Bản án số 1271/2025/DS-ST ngày 24/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, TP. Hà Nội về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 1271/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 1271/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 1271/2025/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 1271/2025/DS-ST ngày 24/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, TP. Hà Nội về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, TP. Hà Nội |
| Số hiệu: | 1271/2025/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/12/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | DSST |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – HÀ NỘI
Bản án số: 1271/2025/DS-ST
Ngày: 24/12/2025
“V/v: Tranh chấp hợp đồng
Chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HÀ NỘI.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Phương.
Hội thẩm nhân dân: - Bà Trần Thị Minh.
- Bà Tạ Thị Thà.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quang – Thư ký Tòa án.
Đại diện VKSND khu vực 3 tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm
Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân khu vực 3, Thành
phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
03/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 01 năm 2023; về việc “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số
60/QĐXX-ST ngày 05/6/2025 và các quyết định hoãn phiên tòa, ngừng phiên tòa,
thông báo mở lại phiên tòa, giữa:
1. Nguyên đơn: Ông Phạm Trung N, sinh năm 1970. Nơi cư trú: Phường
V, Thành phố Hà Nội). Có mặt,
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn
Đãng – Luật sư, văn phòng Luật sư Thiên Ứng, đoàn luật sư Thành phố Hà Nội.
Vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tố H, sinh năm 1959. Nơi cư trú: Số 8, ngõ 180
phường V, Thành phố Hà Nội). Vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1951. Trú tại: Số 65 ngõ 296 phường H,
Hà Nội). Có mặt.
3.2. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1960. Trú tạiphường V, Thành phố Hà
Nội). Vắng mặt.
3.3. Bà Đỗ Thị Kim Q, sinh năm 1967 (Vợ ông Nguyễn Văn Nghị - đã
chết). Người kế thừa của ông Nghị:
3.3.1. Anh Nguyễn Viết T, sinh năm 1988 (Con ông Nghị - bà Quý);
3.3.2. Chị Nguyễn Phương T, sinh năm 1991(Con ông Nghị- bà Quý);
Đều trú tại: phường L, Thành phố Hà Nội). Đều vắng mặt.
2
3.4. Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1968. Trú tại: Phường L, Thành phố
Hà Nội). Vắng mặt.
3.5. Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1974; anh Phạm Hải N, sinh năm
1999; chị Phạm Hà P, sinh năm 2005. Đều trú tại: Phường V, Thành phố Hà
Nội). Cùng vắng mặt.
3.6. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1965. Trú tại: Phường V, Thành phố
Hà Nội). Vắng mặt.
3.7. Bà Giang Thị S, sinh năm 1950. Trú tại: Số 33 ngách 126/17 ngõ 126
phố Nam Dư, phường Vĩnh Hưng, Hà Nội. Có mặt.
3.8. Ủy ban nhân dân phường V. Địa chỉ: Phường V, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật là Chủ tịch UBND phường. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản tố tụng khác, nguyên
đơn ông Phạm Trung N trình bày:
Ngày 15/6/2001, cụ Trương Thị Tý (Vợ cụ Nguyễn Văn Bút – cụ Bút đã
chết vào năm 1989) cùng 05 người con ruột của cụ Tý và cụ Bút, gồm: Ông
Nguyễn Tố H, ông Nguyễn Văn Nghị, ông Nguyễn Xuân T, bà Nguyễn Thị D,
bà Nguyễn Thị B là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn
Bút, cùng ký tên trên Đơn xin chuyển nhượng đất, để bán (chuyển nhượng) diện
tích 70m2 đất thuộc thửa đất số 613, tờ bản đồ số 02, tại địa chỉ: Số 2 ngách 20
ngõ 180 phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội,
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ Nguyễn Văn Bút do UBND
huyện Thanh Trì cấp ngày 30/3/1993. Trên đơn xin chuyển nhượng đất nêu trên
có xác nhận của địa chính xã Lĩnh Nam là ông Nguyễn Văn Vời và chủ tịch
UBND xã Lĩnh Nam là ông Nguyễn Anh Cường xác nhận vào ngày 09/7/2001
(nay là phường Lĩnh Nam, Thành phố Hà Nội). Tôi đã trả đủ tiền và gia đình cụ
Tý đã bàn giao đất cho tôi.
Ngay sau kí đơn xin chuyển nhượng đất nêu trên, chúng tôi đã thanh toán
tiền đầy đủ cho cụ Trương Thị Tý và 05 người con của cụ Trương Thị Tý và đã
bàn giao đất cho vợ chồng tôi.
Năm 2003 gia đình tôi đã xây dựng nhà cấp 4 trên diện tích đất nhận chuyển
nhượng nêu trên và gia đình đã chuyển về sinh sống ổn định từ năm 2003 cho đến
nay.
Ngay sau khi nhận chuyển nhượng đất của cụ Tý và các con của cụ Tý,
chúng tôi đã nhiều lần yêu cầu cụ Tý và các con của cụ Tý hợp tác để tách diện
tích đất 70m2 mà cụ Tý và các con của cụ Tý đã sang tên cho vợ chồng chúng
tôi; nhưng cụ Tý và các con của cụ Tý đưa ra nhiều lý do để trì hoãn việc hoàn
tất thủ tục sang tên diện tích đất đã chuyển nhượng cho vợ chồng chúng tôi.
Vụ việc đã được các cấp chính quyền quận Hoàng Mai và phường Lĩnh
Nam (nay là phường Vĩnh Hưng) tiến hành họp hoà giải nhưng đều không có kết
quả do các con của cụ Nguyễn Văn Bút và cụ Trương Thị Tý không hợp tác.
3
Vì vậy ngày 12/5/2022 tôi đã có đơn khởi kiện vụ việc lên Toà án nhân dân
quận Hoàng Mai (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3) để yêu cầu công nhận hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 613, tờ bản đồ số 02,
tại địa chỉ: Số 2 ngách 20 ngõ 180 phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, quận Hoàng
Mai, Thành phố Hà Nội, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ
Nguyễn Văn Bút do UBND huyện Thanh Trì cấp ngày 30/3/1993.
* Bị đơn ông Nguyễn Tố H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị
Kim Q, ông Nguyễn Xuân T, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị B trình bày:
Chúng tôi có bố là Nguyễn Văn Bút và mẹ là Trương Thị Tý. Quá trình
chung sống bố mẹ tôi sinh được 06 người con tên là: Nguyễn Tiến Đức, sinh năm
1949 (Liệt sỹ, không có vợ con); Nguyễn Thị D, sinh năm 1951 (địa chỉ: phường
Lĩnh Nam, Thành phố Hà Nội); Nguyễn Tố H, sinh năm 1957; Nguyễn Thị B,
sinh năm 1960; Nguyễn Văn Nghị, sinh năm 1964 (đã mất năm 2010, có vợ là
Đỗ Thị Kim Q, sinh năm 1967 và có 02 con là Nguyễn Viết T, sinh năm 1988 và
Nguyễn Phương Thuý, sinh năm 1991); Nguyễn Xuân T, sinh năm 1968.
Bố tôi Nguyễn Văn Bút chết năm 1989, mẹ tôi Trương Thị Tý chết năm
2003.
Quá trình chung sống bố mẹ tôi có một mảnh đất ao, tổng diện tích 108m2
(thực tế trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 70m2), Năm 1991 mẹ tôi có
bán mảnh đất ao trên cho ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1965 ở cạnh nhà, địa chỉ
phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, mọi giấy tờ mua bán đã hoàn thành, mẹ tôi
không bán cho ông Phạm Trung N mảnh đất trên.
Ông Nghĩa có xuất trình một văn bản mua bán (Đơn xin chuyển nhượng
đất), có xác nhận của UBND phường năm 2001, tôi có ý kiến như sau: Sau khi
mẹ tôi bán đất cho ông Phong, đến năm 2001 ông Nguyễn Văn P bán lại cho ông
Nguyễn Văn Vẻ (bố vợ anh Nghĩa) mảnh đất trên. Vợ ông Vẻ và ông Phong có
đến nhờ tôi viết lại văn bản bán đất của mẹ tôi từ năm 1991 tại nhà ông Vẻ. Tôi
là người đã viết lại đơn xin chuyển nhượng đất ngày 15/6/2001. Sau khi viết văn
bản trên: Mẹ tôi, tôi và các anh chị em có ký. Sau đó nhà ông Vẻ mang ra phường
xin xác nhận của chính quyền địa phương. Tất cả mọi giấy tờ liên quan đến mảnh
đất trên gia đình đã cung cấp đầy đủ cho ông Phong.
Nay ông Nghĩa khởi kiện: Cho đến hiện tại, chúng tôi không có tranh chấp
gì mảnh đất trên, mảnh đất trên gia đình tôi đã bán, nhưng gia đình tôi chỉ bán đất
cho ông Phong, chứ gia đình tôi không bán cho ông Nghĩa. Mọi giấy tờ mua bán
chúng tôi đã cung cấp đầy đủ cho ông Phong.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc H vợ ông Nghĩa
và anh Phạm Hải N con anh Nghĩa chị Hà trình bày:
Ngày 15/6/2001, cụ Trương Thị Tý (Vợ cụ Nguyễn Văn Bút – cụ Bút thời
điểm đó đã chết) cùng 05 người con ruột của cụ Tý và cụ Bút, gồm: Ông Nguyễn
Tố H, ông Nguyễn Văn Nghị, ông Nguyễn Xuân T, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn
Thị B là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn Bút, cùng
ký tên trên Đơn xin chuyển nhượng đất, để bán (chuyển nhượng) diện tích 70m2
đất thuộc thửa đất số 613, tờ bản đồ số 02, tại địa chỉ: Số 2 ngách 20 ngõ 180 phố
4
Nam Dư, phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội, theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ Nguyễn Văn Bút do UBND huyện
Thanh Trì cấp ngày 30/3/1993. Trên đơn xin chuyển nhượng đất nêu trên có xác
nhận của địa chính xã Lĩnh Nam là ông Nguyễn Văn Vời và chủ tịch UBND xã
Lĩnh Nam là ông Nguyễn Anh Cường xác nhận vào ngày 09/7/2001 (nay là
phường Lĩnh Nam, Thành phố Hà Nội).
Ngay sau ký đơn xin chuyển nhượng đất nêu trên, chúng tôi đã thanh toán
tiền đầy đủ cho cụ Trương Thị Tý và 05 người con của cụ Trương Thị Tý.
Năm 2003 gia đình tôi đã xây dựng nhà cấp 4 trên diện tích đất nhận chuyển
nhượng nêu trên và gia đình đã chuyển về sinh sống ổn định từ năm 2003 cho đến
nay.
Ngay sau khi nhận chuyển nhượng đất của cụ Tý và các con của cụ Tý,
chúng tôi đã nhiều lần yêu cầu cụ Tý và các con của cụ Tý hợp tác để tách diện
tích đất 70m2 mà cụ Tý và các con của cụ Tý đã sang tên cho vợ chồng chúng
tôi; nhưng cụ Tý và các con của cụ Tý đưa ra nhiều lý do để trì hoãn việc hoàn
tất thủ tục sang tên diện tích đất đã chuyển nhượng cho vợ chồng chúng tôi.
Việc cụ Tý và các con cụ Tý không thực hiện việc sang tên diện tích 70m2
đất đã chuyển nhượng cho vợ chồng chúng tôi là vi phạm Điều 131, 705, 706,
707 và 711 Bộ luật dân sự năm 1995 (nay là các Điều 117, khoản 1 Điều 129 bộ
luật dân sự năm 2015.
Căn cứ vào quy định pháp luật nêu trên, việc các con của cụ Tý là những
người được thừa kế hợp pháp di sản thừa kế của cụ Tý, cụ Bút không thực hiện
việc sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 70m2 mà cụ Tý và
các con của cụ Tý đã chuyển nhượng cho vợ chồng chúng tôi là vi phạm các quy
định của pháp luật.
Vì vậy chúng tôi đề nghị Toà án nhân dân quận Hoàng Mai (nay là Tòa án
nhân dân khu vực 3) tuyên buộc ông Nguyễn Tố H và những người được thừa kế
hợp pháp di sản thừa kế của cụ Tý, cụ Bút có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/6/2001 giữa cụ Tý, các con của cụ tý với vợ
chồng chúng tôi, để chúng tôi đăng ký quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà
ở với diện tích 70m2 đất mà chúng tôi nhận chuyển nhượng của cụ Tý và các con
của cụ Tý theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P trình bày: Tôi
mua thửa đất số 613, tờ bản đồ số 02, tại địa chỉ: Số 2 ngách 20 ngõ 180 phố Nam
Dư, phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội. Tôi đã mua của bà
Trương Thị Tý (vợ của ông Nguyễn Văn Bút, chủ sở hữu thửa đất trên); thời gian
mua cụ thể tôi không nhớ, chỉ nhớ mua cách đây khoảng 20 năm, tôi mua với giá
là 18.500.000đ, tôi giao tiền cho ông Nguyễn Tố H là con của bà Tý và ông Bút.
Khi mua thì tôi và bà Tý lập giấy tờ mua bán viết tay, hiện tại giấy tờ tôi không
còn giữ. Sau đó khoảng 3 đến 4 năm tôi bán lại mảnh đất trên cho bà Sáng vợ ông
Vẻ với giá 100.000.000đ, thời gian bán cụ thể tôi không nhớ. Khi bán lại mảnh
đất trên cho bà Sáng thì giữa tôi và bà Sáng không lập giấy tờ mua bán gì.
5
Nay ông Nghĩa khởi kiện, tôi có ý kiến. Tôi không liên quan gì tới tranh
chấp giữa ông Nghĩa và ông Hữu, tôi đề nghị Toà án giải quyết tranh chấp theo
quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Giang Thị S trình bày: Chị
Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1974 là con gái của tôi, anh Phạm Trung N là
chồng chị Hà và là con rể của tôi.
Khoảng năm 2001 do anh Nghĩa, chị Hà có nhu cầu mua đất nên có nhờ
tôi đi tìm hộ. Tôi được biết cụ Trương Thị Tý (vợ cụ Bút) có nhu cầu bán mảnh
đất ao thông qua ông Nguyễn Văn P giới thiệu; Nên tôi có đến gặp cụ Trương Thị
Tý hỏi giùm cho anh Nghĩa chị Hà, khi biết cụ Tý muốn bán đất tôi có báo cho
vợ chồng anh Nghĩa, chị Hà đến mua. Mọi việc giao dịch mua bán đất giữa cụ
Tý, các con của cụ Tý và vợ chồng anh Nghĩa, chị Hà tôi không tham gia; Việc
viết giấy tờ mua bán và trả tiền cụ Tý như thế nào thì tôi không biết. Tôi khẳng
định bản thân tôi không liên quan gì đến việc giao dịch mua bán đất giữa cụ Tý
và các con cụ Tý với anh Nghĩa và chị Hà. Tôi đề nghị Tòa án không đưa tôi vào
tham gia tố tụng vụ kiện giữa anh Nghĩa với ông Hữu.
Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Xuân T, anh
Nguyễn Viết T, chị Nguyễn Phương Thuý Toà án đã tống đạt thông báo đến Toà
án trình bày ý kiến hoặc ghi lời khai về vụ việc tranh chấp trên nhưng đều không
đến Toà làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gì.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn ông Phạm Trung N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Yêu
cầu tòa án nhân dân khu vực 3, Hà Nội công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất lập ngày 15/6/2001 đối với diện tích 70m2 đất thuộc thửa đất số 613,
tờ bản đồ số 02, tại địa chỉ: Số 2 ngách 20 ngõ 180 phố Nam Dư, phường Lĩnh
Nam, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội (nay là Số 2 ngách 20 ngõ 180 phố
Nam Dư, phường Vĩnh Hưng Thành phố Hà Nội), theo giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất mang tên cụ Nguyễn Văn Bút do UBND huyện Thanh Trì cấp ngày
30/3/1993; giữa ông Phạm Trung N và bà Nguyễn Thị Ngọc H với cụ Trương Thị
Tý và các đồng thừa kế là ông Nguyễn Tố H, ông Nguyễn Văn Nghị, ông Nguyễn
Xuân T, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị B. Do cụ Trương Thị Tý và ông
Nguyễn Văn Nghị đã chết nên yêu cầu Toà án buộc những người thừa kế phải
thực hiện nghĩa vụ nêu trên.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Giang Thị S trình bày: Khoảng
năm 2001 do anh Nghĩa, chị Hà có nhu cầu mua đất nên có nhờ tôi đi tìm hộ. Tôi
được biết cụ Trương Thị Tý (vợ cụ Bút) có nhu cầu bán mảnh đất ao thông qua
ông Nguyễn Văn P giới thiệu; Nên tôi có đến gặp cụ Trương Thị Tý hỏi giùm cho
anh Nghĩa chị Hà, khi biết cụ Tý muốn bán đất tôi có báo cho vợ chồng anh Nghĩa,
chị Hà đến mua. Mọi việc giao dịch mua bán đất giữa cụ Tý, các con của cụ Tý
và vợ chồng anh Nghĩa, chị Hà tôi không tham gia; Việc viết giấy tờ mua bán và
trả tiền cụ Tý như thế nào thì tôi không biết. Tôi khẳng định bản thân tôi không
liên quan gì đến việc giao dịch mua bán đất giữa cụ Tý và các con cụ Tý với anh
Nghĩa và chị Hà.

6
- Đại diện VKSND khu vực 3 tham gia phiên tòa, phát biểu quan điểm về
việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm
và việc tuân theo pháp luật của các đương sự; Đồng thời đề xuất hướng giải quyết
vụ án như sau:
+ Việc thụ lý vụ án của Tòa án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ
án, Thẩm phán đã thực hiện việc giao thông báo của Tòa án cho các đương sự,
tiến hành các bước tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thời hạn
giải quyết vụ án có vi phạm.
+ Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự tố tụng.
+ Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn chấp hành các thông báo
của Tòa án.
Đề xuất hướng giải quyết vụ án:
Căn cứ trình bày của các đương sự, tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án.
Áp dụng Điều 31; khoản 3 Điều 73; Điều 74 Luật đất đai năm 1993 sửa
đổi, bổ sung năm 1999;
Áp dụng vào Điều 131; Điều 133 Bộ luật dân sự năm 1995;
Áp dụng vào điều 2 của Luật Người cao tuổi năm 2009;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Trung N. Công nhận hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/6/2001 giữa ông Phạm Trung N và bà
Nguyễn Thị Ngọc H với cụ Trương Thị Tý và các đồng thừa kế là ông Nguyễn
Tố H, ông Nguyễn Văn Nghị, ông Nguyễn Xuân T, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn
Thị B đối với diện tích 70m2 đất thuộc thửa đất số 613, tờ bản đồ số 02, tại địa
chỉ: Số 2 ngách 20 ngõ 180 phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai
(nay là Số 2 ngách 20 ngõ 180 phố Nam Dư, phường Vĩnh Hưng), Thành phố Hà
Nội, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ Nguyễn Văn Bút do
UBND huyện Thanh Trì cấp ngày 30/3/1993 có hiệu lực pháp luật.
Ông Phạm Trung N và bà Nguyễn Thị Ngọc H có quyền, nghĩa vụ chủ
động liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký kê khai; đề nghị
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối
với diện tích 70m
2
đất thuộc thửa đất số 613, tờ bản đồ số 02, tại địa chỉ: Số 2
ngách 20 ngõ 180 phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai (nay là số
2 ngách 20 ngõ 180 phố Nam Dư, phường Vĩnh Hưng), Thành phố Hà Nội do
nhận chuyển nhượng hợp pháp đã được công nhận tại khoản 1 Quyết định của
bản án theo quy định pháp luật về đất đai và Quyết định của bản án.
Khi có yêu cầu của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền: Người đang quản
lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ Nguyễn Văn Bút do UBND
huyện Thanh Trì cấp ngày 30/3/1993 là ông Nguyễn Tố H phải có nghĩa vụ giao
lại cho Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để ông Phạm Trung N và bà Nguyễn
Thị Ngọc H thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Trường hợp không giao hoặc
không thể giao lại được thì Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy
7
định tại Điều 178 Luật thi hành án dân sự năm 2014 và Điều 28 Nghị định số
62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ).
- Ông Phạm Trung N và ông Nguyễn Tố H không phải chịu án phí dân sự
sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra chứng
cứ tại phiên tòa. Sau phần hỏi và tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
{1} Về tố tụng: Ông Phạm Trung N khởi kiện ông Nguyễn Tố H; có địa
chỉ cư trú tại: Số 8, ngõ 180 phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, Thành phố Hà Nội.
Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 theo
quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39
Bộ luật tố tụng dân sự.
{2} Về nội dung vụ án:
- Về hình thức của hợp đồng: Căn cứ lời trình bày của các bên đương sự,
tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy: Ông Phạm
Trung N và bà Nguyễn Thị Ngọc H với cụ Trương Thị Tý và các đồng thừa kế
là ông Nguyễn Tố H, ông Nguyễn Văn Nghị, ông Nguyễn Xuân T, bà Nguyễn
Thị D, bà Nguyễn Thị B có ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Ao – thời hạn sử dụng: Lâu dài (Giấy viết tay) vào ngày 15/6/2001 có xác nhận
và có chứng thực của chủ tịch UBND xã Lĩnh Nam (nay là phường Vĩnh Hưng),
Hà Nội, hợp đồng chuyển nhượng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
xác nhận việc chuyển nhượng do vậy đối chiếu với mục a.4) Đất chuyển
nhượng đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm
2003; a.5) Bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện chuyển
nhượng và bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện
về nhận chuyển nhượng theo quy định của pháp luật; a.6) Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất được lập thành văn bản có chứng nhận của Công
chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền; của
mục 2.3 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội
đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao là phù hợp và có hiệu lực thi hành.
Do vậy về hình thức hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 691, Điều 707
Bộ luật dân sự năm 1995.
- Về nội dung của hợp đồng: Hội đồng xét xử nhận thấy theo Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký giữa ông Phạm Trung N và bà Nguyễn
Thị Ngọc H với cụ Trương Thị Tý và các đồng thừa kế là ông Nguyễn Tố H, ông
Nguyễn Văn Nghị, ông Nguyễn Xuân T, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị B vào
ngày 15/6/2001 có xác nhận và có chứng thực của chủ tịch UBND xã Lĩnh Nam
(nay là UBND phường Vĩnh Hưng), Hà Nội. Trong đó cụ Trương Thị Tý và các
đồng thừa kế là ông Nguyễn Tố H, ông Nguyễn Văn Nghị, ông Nguyễn Xuân T,
bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị B đều đã ký và xác nhận đã chuyển nhượng cho
ông Phạm Trung N và bà Nguyễn Thị Ngọc H có diện tích đất chuyển nhượng là
8
70m2 đất Ao, với giá tiền tự thoả thuận và đã nhận đủ tiền. Theo hợp đồng chuyển
nhượng được xác nhận bởi cán bộ địa chính và chủ tịch UBND xã Lĩnh Nam diện
tích đất chuyển nhượng được xác định tại thửa đất số 613, tờ bản đồ số 02, diện
tích 70m2 đất Ao; đất hiện không có tranh chấp, việc chuyển nhượng diện tích
đất trên là đúng vị trí đối với diện tích 70m2 đất thuộc thửa đất số 613, tờ bản đồ
số 02, tại địa chỉ: Số 2 ngách 20 ngõ 180 phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, quận
Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang
tên cụ Nguyễn Văn Bút do UBND huyện Thanh Trì cấp ngày 30/3/1993, như vậy
diện tích phần đất chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất và tại thời điểm các bên chuyển nhượng cho nhau, phần đất chuyển nhượng
không có tranh chấp gì.
Kể từ khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất đến nay gia đình ông Phạm
Trung N và bà Nguyễn Thị Ngọc H đã xây nhà cấp 4 vào năm 2003 (xây hết phần
đất được chuyển nhượng) và ông Nghĩa bà Hà đã sinh sống và ở tại mảnh đất trên
từ đó cho đến nay không có ai tranh chấp gì và gia đình ông Nghĩa cũng từ đó cho
đến nay là người hàng năm nộp thuế quyền sử dụng đất cho nhà nước. Mặt khác
bị đơn ông Nguyễn Tố H và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tuy
không thừa nhận là người trực tiếp chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông
Phạm Trung N và bà Nguyễn Thị Ngọc H nhưng thừa nhận có ký vào hợp đồng
chuyển nhượng đất ngày 15/6/2001 và cho đến nay ông và các đồng thừa kế đều
thừa nhận thửa đất trên đã được chuyển nhượng và không có tranh chấp gì. Do
vậy hợp đồng chuyển nhượng ký ngày 15/6/2001 giữa ông Phạm Trung N và bà
Nguyễn Thị Ngọc H với cụ Trương Thị Tý (Vợ cụ Nguyễn Văn Bút – cụ Bút thời
điểm đó đã chết) cùng 05 người con ruột của cụ Tý và cụ Bút, gồm: Ông Nguyễn
Tố H, ông Nguyễn Văn Nghị, ông Nguyễn Xuân T, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn
Thị B là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn Bút, cùng
ký tên trên Đơn xin chuyển nhượng đất, để bán (chuyển nhượng) diện tích 70m2
đất ao thuộc thửa đất số 613, tờ bản đồ số 02, tại địa chỉ: Số 2 ngách 20 ngõ 180
phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai (nay là phường Vĩnh Hưng),
Thành phố Hà Nội, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ Nguyễn
Văn Bút do UBND huyện Thanh Trì cấp ngày 30/3/1993 có xác nhận và có chứng
thực của chủ tịch UBND xã Lĩnh Nam (nay là phường Vĩnh Hưng), Hà Nội là
phù hợp quy định của pháp luật có hiệu lực và buộc các bên phải thi hành.
Xét thấy: Diện tích đất ông Phạm Trung N và bà Nguyễn Thị Ngọc H nhận
chuyển nhượng từ cụ Trương Thị Tý và các đồng thừa kế là ông Nguyễn Tố H,
ông Nguyễn Văn Nghị, ông Nguyễn Xuân T, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị
B vào ngày 15/6/2001 có xác nhận và có chứng thực của chủ tịch UBND xã Lĩnh
Nam (nay là phường Vĩnh Hưng), Hà Nội đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 137 Luật đất đai năm 2024. Vì vậy
cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Trung N. Các đồng thừa kế của cụ
Trương Thị Tý, cụ Nguyễn Văn Bút phải có trách nhiệm, nghĩa vụ cùng ông Phạm
Trung N và bà Nguyễn Thị Ngọc H đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ
tục sang tên cho ông Phạm Trung N và bà Nguyễn Thị Ngọc H diện tích 70m2 đất
9
thuộc thửa đất số 613, tờ bản đồ số 02, tại địa chỉ: Số 2 ngách 20 ngõ 180 phố
Nam Dư, phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai (nay là Số 2 ngách 20 ngõ 180 phố
Nam Dư, phường Vĩnh Hưng), Thành phố Hà Nội, theo giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất mang tên cụ Nguyễn Văn Bút do UBND huyện Thanh Trì cấp ngày
30/3/1993. Trường hợp các đồng thừa kế của cụ Trương Thị Tý, cụ Nguyễn Văn
Bút không thực hiện nghĩa vụ trên, ông Phạm Trung N và bà Nguyễn Thị Ngọc H
tự mình có quyền, nghĩa vụ chủ động liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất
đai.
Về sự chênh lệch diện tích đất hiện gia đình ông Phạm Trung N đang quản
lí sử dụng; tại biên bản đo đạc ngày 14/8/2024 do Công ty TNHH địa chính công
trình Hà Nội đo đạc thì diện tích thực tế mà ông Phạm Trung N và bà Nguyễn
Thị Ngọc H đang quản lí sử dụng nhiều hơn so với diện tích đất chuyển nhượng
trong giấy chuyển nhượng là 29,3m2; Tòa án đã nhiều lần gửi công văn cho
UBND phường Lĩnh Nam và nay là UBND phường Vĩnh Hưng yêu cầu cung cấp
quan điểm của UBND phường về diện tích đất chênh lệch là 29.3m2 của thửa đất
nói trên nhưng không được UBND phường trả lời. Mặt khác tại đơn khởi kiện
ông Phạm Trung N cũng không đề nghị Tòa án xem xét. Do vậy Hội đồng xét xử
không xem xét giải quyết.
Tòa án cũng đã lấy lời khai của những nhà liền kề với thửa đất gia đình
ông Phạm Trung N đang quản lí và sử dụng là ông Nguyễn Văn P, anh Nguyễn
Văn Dũng, bà Nguyễn Thị Liên đều xác nhận từ trước đến nay không có tranh
chấp kiện cáo gì với diện tích đất nhà ông Nghĩa đang quản lí, sử dụng.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P và bà
Giang Thị S đều xác định không có tranh chấp gì với diện tích đất ông Phạm
Trung N và bà Nguyễn Thị Ngọc H đang quản lí và sử dụng, nên không xét.
{3} Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ vào điều 2 của Luật Người cao
tuổi năm 2009; Căn cứ vào điểm f khoản 1 điều 11; điểm đ khoản 1 điều 12 của
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
ông Nguyễn Tố H là người trên 60 tuổi nên không phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm.
Ông Phạm Trung N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại ông Phạm
Trung N số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ
thẩm đã nộp, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003127 ngày
16/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, (nay là Thi hành
án dân sự Thành phố Hà Nội).
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271,
273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bởi các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
10
Căn cứ vào:
- Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227;
khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Khoản 2 Điều 3; Điều 31 khoản 3 Điều 73 Luật đất đai năm 1993 sửa
đổi, bổ sung năm 1999; các Điều 15,23,26,27,131,133,137 Luật đất đai năm 2024;
- Các Điều 131,133,691,707 Bộ luật dân sự năm 1995;
- Điều 2 của Luật Người cao tuổi năm 2009;
- Điểm f khoản 1 điều 11; điểm đ khoản 1 điều 12 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Trung N. Công nhận hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 15/6/2001 giữa ông Phạm
Trung N và bà Nguyễn Thị Ngọc H với cụ Trương Thị Tý và các đồng thừa kế
là ông Nguyễn Tố H, ông Nguyễn Văn Nghị, ông Nguyễn Xuân T, bà Nguyễn
Thị D, bà Nguyễn Thị B đối với diện tích 70m
2
đất thuộc thửa đất số 613, tờ bản
đồ số 02, tại địa chỉ: Số 2 ngách 20 ngõ 180 phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam,
quận Hoàng Mai (nay là Số 2 ngách 20 ngõ 180 phố Nam Dư, phường Vĩnh
Hưng), Thành phố Hà Nội, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên
cụ Nguyễn Văn Bút do UBND huyện Thanh Trì cấp ngày 30/3/1993 có hiệu lực
pháp luật.
2. Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật:
Ông Phạm Trung N và bà Nguyễn Thị Ngọc H có quyền, nghĩa vụ chủ
động liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký kê khai; đề nghị
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối
với diện tích 70m
2
đất thuộc thửa đất số 613, tờ bản đồ số 02, tại địa chỉ: Số 2
ngách 20 ngõ 180 phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai (nay là số
2 ngách 20 ngõ 180 phố Nam Dư, phường Vĩnh Hưng), Thành phố Hà Nội do
nhận chuyển nhượng hợp pháp đã được công nhận tại khoản 1 Quyết định của
bản án theo quy định pháp luật về đất đai và Quyết định của bản án.
Khi có yêu cầu của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền: Người đang quản
lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ Nguyễn Văn Bút do UBND
huyện Thanh Trì cấp ngày 30/3/1993 là ông Nguyễn Tố H phải có nghĩa vụ giao
lại cho Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để ông Phạm Trung N và bà Nguyễn
Thị Ngọc H thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình tại khoản 2 quyết định của bản
án. Trường hợp không giao hoặc không thể giao lại được Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thì Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định tại khoản
2 Điều 42 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ hướng
dẫn thi hành Luật đất đai năm 2024 và mục XI khoản C phần V phụ lục I Nghị định
số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm
quyền địa phương hai cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Tố H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
11
Trả lại ông Phạm Trung N số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền
tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ
phí Tòa án số 0003127 ngày 16/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận
Hoàng Mai, (nay là Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội).
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo
bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống
đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành
án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Xuân Phương
Nơi nhận:
- TAND Thành phố Hà Nội;
- VKSND khu vực 3;
- THADS Thành phố Hà Nội;
- Đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Xuân Phương
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 22/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 22/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 22/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 18/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm