Bản án số 139/2024/HNGĐ-ST ngày 17/12/2024 của TAND huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 139/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 139/2024/HNGĐ-ST ngày 17/12/2024 của TAND huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Mỹ Xuyên (TAND tỉnh Sóc Trăng)
Số hiệu: 139/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/12/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ X UYÊN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hùng Nuôi.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Hiệp.
2. Ông Ngô Văn .
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Mỹ X uyên tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân huyện Mỹ X uyên tỉnh Sóc Trăng tham
gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ X uyên
tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 222/2024/TLST-HNGĐ
ngày 07 tháng 10 năm 2024; về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 294/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2024
Quyết định hoãn phiên tòa số 232/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 11 năm 2024,
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Lương Thị Quỳnh N, sinh năm 2001;
Địa chỉ: Ấp R, xã S, huyện Y, tỉnh Kiên Giang.
Chỗ hiện nay: Ấp 5, Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
(có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1995;
Địa chỉ: Ấp E, xã Q, huyện W, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
NỘI DUNG V ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/07/2024 trong quá trình giải quyết
vụ án, nguyên đơn Lương Thị Quỳnh N trình bày: Nguyên năm 2020,
Lương Thị Quỳnh N với ông Nguyễn Văn T xác lập quan hệ hôn nhân, tchức
cưới hỏi theo phong tục tập quán, đăng kết hôn được UBND Q, huyện
W, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 16 ngày 08/03/2023. Trong
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ X UYÊN
TỈNH SÓC TRĂNG
Bản án số:139/2024/HNGĐ-ST
Ngày 17 - 12 - 2024
V/v Ly hôn, tranh chp nuôi con.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIT NAM
Đc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
quá trình chung sống ông bà có một con chung là cháu Nguyễn Ngọc Bảo C, sinh
ngày 26/07/2021 (theo Giấy khai sinh số 78 ngày 08/03/2023), hiện cháu Nguyễn
Ngọc Bảo C sống với Lương Thị Quỳnh N; không có tài sản chung, không có
nợ chung cũng không người khác nợ vợ chồng. Trong thời gian chung sống
vợ chồng thường cải vả, phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống
và cả hai không có tiếng nói chung nên đã không còn chung sống vợ chồng.
Nay Lương Thị Quỳnh N nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng,
không thể tiếp tục chung sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Lương Thị Quỳnh N xin được ly hôn với ông
Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung cháu Nguyễn
Ngọc Bảo C, sinh ngày 26/07/2021 đến trưởng thành (tròn 18 tuổi); Lương Thị
Quỳnh N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung, người khác nợ vợ chồng: Không nên không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bđơn Nguyễn Văn T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp l
Thông báo về việc thụ vụ án s 222/2024/TB-TLVA ngày 07/10/2024 Thông
báo (Về việc yêu cầu đương sự tự khai cung cấp chứng cứ) số 181/2024/TB-
TA ngày 07/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng (nhận ngày
09/10/2024) nên ông Nguyễn Văn T đã biết nội dung, căn cứ khởi kiện và những
vấn đề Lương Thị Quỳnh N yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng ông Nguyễn Văn
T không văn bản trả lời theo Tòa án ấn định. Đồng thời, Tòa án đã thông báo
triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ hòa giải nhưng vẫn không tham gia và vắng mặt suốt quá trình giải quyết
vụ án.
* Tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn xin vắng mặt và không có ý kiến khác
nên xem như giữ nguyên nội dung đơn yêu cầu khởi kiện.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kim sát về việc tuân thủ chấp
hành đúng pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành t
tụng người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án trong giai đoạn
xét xử thẩm, kể từ khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử
nghị án. Đồng thời, phát biểu quan điểm về tính căn cứ hợp pháp của yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và n cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, theo phát biểu và đề ngh
của Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[I] Về ttụng:
[1] Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn Lương Thị Quỳnh N u cầu Tòa án
3
giải quyết xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn T; yêu cầu được tiếp tục nuôi con
chung là cháu Nguyễn Ngọc Bảo C, sinh ngày 26/07/2021 đến trưởng thành (tròn
18 tuổi); Lương Thị Quỳnh N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung; tài
sản chung, nợ chung và người khác nợ vợ chồng không nên không yêu cầu Tòa
án giải quyết. Khi thụ vụ án, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp Ly hôn, tranh
chấp về nuôi con đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân
sự năm 2015.
[2] Trong vụ án bị đơn Nguyễn Văn T trú tại ấp E, xã Ngọc Đông, huyện
W, tỉnh Sóc Trăng, vụ án được giải quyết theo thủ tục thẩm không có đương
sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoạc cần ủy thác tư pháp. Do vậy, Toà án nhân dân
huyện W, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, xét xử vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định
tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm
2015.
[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Lương Thị Quỳnh N có đơn đề nghị
xét xử vắng mặt; bị đơn Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ
hai để tham gia phiên tòa thẩm vẫn vắng mặt không lý do không sự
kiện bất khkháng hoặc trở ngại khách quan, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến
việc xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228
và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vụ án.
[II] Về nội dung:
[1] Nguyên đơn Lương Thị Quỳnh N và bị đơn Nguyễn Văn T kết hôn với
nhau là trên sở tự nguyện, không ai ép buộc, được UBND xã Q, huyện W, tỉnh
Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 16 ngày 08/03/2023, nên quan hệ hôn
nhân giữa Lương Thị Quỳnh N với ông Nguyễn Văn T hợp pháp. Sau khi
kết Lương Thị Quỳnh N ông Nguyễn Văn T chung sống hạnh phúc đã
một con chung cháu Nguyễn Ngọc Bảo C, sinh ngày 26/07/2021, theo
Lương Thị Quỳnh N trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên bất đồng
quan điểm, xảy ra mâu thuẫn và bất hòa trong cuộc sống nên đã không còn chung
sống vợ chồng từ tháng 04 năm 2024 cho đến nay. Bị đơn Nguyễn Văn T tuy
không ý kiến không tham gia tố tụng nhưng biết về nội dung khởi kiện
yêu cầu của nguyên đơn Lương Thị Quỳnh N mà không phản đối.
[2] Theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền
nhân thân trong hôn nhân gia đình nhân quyền kết hôn, ly hôn...;
nhân thực hiện quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ
luật này, Luật hôn nhân và gia đình...theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật
Hôn nhân gia đình m 2014 thì Vợ, chồng hoặc cả hai ngưi quyền yêu
cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Do đó, tLương Thị Quỳnh N hoặc ơng
Thị Quỳnh N cùng ông Nguyễn Văn T quyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly
hôn, nên ngày 27/07/2024 Lương Thị Quỳnh N tự mình gửi đơn khởi kiện yêu
cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Nguyễn Văn T là phù hợp theo quy
định pháp luật.
[3] Theo nguyên đơn Lương Thị Quỳnh N trong thời gian chung sống vợ
chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, xảy ra mâu thuẫn và bất hòa trong cuộc
4
sống nên đã không còn chung sống vợ chồng từ tháng 04 năm 2024 cho đến nay,
thời gian Lương Thị Quỳnh N với ông Nguyễn Văn T phát sinh mâu thuẫn và
không còn chung sống tính đến thời điểm khởi kiện và xét xử sơ thẩm là đã nhiu
năm, nên mâu thuẫn vợ chồng kéo dài, đến mức trầm trọng, làm cho cuộc sống
vợ chồng không được hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích
của hôn nhân cũng không đạt được,nh cảm vợ chồng thật sự đã hết và về tương
lai cũng không thể hàn gắn được, nếu duy trì quan hệ hôn nhân sẽ ảnh hưởng đến
cuộc sống nh thường của các bên đến việc nuôi dạy con cái; nay Lương
Thị Quỳnh N cương quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Do đó, theo Lương
Thị Quỳnh N yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn T căn cứ và phù
hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội
đồng xét xử chấp nhận.
[4] Vcon chung, Hội đồng xét xử thấy rằng: theo khoản 2 Điều 81 Luật
Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn thì “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp
nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp
không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi
căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con tđủ 07 tuổi trở lên thì phải
xem xét nguyện vọng của con”. Xét thấy, cháu Nguyễn Ngọc Bảo C, sinh ngày
26/07/2021 tính đến ngày xét xử sơ thẩm cháu Nguyễn Ngọc Bảo C trên 36 tháng
tuổi nhưng chưa đủ 07 tuổi nên quyết định giao con cho ai trực tiếp nuôi phải căn
cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Trên thực tế cháu Nguyễn Ngọc Bảo C từ
khi Lương Thị Quỳnh N ông Nguyễn Văn T không còn chung sống thì
Lương Thị Quỳnh N người trực tiếp nuôi dưỡng cho đến nay, cháu Nguyễn
Ngọc Bảo C hiện đượcLương Thị Quỳnh N nuôi dưỡng, chăm sóc tốt và tình
cảm gắn bó với Lương Thị Quỳnh N. Hiện tại Lương Thị Quỳnh N cũng
đủ điều kiện để trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Ngọc Bảo C; nếu thay đổi môi trường
sống sẽ ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần (đời sống tâm sinh tình cảm)
cuộc sống bình thường của cháu, nên sau khi ly hôn tiếp tục giao cháu Nguyễn
Ngọc Bảo C cho Lương Thị Quỳnh N trực tiếp nuôi hợp tình, hợp lý và
căn cứ pháp luật. Lương Thị Quỳnh N người trực tiếp nuôi con không
yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Ngọc Bảo C đây sự
tự nguyện của bà Lương Thị Quỳnh N. Do vậy, theo bà Lương Thị Quỳnh N yêu
cầu được tiếp tục nuôi con chung là cháu Nguyễn Ngọc Bảo C đến trưởng thành
(tròn 18 tuổi)Lương Th Quỳnh N không yêu cấp dưỡng nuôi con là
sở, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Tuy nhiên, trong quá trình nuôi con điều kiện kinh tế của bà Lương Thị
Quỳnh N không đảm bảo nuôi con tơng Thị Quỳnh N vẫn được quyền
khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con (khi cháu Nguyễn Ngọc
Bảo C chưa tròn 18 tuổi) theo quy định tại Điều 107, Điều 110 Luật Hôn nhân
gia đình năm 2014.
[6] Về tài sản chung, nợ chung người khác nợ lại, theo Lương Thị
Quỳnh N xác nhận không không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng
xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này có phát sinh và tranh chấp thì sẽ khởi
5
kiện và gii quyết theo quy định pháp luật.
[7] Từ những phân tích nhận định như đã nêu trên, theo yêu cầu khởi
kiện nguyên đơn là có căn cứ, nên được chấp nhận.
[8] Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn là cơ sở, nên được chấp nhận.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân theo
mức án phí không giá ngạch theo quy định tại khoản 4 Điều 132 Bộ luật Tố tụng
Dân sự năm 2015; theo hướng dẫn tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 4 Điều 132, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm
2015;
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 81 Luật Hôn
nhân gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5
Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ơng Thị Quỳnh N.
- Về quan hệ hôn nhân: Đồng ý cho Lương Thị Quỳnh N ông Nguyễn
Văn T được ly hôn.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Bảo C, sinh ngày 26/07/2021 cho
ơng Thị Quỳnh N trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi).
Ông Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm
sóc con chung cho ông Nguyễn Văn T theo quy định pháp luật, không ai quyền
ngăn cản.
- Về tài sản chung, nợ chung người khác nợ lại: Theo ơng Thị
Quỳnh N không có và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét.
2. Về án phí hôn nhân thẩm:Lương Thị Quỳnh N phải chịu 300.000
đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ng án phí đã nộp 300.000 đồng theo
Biên lai thu số 0004718 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện
W, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, Lương Thị Quỳnh N đã nộp đủ án phí hôn nhân
sơ thẩm.
3. Báo các đương sự biết, án xử thẩm công khai quyền kháng o
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự không có mt tại phiên
6
tòa kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại UBND cấp xã nơi
cư trú) để xin Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự phúc
thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án,
người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành
án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo quy định ti Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
(sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện W;
- THADS huyện W;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Hùng Nuôi
Tải về
Bản án số 139/2024/HNGĐ-ST Bản án số 139/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 139/2024/HNGĐ-ST Bản án số 139/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất