 2 Điều 27, khoản 1, khoản 2 Điều 28 Nghị định này”
Căn cứ quy định nêu trên, Chi cục Thuế khu vực X (nay là Thuế tỉnh Đ) đã ban
hành Thông báo số 325/TB-CCT ngày 25/4/2025 về việc thông báo nộp tiền thuê đất
đối với Công ty cổ phần D; với tổng số tiền thuê đất phải nộp của tổng diện tích
98.461,3m² là 4.564.568.700 đồng, trong đó số tiền thuê đất phải nộp của 03 thửa đất
xây dựng khách sạn nhà hàng có diện tích 5.997 m
2
là 2.982.268.800 đồng.
3. Ý kiến của quan quản chuyên ngành đất đai ý kiến chỉ đạo của UBND
tỉnh Đ.
7
Để xác định thời gian thuê đất được điều chỉnh tăng thêm tại Quyết đinh số
2230/QĐ-UBND ngày 04/9/2007 của UBND tỉnh Đ, Cục Thuế tỉnh Đ (nay Thuế
tỉnh Đ) đã có Công văn số 1049/CTĐLA-HKDCN ngày 11/4/2023 đề nghị Sở T có ý
kiến về khoảng thời gian thuê đất điều chỉnh tăng thêm 30 năm so với các Quyết đinh
(số 3535/QĐ-UB, số 3565/QĐ-UB số 3539/QĐ-UB) tphải khoảng thời
gian gia hạn thêm cho Công ty cổ phần D hay không?
Ngày 10/7/2023, Sở T tỉnh đã có Công văn số 2018/STNMT-QLĐĐ về việc trả
lời Công văn số 1049/CTĐLA-HKDCN ngày 11/4/2023 của Cục Thuế, theo đó Sở T
xác định Công ty cổ phần D được kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ vđất đai của Công
ty D trong đó bao gồm cả thời hạn thuê đất còn lại (đến ngày 15/12/2020); Đối với
thời gian thuê đất được điều chỉnh tăng thêm tại Quyết định số 2230/QĐ-UBND ngày
04/9/2007 được xác định là thời hạn sử dụng được U cho Công ty cổ phần D.
Để giải quyết dứt điểm đề nghị của Công ty, Cục Thuế tỉnh Đ (nay là Thuế tỉnh
Đ) đã mời đại diện Doanh nghiệp các Sở liên quan họp (Giấy mời số 15/GM-
CTDLA ngày 16/01/2024) để xem xét, giải quyết nội dung đnghị tại Đơn ngày
04/01/2024 của Công ty cổ phần D.
Trên sở nội dung thống nhất tại Biên bản họp liên ngành ngày 19/01/2024,
Cục Thuế tỉnh Đ (nay là Thuế tỉnh Đ) đã có Công văn số 333/CTĐLA-HKDCN ngày
25/01/2024 đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ sớm phản hồi bằng văn bản
xác định thời gian thuê đất được điều chỉnh tại Quyết định số 2230/QĐ-UBND ngày
04/9/2007 của UBND tỉnh Đ thuộc trường hợp là thời gian điều chỉnh thuê đất hay
không. Tuy nhiên, Sở T không ý kiến phản hồi. Do đó, ngày 04/11/2024, Cục Thuế
tỉnh Đ (nav Thuế tỉnh Đ) tiếp tục Công văn số 3323/CTĐLA-HKDCN ngày
25/01/2024 đề nghị Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đ sớm tham mưu U1 ý kiến
xác định khoảng thời gian thuê đất điều chỉnh tăng thêm 30 năm, phải là khoảng
thời gian gia hạn thêm cho Công ty cổ phần D hay không?
Ngày 17/4/2025, UBND tỉnh đã Công văn số 3723/UBND-NNMT về việc
hình thức thuê đất đối với diện tích đất tại số A, đường P, thành phố B của Công ty cổ
phần D (trên sở báo cáo của Sở Nông nghiệp Môi trường tại Công văn số
832/SNNMT-QLĐĐĐĐBĐ ngày 09/4/2025). Trong đó, UBND tỉnh đã nêu rõ: “Đối
với thời hạn thuê đất được điều chỉnh tăng thêm (kể từ ngày 15/12/2020 đến ngày
15/12/2050) tai Quyết định số 3535/QĐ-UB của UBND tỉnh được xác định thời
gian UBND tỉnh cho Công ty cổ phần D gia hạn sử dụng đất theo quy đinh tai khoản
3 Điều 67 Luật Đất đai năm 2003; điểm a khoản 2 Điều 34 Nghị định số 181/2004/NĐ-
CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ.
4. Quan điểm của T1 tỉnh Đắk Lắk:
Việc ban hành Thông báo điều chỉnh đơn giá thuê đất số 1049/TB-CTĐLA ngày
29/3/2023 Thông báo nộp tiền thuê đất s325/TB-CCT ngày 25/4/2025 đối với
Công ty cổ phần D là đúng theo quy định của pháp luật về quản lý thuế, pháp luật về
tiền thuê đất, hướng dẫn của Bộ T2, ý kiến của cơn quan chuyên ngành về quản đất
đai và chỉ đạo của UBND tỉnh.
Từ nội dung vụ việc và các cơ sở pháp đã nêu trên, đnghị Tòa án nhân dân
khu vực 1 – Đắk Lắk bác đơn khởi kiện của Công ty cổ phần D.
* Tại Bản án hành chính thẩm số: 02/2026/HC-ST ngày 31/03/2026 của
8
Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 2 Điều 31; điểm a khoản 2 Điều 116; Điểm b
khoản 2 Điều 193, Điều 194; khoản 1 Điều 206 Luật tố tụng hành chính năm 2015
sửa đổi bổ sung năm 2025;
Căn cứ Điều 67, Điều 107, Điều 108 Luật đất đai năm 2013;
Nghị định s46/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ “Quy định về thu
tiền thuê đất, thuê mặt nước”; Nghị định 135/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày
09/09/2016; Thông tư số 88/2016/TTLT/BTC-BTNMT ngày 22/6/2016 của Bộ T2 -
Bộ T3 quy định về hồ trình tự, thủ tục tiếp nhận, luân chuyển hồ xác định
nghĩa vụ tài chính về đất đai của người sdụng đất; Khoản 3 Điều 10 Nghị định số
109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP
ngày 29/10/2004 của Chính phủ; Thông s333/2016/TT-BTC ngày 26/12/2016
(bổ sung khoản 3 vào Điều 8 Thông tư số 77/2014/TT-BTC ngày 15/5/2014) của Bộ
T2; Nghị định 123/2017/NĐ-CP ngày 14/11/2017 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung
một số điều của các nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuê mặt
nước; Khoản 1 Điều 30 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính
phủ;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện - Công ty cổ phần
D: Hủy Thông báo số 1049/TB-CTĐLA ngày 29/3/2023 về việc điều chỉnh đơn giá
thuê đất áp dụng cho “kỳ điều chỉnh từ ngày 15/12/2020 đến hết ngày 14/12/2025 của
Cục thuế tỉnh Đ (nay Thuế tỉnh Đ); Hủy Thông báo số 325/TB-CCT ngày 25/4/2025
về việc thông báo nộp tiền thuê đất đối với Công ty cổ phần D của Chi Cục Thuế khu
vực X (nay là T tỉnh Đắk Lắk).
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên ván phí quyền kháng cáo cho các đương
sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 15/4/2026, người bị kiện Thuế tỉnh Đắk Lắk
đơn kháng cáo, với nội dung: Người bị kiện Thuế tỉnh Đ kháng cáo toàn bộ Bản án
hành chính thẩm số: 02/2026/HC-ST ngày 31/9/2024 của Tòa án nhân dân Khu
vực 1 - Đắk Lắk, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại theo hướng bác yêu cầu
khởi kiện của người khởi kiện Công ty cổ phần D.
* Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện
Nguyễn Thị S vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện, người bị kiện Thuế tỉnh Đ giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa trình bày ý
kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán tại phiên tòa
Hội đồng xét xử, Thư và các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp
luật về tố tụng hành chính;
- Vnội dung vụ kiện: Tòa án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người
khởi kiện Công ty cổ phần D về việc: Hủy Thông báo số 1049/TB-CTĐLA ngày
29/3/2023 về việc điều chỉnh đơn giá thuê đất áp dụng cho “Kỳ điều chỉnh từ ngày
9
15/12/2020 đến hết ngày 14/12/2025 của Cục thuế tỉnh Đ (nay Thuế tỉnh Đ); Hủy
Thông báo số 325/TB-CCT ngày 25/4/2025 vviệc thông báo nộp tiền thuê đất đối
với Công ty cổ phần D của Chi Cục Thuế khu vực X (nay T tỉnh Đắk Lắk) căn
cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng
hành chính, không chấp nhận kháng cáo của người bị kiện T1 tỉnh Đắk Lắk. Gi
nguyên phần quyết định của Bản án hành chính thẩm số: 02/2026/HC-ST ngày
31/3/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến
của đương sự và của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của người bị kiện Thuế tỉnh Đ đã nộp trong thời
hạn luật định đã nộp tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm. Nên Tòa án cấp
phúc thẩm thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của người bị kiện là Thuế tỉnh Đắk Lắk, Hội đồng xét
xử phúc thẩm thấy rằng:
[2.1] Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành: Thông báo số 1049/TB-CTĐLA
ngày 29/3/2023 của Cục thuế tỉnh Đ (sau đây gọi Thông báo số 1049) Thông
báo số 325/TB-CCT ngày 25/4/2025 Chi Cục Thuế khu vực X (sau đây gọi là Thông
báo số 325) là đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành theo Luật quản lý thuế
năm 2019 và Thông liên tịch số 88/2016/TTLT/BTC-BTNMT ngày 22/6/2016 của
Bộ T2, Bộ T3: Quy định về htrình tự, thủ tục tiếp nhận, luân chuyển hồ sơ xác
định nghĩa vụ tài chính về đất đai của người sử dụng đất.
[2.2] Về căn cứ ban hành các Thông báo số 1049 và 325, thấy rằng:
[2.2.1] Xét nguồn gốc diện tích của 03 thửa đất xây dựng khách sạn nhà hàng
5.997m² mà Công ty cổ phần D bị điều chỉnh giá thuê đất theo Thông báo số 1049 và
Thông báo số 325 là hai quyết định hành chính bị kiện có nguồn gốc như sau:
Tại Quyết định số 3539/QĐ-UB ngày 15/12/2000 của UBND tỉnh về việc cho
Công ty D thuê 319 m² đất tại số E, đường L, phường T, thành phố B; Quyết định số
3536/QĐ-UB ngày 15/12/2000 của UBND tỉnh về việc cho Công ty D thuê 2.948
đất tại số F, đường P, phường T, thành phố B Quyết định số 3535/QĐ-UB ngày
15/12/2000 của UBND tỉnh về việc cho Công ty D thuê 2.730 m² đất tại số A, đường
P, phường T, thành phố B. Theo các Quyết định trên đều xác định việc thuê đất được
sử dụng vào mục đích xây dựng khách sạn; Thời hạn thuê đất 20 năm, kể từ ngày ký
quyết định cho thuê đất; giá đất thuê đất được ổn định tối thiểu 05 năm và được điều
chỉnh trong trường hợp UBND tỉnh điều chỉnh giá đất và cho thuê đã được ổn định
quá 5 năm.
Sau khi Công ty D được cổ phần hóa thành Công ty cphần D. Ngày 04/9/2007,
UBND tỉnh Đ đã ban hành Quyết định số 2230/QĐ-UBND về việc điều chỉnh Điều 1
của các Quyết định: Quyết định 3535/QĐ-UB ngày 15/12/2000; Quyết định
3536/QĐ-UB ngày 15/12/2000, Quyết định 3539/QĐ-UB ngày 15/12/2000 của
UBND tỉnh, cụ thể:
“Điều 1. Nay điều chỉnh Điều 1 của các Quyết định: Quyết định số 3535/QĐ-
UB, ngày 15/12/2000 “về việc cho Công ty D thuê 2.730m² đất”: Quvết định số
10
3536/QĐ-UB ngày 15/12/2000” về việc cho Công ty D thuê 2.948 đất”; Quyết
định số 3539/QĐ-UB, ngày 15/12/2000 “về việc cho Công ty D thuê 319 m² đất” với
nội dung:
- Tên tổ chức được thuê đất được điều chỉnh là: Công ty cổ phần D.
- Thời gian thuê đất được điều chnh là: 50 năm, kể từ ngày 15/12/2000.
Các nội dung khác thực hiện theo Quyết định số 3535/QĐ-UB, ngày
15/12/2000: Quyết định số 3536/QĐ-UB, ngày 15/12/2000 Quyết định số
3539/QĐ-UB, ngày 15/12/2000 của UBND tỉnh”.
Ngày 12/9/2007, UBND tỉnh Đ ký lại các Hợp đồng thuê đất số 236;237;238 với
Công ty cổ phần D, nội dung tại Điều 1 các hợp đồng đều xác định: “Thời hạn
thuê đất là 50 năm, kể từ 15/12/2000”.
[2.2.2] Sau khi thuê đất Công ty cổ phần D đã sử dụng đất ổn định, đồng thời
thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty đối với nghĩa vthuế thuê đất đúng theo
các nội dung tại Quyết định số 2230/QĐ-UBND ngày 04/9/2007 của y ban nhân
dân tỉnh Đ các Hợp đồng thuê đất số 236;237;238 ngày 12/9/2007 đến thời điểm
ngày 16/9/2023 được Kiểm toán nhà nước Khu vực IV thông báo kết quả kiểm toán.
Quá trình thuê đất sử dụng thì giữa UBND tỉnh Đ công ty không phát sinh, thay
đổi nội dung thỏa thuận nào khác liên quan đến việc thuê đất theo Quyết định số
2230/QĐ-UBND ngày 04/9/2007 các Hợp đồng thuê đất số 236;237;238 ngày
12/9/2007.
[2.2.3] Tại khoản 2 Điều 4 Thông tư số 333/2016/TT-BTC ngày 26/12/2016 (bổ
sung khoản 3 vào Điều 8 Thông tư số 77/2014/TT-BTC ngày 15/5/2014) của Bộ T2,
quy định:
“2. Bổ sung Khoản 3 như sau:
3. Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm theo quy
định của pháp luật trước ngày 01 tháng 01 năm 2006 đơn giá cho thuê đất xác
định theo quy định tại một trong các Quyết đinh: Quyết định số 210A-TC/VP ngày 01
tháng 4 năm 1990, Quyết đinh số 1417/TC/TCĐN ngày 30 tháng 12 năm 1994, Quyết
định số 179/1998/QĐ-BTC ngày 24 tháng 02 năm 1998, ... thì việc xác định thu
nộp tiền thuê đất cho thời hạn thuê đất còn lại (không bao gồm trường hợp đã được
gia hạn thời gian thuê đất) được thực hiện như sau:
e) Trường hợp doanh nghiệp thuê đất đã thực hiện cổ phần hoá hoặc chuyển đổi
hình hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp được kế thừa toàn
bộ quyền, nghĩa vụ về đất đai trong đó bao gồm cả thời hạn thuê đất còn lại và không
thay đổi mục đích sử dụng đất trước ngày Nghị định số 135/2016/NĐ-CP có hiệu lực
thi hành thì việc xác định và thu nộp tiền thuế đất cho thời gian thuê đất còn lại tính
từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 được thực hiện theo quy định tại Điểm b, Điểm c, Điểm
d, Đ a Khoản này.”
Đối chiếu quy định trên, sau khi cổ phần hoá thì Công ty cổ phần D được kế thừa
toàn bộ quyền, nghĩa vụ về đất đai trong đó bao gồm cả thời hạn thuê đất xác định là
50 năm, kể từ 15/12/2000 theo Quyết định số 2230/QĐ-UBND ngày 04/9/2007 của
Ủy ban nhân dân tỉnh Đ và các Hợp đồng thuê đất số 236;237;238 ngày 12/9/2007.
- Tại khoản 3 Điều 67 Luật đất đai năm 2003 quy định:
11
“3. Thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức kinh tế để sử dụng vào mục
đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối; tổ chức kinh
tế, hộ gia đình, nhân để sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng sở sản xuất, kinh
doanh; tổ chức kinh tế để thực hiện các dự án đầu tư; người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam được
xem xét, quyết định trên sở dự án đầu hoặc đơn xin giao đất, thuê đất nhưng
không quá năm mươi năm; đối với dự án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm,
dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện
kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn mà cần thời hạn dài hơn thì thời hạn giao đất, cho
thuê đất là không quá bảy mươi năm.
Khi hết thời hạn, người sử dụng đất được Nhà nước xem xét gia hạn sử dụng đất
nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng, chấp hành đúng pháp luật về đất đai trong quá trình
sử dụng việc sử dụng đất đó phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt”.
- Tại Điều 141 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của
chính phủ về thi hành luật đất đai, quy định.
Điều 141. Trình tự, thủ tục gia hạn sử dụng đất đối với tổ chức kinh tế, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, nhân nước ngoài sử dụng đất;
hộ gia đình, nhân sử dụng đất phi nông nghiệp; hộ gia đình, nhân không trực
tiếp sản xuất nông nghiệp được Nhà nước cho thuê đất nông nghiệp
1. Trước khi hết hạn sử dụng đất sáu (06) tháng, người sử dụng đất có nhu cầu
gia hạn sử dụng đất nộp một (01) bộ hồ tại Sở T đối với tổ chức kinh tế, người Việt
Nam định ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài; nộp tại Phòng
T4 đối với hộ gia đình, cá nhân; hồ sơ gồm có:
a) Đơn xin gia hạn sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân hoặc đối với tổ chức
kinh tế, người Việt Nam định nước ngoài, tổ chức nước ngoài, nhân nước
ngoài xin gia hạn sử dụng đất không vượt quá mười hai (12) tháng;
b) Dự án bổ sung về sản xuất, kinh doanh đã được xét duyệt đối với tổ chức kinh
tế, người Việt Nam định nước ngoài, tổ chức nước ngoài, nhân nước ngoài
xin gia hạn sử dụng đất trên mười hai (12) tháng.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt dự án đầu tư thực hiện xét duyệt dự
án bổ sung đối với trường hợp dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước dự án
vốn đầu nước ngoài. SKế hoạch Đầu tư thực hiện việc xét duyệt dự án bổ sung
đối với dự án sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp mà không sử dụng vốn ngân sách
nhà nước không phải dự án vốn đầu nước ngoài. Sở N thực hiện việc xét
duyệt dự án bổ sung đối với dự án sản xuất nông nghiệp mà không sử dụng vốn ngân
sách nhà nước và không phải là dự án có vốn đầu tư nước ngoài.
2. Việc gia hạn được quy định như sau:
a) quan tài nguyên môi trường trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, xác định
nhu cầu sử dụng đất phù hợp với đơn xin gia hạn hoặc dự án bổ sung về sản xuất,
kinh doanh đã được xét duyệt; trình Uỷ ban nhân dân cùng cấp quyết định gia hạn;
chỉ đạo Văn phòng đăng quyền sử dụng đất trực thuộc làm trích sao hồ địa
chính;
b) Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm làm trích sao hồ sơ địa
chính gửi cơ quan tài nguyên và môi trường cùng cấp và gửi số liệu địa chính cho cơ
12
quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính;
c) Người sdụng đất trách nhiệm nộp giấy chứng nhận quyền sdụng đất đã
hết hạn, nộp chứng từ đã thực hiện xong nghĩa vụ tài chính đối với trường hợp được
gia hạn sử dụng đất cho C1;
d) quan tài nguyên và môi trường trách nhiệm chỉnh thời hạn sử dụng
đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp được gia hạn sử dụng
đất;
đ) Thời gian thực hiện các công việc quy định tại các điểm a, b, c d khoản này
không quá hai mươi (20) ngày làm việc (không kể thời gian người sử dụng đất thực
hiện nghĩa vụ tài chính) kể từ ngày quan tài nguyên và môi trường nhận đủ hồ sơ
hợp lcho tới ngày người sử dụng đất nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
3. Đối với những trường hợp không đủ điều kiện được gia hạn sử dụng đất thì
cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện việc thu hồi đất theo quy định tại khoản
3 Điều 132 của Nghị định này.
Đối chiếu quy định trên, thì những trường hợp gia hạn thuê đất phải thực hiện
đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật đất đai, nhưng Công ty cổ phần D
vẫn đang còn trong thời hạn thuê đất được được xác lập tại Quyết định số 2230/QĐ-
UBND ngày 04/9/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ các Hợp đồng thuê đất số
236;237;238 ngày 12/9/2007 với Ủy ban nhân dân tỉnh Đ không phải gia hạn sử
dụng đất.
Căn cứ để Cục thuế tỉnh Đ ban hành Thông báo s1049 xác định lại đơn giá thuê
đất cho “Kỳ điều chỉnh từ ngày 15/12/2020 đến hết ngày 14/12/2025 là theo khoản 5
Điều 3 Nghị định số 123/2017/NĐ-CP ngày 14/11/2017 (sửa đổi bổ khoản 2 Điều 17
Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2017 của Chính phủ) quy định.
“5. Sửa đổi khoản 2 Điều 17 như sau:
2. Khi được gia hạn sử dụng đất mà người sử dụng đất thuộc đối tượng phải nộp
tiền thuê đất thì tiền thuê đất được xác định theo chính sách giá đất tại thời điểm
được gia hạn.
Đối với trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm thì chu kỳ ổn định đơn
giá thuê đất tính từ thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định
gia hạn thời gian thuê đất. Trường hợp thời điểm hết thời gian thuê đất trước khi cơ
quan nhà ớc thẩm quyền ban hành quyết định gia hạn thời gian thuê đất thì
người sử dụng đất phải nộp tiền thuê đất hàng năm đối với khoảng thời gian này theo
đơn giá xác định trên sở giá đất tại Bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất, tlệ
phần trăm (%) tính đơn giá thuê đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành.”
Tuy nhiên, như đã xác định tại Quyết định số 2230/QĐ-UBND ngày 04/9/2007
của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ các Hợp đồng thuê đất số 236;237;238 ngày 12/9/2007
giữa Công ty cổ phần D với Ủy ban nhân dân tỉnh Đ đã xác định: Thời gian thuê đất
được điều chỉnh là: 50 năm, kể từ ngày 15/12/2000”.
Thời điểm UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định 2230 thì Công ty D mới chỉ s
dụng đất trong thời gian được thuê đất 06 năm 7 tháng 20 ngày, trong quá trình thực
hiện hợp đồng giữa Công ty cổ phần D UBND tỉnh Đ không hề phát sinh thủ tục
gia hạn thuê đất. Do đó, Thông báo số 1049 của Thuế tỉnh Đ xác định thời gian ổn
13
định thuế 05 năm, từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/12/2025 khoảng thời gian Công
ty cổ phần D được gia hạn sử dụng đất để điều chỉnh đơn giá thuê đất đối với Công ty
cổ phần D không đảm bảo quy định của pháp luật, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi
ích hợp pháp của người khởi kiện. (Chính tại Công văn số: 333/CTĐLA- HKDCKCN
ngày 25/01/2024 của Cục thuế tỉnh Đ gửi Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cũng
xác định Công văn số 2018/STNMT-QLĐĐ ngày 10/7/2023 của ST tỉnh xác định
thời gian điều chỉnh 50 năm, kể từ ngày 15/12/2020 tại Quyết định số 2230/QĐ-
UBND ngày 04/9/2007 của UBND tỉnh được xác định thời gian gia hạn thuê đất
cho Công ty cổ phần D chưa phù hợp với khoản 3 Điều 67 Luật đất đai năm
2003…”.
Đến ngày 25/4/2025, Chi cục thuế Khu vực X (thuế tỉnh Đắk Lắk) tiếp tục ban
hành thông báo nộp tiền số 325/TB-CCT ngày 25/4/2025 vtiền thuê đất theo hình
thức nộp hàng năm với giá đất được điều chỉnh theo Thông báo số 1049 cũng không
đảm bảo quy định của pháp luật, gây ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của
người khởi kiện.
[2.2.4] Đối với các Công văn số 2018/STNMT-QLĐĐ ngày 10/7/2023 của Sở T
và Công văn số 3723/UBND-NNMT của UBND tỉnh Đ, xét thấy đây là văn bản trao
đổi thông tin không phải văn bản quy phạm pháp luật đáp dụng. Ngoài ra, các văn
bản trả lời trên không phù hợp mâu thuẫn với nội dung đã được xác định tại Quyết
định số 2230/QĐ-UBND ngày 04/9/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ các Hợp
đồng thuê đất số 236;237;238 ngày 12/9/2007 giữa Ủy ban nhân dân tỉnh ĐCông
ty cổ phần D như đã phân tích tại các mục [2.2.1] đến [2.2.3].
[2.2.5] Quá trình giải quyết vụ kiện, nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm chưa đưa chủ
thể cho thuê đất là UBND tỉnh Đ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi
và nghĩa vụ liên quan trong vụ án là có phần thiếu sót. Tuy nhiên, xét thấy trong quá
trình ban hành các Thông báo số 1049, Thông báo s325 thì người bị kiện Thuế
tỉnh Đắk Lắk đã có văn bản yêu cầu cho ý kiến đối với thời gian thuê đất của Công ty
cổ phần D, tại các văn bản là Công văn số 2018/STNMT-QLĐĐ ngày 10/7/2023 của
Sở T và Công văn số 3723/UBND-NNMT của UBND tỉnh Đ đã ý kiến đối với thời
gian thuê đất của Công ty cổ phần D, nđã nhận định tại mc [2.2.4] thì các văn bản
đã được xem xét, những văn bản này mang tính chất trao đổi thông tin không phải là
văn bản quy phạm pháp luật đáp dụng nội dung tại các công văn trả lời không
phù hợp với nội dung thời hạn thuê đất đã được xác định tại Quyết định số 2230/-
UBND ngày 04/9/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ các Hợp đồng thuê đất số
236;237;238 ngày 12/9/2007 giữa y ban nhân dân tỉnh Đ Công ty cổ phần D.
Việc đưa thiếu người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng trong vụ án là
vi phạm tố tụng tại cấp thẩm, tuy nhiên không làm thay đổi bản chất, quyết định
của vụ án nên Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[3] Từ những phân tích, nhận định tmục [2.2.1] đến [2.2.6], Hội đồng xét xử
phúc thẩm xét thấy, yêu cầu kháng cáo của người bị kiện Thuế tỉnh Đ không có căn
cứ để chấp nhận, cần ginguyên phần quyết định của Bản án thẩm số: 05/2024/HC-
ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk.
[4] Về án phí hành chính phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được cấp nhận
nên Thuế tỉnh Đắk Lắk phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp
14
luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính Không chấp nhận kháng
cáo của người bị kiện T1 tỉnh Đắk Lắk. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số:
02/2026/HC-ST ngày 31/3/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk.
- Áp dụng Điều 35, 67, 105,107 108 Luật đất đai năm 2003; Luật quản thuế
năm 2019; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của chính phủ
về thi hành luật đất đai năm 2003; Nghị định số ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính
phủ quy định về thu tiền sử dụng đất và Nghị định số ngày 15 tháng 5 năm 2014 của
Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; Nghị định số 135/2016/NĐ-
CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị
định quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; Nghị định số
123/2017/NĐ-CP ngày 14/11/2017 (sửa đổi bổ khoản 2 Điều 17 Nghị định số
46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2017 của Chính phủ); Thông tư số 333/2016/TT-BTC
ngày 26/12/2016 (bổ sung khoản 3 vào Điều 8 Thông số 77/2014/TT-BTC ngày
15/5/2014) của Bộ T2; Khoản 1 Điều 32, khoản 1 Điều 33 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện Công ty cphần D, vviệc:
- Hủy Thông báo số 1049/TB-CTĐLA ngày 29/3/2023 về việc điều chỉnh đơn
giá thuê đất áp dụng cho “kỳ điều chỉnh từ ngày 15/12/2020 đến hết ngày 14/12/2025
của Cục thuế tỉnh Đ (nay là Thuế tỉnh Đ)”;
- Hủy Thông báo số 325/TB-CCT ngày 25/4/2025 về việc thông báo nộp tiền
thuê đất đối với Công ty cổ phần D của Chi Cục Thuế khu vực X (nay là T tỉnh Đắk
Lắk).
2. Về án phí:
2.1 Án phí hành chính thẩm: Thuế tỉnh Đắk Lắk phải chịu 300.000 đồng án
phí hành chính thẩm. Hoàn trả cho Công ty cổ phần D số tiền 300.000 đồng tạm
ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số: 0000736 ngày 11/9/2025
của Thi hành án hình sự tỉnh Đắk Lắk.
2.2 Án phí hành chính phúc thẩm: Thuế tỉnh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí
hành chính thẩm, được khấu trừ vào tạm ứng án phí Thuế tỉnh Đ đã nộp (do bà
Nguyễn Thị B nộp) tại Thinh án dân sự tỉnh Đắk Lắk theo biên lai thu số 0004602
ngày 24/4/2026.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
15
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 1 – Đắk Lắk;
- VKSND khu vực 1 – Đắk Lắk;
- Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
(đã ký)
Nguyễn Văn Hồng
[2.2.5] Xét Quyết định s4319/QĐ-CT ngày 26/12/2023 của Cục thuế tỉnh Đ về
việc giảm tiền thuê đất đối với Công ty cổ phần D là quyết định hành chính liên
16
quan, bởi lẽ Quyết định xét miễn giảm được thực hiện sau khi Cục thuế ban hành
Thông báo số 1049/TB-CTĐLA ngày 29/3/2023 (là quyết định hành chính bị kiện).
Tuy nhiên, tòa án cấp thẩm chưa xem xét phần thiếu sót, do Thông báo số
1049, Thông báo s 325 được ban hành là không phù hợp với quy định của pháp luật,
ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty cổ phần D. Do đó, căn cứ vào
khoản 1 Điều 6; khoản 3 Điều 191 LTTHC, tòa án cấp phúc thẩm xem xét và hủy
Quyết định số 4319/QĐ-CT ngày 26/12/2023 của Cục thuế tỉnh Đ về việc giảm tiền
thuê đất đối với Công ty cổ phần D đây quyết định hành chính liên quan, nhằm
đảm bảo việc giải quyết vụ án được triệt để đảm bảo công tác thi hành án hành
chính không bị chồng chéo.
3. Người có quyn li và nghĩa v liên quan:
3.1 Ủy ban nhân dân tỉnh Đ; Địa chỉ: Số I L, phường B, tỉnh Đắk Lắk;….mặt
3.2 Sở Nông nghiệp và i trường tỉnh Đ; Địa chỉ: Số D N, phường T, tỉnh Đắk
Lắk…..mặt.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 15/2026/HC-PT Bản án số 15/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 15/2026/HC-PT Bản án số 15/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất