Bản án số 148/2026/HS-PT ngày 12/08/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 148/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 148/2026/HS-PT ngày 12/08/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 148/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyễn Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 148/2026/HS-PT Bản án số 148/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 148/2026/HS-PT Bản án số 148/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 148/2026/HS-PT
Ngày: 12-8-2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tấn Lợi.
Các Thẩm phán: Ông Đinh Chí Tâm.
Bà Nguyễn Thị Ánh Phương.
- Thư phiên tòa: Ông Bùi Công Danh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Trần Ngọc Hà - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06/8/2026 ngày 12/8/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai
vụ án hình sự phúc thẩm thụ s
170/2026/TLPT-HS ngày 17 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Văn T, do
kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 81/2026/HS-ST ngày
22 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1969;
giới tính: nam; số căn cước công dân: ************; nơi trú: ấp T, C,
tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn 05/12; dân tộc: Kinh; tôn
giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) bà
Nguyễn Thị B1 (đã chết); bị cáo 01 người chị 05 người em, lớn nhất sinh
năm 1968, nhỏ nhất sinh năm 1984; vợ: Thị N, sinh năm 1969; bị cáo 03
người con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án: 01 lần -
ngày 20/12/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử
phạt tiền 65.000.000 đồng về tội Tổ chức đánh bạc” (theo bản án hình sự
thẩm số 190/2024/HS-ST), chưa xóa án tích; tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng
biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/10/2025 cho đến nay. Bị
cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1968 (có mặt);
Địa chỉ thường trú: Số C đường L, phường Đ, tỉnh Đồng Tháp.
Ngoi ra, trong v án bị hại không kháng cáo v Vin kim sát không
kháng ngh.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Văn T ông Nguyễn Văn V mâu thuẫn trong việc
tranh chấp đất đai từ trước. Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 30/7/2025, ông V
trên đường đi thăm vườn, khi đến cầu H thuộc ấp A, L, tỉnh Đồng Tháp thì
gặp bị cáo T từ trong vườn của bcáo chạy xe ra, mang theo 01 cái liềm dài
43,5cm, tay cầm bằng gỗ dạng trụ tròn dài 22cm; lưỡi bằng kim loại dài 21,5cm,
bản rộng nhất 2,7cm, lưỡi cong hình chữ “C”, sắc một cạnh, mũi bị gãy tạo góc
nhọn. Lúc này, bị cáo T chửi ông V thì cả hai xảy ra cự cãi, đánh nhau; trong lúc
đánh nhau ông V cắn bị cáo T y thương tích vùng môi và sống mũi, còn bị
cáo T cầm trên tay phải 01 cái liềm đánh, chém trúng vào vùng tay phải ông V
gây thương tích, lúc này ông V dùng 01 nhánh cây khô đánh vào vùng tay, vai
của bị cáo T làm rớt cái liềm nhưng không gây thương tích cho bị cáo, do được
can ngăn nên cả hai dừng lại. Sau khi bị thương, cả hai đều tự đến sở y tế
điều trị. Đến ngày 11/8/2025, ông V đến Công an L, tỉnh Đồng Tháp tgiác
sự việc.
Tại Bản kết luận giám định số 113-2025/KLTTCT-TTPY ngày 26/8/2025
của Trung tâm pháp y tỉnh Đ đối với ông Nguyễn Văn V, kết luận:
“1. Các kết quả chính: Kết quả khám giám định: Sẹo vết thương kngón
II, III bàn tay phải; Sẹo vết thương mặt lưng đốt gần ngón III bàn tay phải; Sẹo
vết thương mặt lưng liên đốt 1, 2 ngón III bàn tay phải; Đứt gân duỗi ngón III
tay phải gây cứng khớp liên đốt 1, 2 ngón III tay phải.
2. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn V tại thời
điểm giám định là 06% (sáu phần trăm)”.
Tại Bản kết luận giám định số 118-2025/KLTTCT-TTPY ngày 26/8/2025
của Trung tâm pháp y tỉnh Đ đối với bị cáo Nguyễn Văn T, kết luận:
“1. Các kết quả chính: Kết quả khám giám định: Sẹo vết thương nằm
ngang sóng mũi, bờ dưới đầu trong cung mày, bờ mép vết sẹo nham nhỡ; Sẹo
vết thương niêm mạc môi trên bên phải, bờ mép vết sẹo nham nhỡ.
2. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T tại thời
điểm giám định là 05% (năm phần trăm)”.
Tại Bản Kết luận giám định số 124/KL-KTHS ngày 19/01/2026 của
Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: “Mẫu vật gửi giám định hiệu A không
thuộc Danh mục dao tính sát thương caotheo Thông s75/2024/TT-
BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C”.
* Vật chứng, đồ vật thu giữ v xử lý:
- 01 (một) cành cây khô, hình trụ, không hình dạng được chia thành 02
nhánh dài 102cm;
3
- 01 (một) i liềm dài 43,5cm, cấu tạo đặc điểm bản gồm: tay cầm
bằng gỗ dạng trụ tròn dài 22cm; lưỡi bằng kim loại dài 21,5cm, bản rộng nhất
2,7cm, lưỡi cong hình chữ “C”, sắc một cạnh, mũi bị gãy tạo góc nhọn.
Ti bn án hình s sơ thẩm s 81/2026/HS-ST ngày 22/4/2026 ca Tòa
án nhân dân Khu vc B - Đồng Tháp (còn viết tt bn án thẩm) đã
quyết định:
1. Tuyên bố bị o Nguyễn Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích” theo
quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, Điều 32, Điều 38,
điểm b khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Nguyễn Văn T tự nguyện bồi
thường cho ông Nguyễn Văn V số tiền 14.000.000 đồng đã nộp tại Phòng Thi
hành án dân sự Khu vực B - Đồng Tháp, nên ông Nguyễn Văn V được liên hệ để
nhận số tiền này.
Ngoài ra bản án còn quyết định về xử vật chứng, án phí thông báo
quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 01/5/2026, bị cáo Nguyễn Văn T đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.
Bị o cho rằng hành vi gây thương tích cho bị hại ông Nguyễn Văn V là do tự
vệ trước việc bị bị hại dùng gậy tấn công và cắn gây thương tích cho bị cáo; cho
rằng việc đánh giá chứng cứ của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát không đúng
với diễn biến thực tế vviệc. Bị cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xác định
hành vi của bcáo phòng vệ chính đáng, tuyên bị cáo không phạm tội “Cố ý
gây thương tích”; buộc bị hại bồi thường thiệt hại cho bị cáo xem xét xử
hình sự đối với bị hại cùng những người có liên quan.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo trình bày:
Yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét hủy bản án sơ thẩm đđiều tra lại.
Bởi vì, bị cáo chỉ phòng vệ khi bị hại ông Nguyễn Văn V dùng cây tấn công bị
cáo trước; trước đó bị cáo đã nhiều lần bị bị hại y thương tích nhiều lần
trình báo Công an nhưng không được giải quyết. Trong vụ việc này bị cáo chỉ có
lỗi cầm liềm đi đến chỗ bị hại nhưng bị cáo không chém gây thương tích
cho bị hại do khi vật lộn thì bị hại nắm, giựt cái liềm trên tay của bcáo đã
gây thương tích cho bị hại.
Bị hại ông Nguyễn Văn V trình bày: Khi bị hại gặp bị cáo T trên cầu thì bị
cáo chửi thô tục đối với bị hại, cả hai cự cãi qua lại, sau khi bị hại chạy xe xuống
dốc cầu đến trước đường vào nhà ông T1 thì bị cáo cầm cái liềm rượt đuổi bị
hại, nên bị hại chạy vào nông T1 nhặt một nhánh cây để đỡ khi bị cáo chém,
4
đã gây thương tích trên bàn tay phải của bị hại, khi bcáo rơi cái liềm tcả hai
vật lộn do bị cáo bóp cổ bị hại, nên bị hại cắn bị cáo gây thương tích. Lời
khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm không đúng như lời khai thừa nhận
của bị cáo tại quan điều tra. Nên yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận
kháng cáo của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a
khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng
cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên quyết định của bản án hình sự
thẩm do kháng cáo của bị cáo là không có cơ sở.
Bị cáo Nguyễn Văn T nói lời nói sau cùng: Yêu cầu Hội đồng xét xử phúc
thẩm xem xét hủy bản án thẩm để điều tra lại, dựng lại hiện trường do bị cáo
không dùng cái liềm cố ý chém bị hại ông Nguyễn Văn V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T được làm trong thời hạn luật
định, hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bị
cáo cho rằng hành vi gây thương tích cho ông Nguyễn Văn V nhằm tự v
trước việc bị ông V dùng gậy tấn công cắn gây thương tích; việc đánh g
chứng cứ của quan điều tra Viện kiểm sát không đúng diễn biến thực tế
vụ việc. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xác định hành vi của bị cáo là phòng vệ
chính đáng, tuyên bị cáo không phạm tội “Cố ý gây thương tích”; buộc bị hại
bồi thường thiệt hại cho bị cáo xem xét xử hình sự đối với bị hại cùng
những người có liên quan.
[3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thu thập theo đúng trình tự,
thủ tục tố tụng; đã được thẩm tra, đánh giá công khai tại phiên tòa sơ thẩm
được xem xét tại phiên tòa phúc thẩm. Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều
tra phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận giám định pháp y, vật chứng thu giữ
và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Trong qtrình điều tra, bị cáo khai sau khi cự cãi với ông V tbị cáo
cầm cái liềm đi đến chỗ ông V quơ liềm trúng tay ông V. Tại phiên tòa
thẩm, bị cáo cũng thừa nhận sau khi hai bên dừng xe cách nhau khoảng 20m thì
bị cáo cầm liềm đi về phía ông V. Các lời khai này được bị cáo thừa nhận do
bị cáo tự nguyện khai báo, không bị ép cung, dùng nhục hình hoặc mớm cung.
Vì vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo là người chủ động cầm liềm đi đến chỗ ông
V và trực tiếp sử dụng liềm gây thương tích cho ông V.
5
Bị cáo cho rằng thương tích của ông V do ông V nắm vào lưỡi liềm
hành vi của bị cáo là phòng vệ chính đáng. Tuy nhiên, Kết luận giám định số
113-2025/KLTTCT-TTPY ngày 26/8/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ xác
định các thương tích của ông V tập trung mặt lưng bàn tay phải đứt gân
duỗi ngón III tay phải. Các tổn thương này không phù hợp với cơ chế hình thành
thương tích theo lời trình bày của bị cáo. Do đó, lời trình bày này không có căn
cứ để chấp nhận.
Đối với việc bị cáo cho rằng ông V dùng gậy đánh và cắn gây thương tích
cho bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy mặc bị cáo cũng bị thương tích với tỷ
lệ tổn thương thể 05%, nhưng tài liệu, chứng cứ trong hồ thể hiện sau khi
phát sinh mâu thuẫn, bcáo người chủ động cầm liềm đi đến chỗ ông V và
dùng liềm gây thương tích cho ông V. Hành vi của bị cáo không phải sự
chống trả cần thiết đối với hành vi xâm hại đang xảy ra nhằm bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của mình theo quy định tại Điều 22 Bộ luật Hình sự, nên không
căn cứ xác định bị cáo thực hiện hành vi trong trường hợp phòng vệ chính đáng.
Đối với ý kiến bị cáo cho rằng Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đánh giá
chứng cứ không đúng diễn biến vụ việc, Hội đồng xét xử thấy rằng cơ quan tiến
hành tố tụng cấp thẩm đã xem xét toàn diện lời khai của bị cáo, bị hại, người
làm chứng, các kết luận giám định, vật chứng các tài liệu khác trong hồ sơ.
Việc kết luận bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp
luật. Không có căn cứ xác định Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án cấp
thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc đánh giá chứng cứ không
khách quan làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Đối với việc bị cáo T yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn V bồi thường thiệt
hại cho bị cáo, Hội đồng xét xxét thấy nếu bị cáo cho rằng ông V hành vi
xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình làm phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại thì quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của pháp
luật. Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm bcáo cũng thống nhất sẽ yêu cầu bhại
bồi thường thiệt hại cho bị cáo bằng vụ án khác nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với yêu cầu xem xét xử hình sđối với ông Nguyễn Văn V
những người có liên quan của bị cáo T, Hội đồng xét xử xét thấy căn cứ vào các
tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, chưa có căn cứ xác định hành vi của ông
Nguyễn Văn V những người liên quan đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Do đó, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu này của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T cho rằng việc bị cáo nộp số tiền
14.000.000 đồng mặc không tự nguyện nhưng bị cáo vẫn chấp hành theo
quyết định của bản án thẩm, bị cáo không yêu cầu giải quyết đối với số
tiền này tại Tòa án cấp phúc thẩm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét
giải quyết.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp thẩm đã
xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; việc áp dụng điểm a khoản 1 Điều
6
134 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là có căn cứ. Kháng cáo của bị cáo không có
căn cứ chấp nhận, nên giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4]t đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm căn cứ, phù
hợp với quy định của pp luật, n được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo T không được chấp
nhận, nên bị o phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Nguyễn Văn T.
2. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 81/2026/HS-ST ngày 22 tháng 4
năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp.
2.1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, Điều 32, Điều 38, điểm b khoản 1
Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bcáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
bị cáo chấp hành án.
2.2. Các quyết định kc của bản án nh ssơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghđã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng o, kháng nghị.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng
hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng hồ sơ CA tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng GĐKTTT&THA (TAT);
- TAND Khu vực B - Đồng Tháp;
- VKSND Khu vực B - Đồng Tháp;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ, VT (Danh).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Ngô Tấn Lợi
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 148/2026/HS-PT Bản án số 148/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 148/2026/HS-PT Bản án số 148/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất