Bản án số 125/2025/DS-ST ngày 04/06/2025 của TAND TX. Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 125/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 125/2025/DS-ST ngày 04/06/2025 của TAND TX. Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TX. Điện Bàn (TAND tỉnh Quảng Nam)
Số hiệu: 125/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/06/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm h khoản 1 Điều 40, khoản 3 Điều 92, Điều 157, 158, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, khoản 1 Điều 275, Điều 352, Điều 288, Điều 385, Điều 398, Điều 401 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên xử
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN – TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Thể.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Lương Thị Kim Anh.
2/ Ông Nguyễn Lương Thành.
Thư phiên tòa: Trương Thị Quý Thư Tòa án nhân dân thị Điện
Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị Điện Bàn tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Đình Nhật Nam Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường TAND thị Điện Bàn, tỉnh
Quảng Nam xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 65/2024/TLST-DS, ngày
01/3/2024 về việc Tranh chấp hợp đồng đặt mua đất nền” theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số: 342/2024/QĐXXST-DS, ngày 02 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn
phiên tòa ngày 25/12/2024 và Thông báo mở lại phiên tòa ngày 09/5/2025, giữa:
- Nguyên đơn: + Ông Phan Đình G, sinh năm: 1991; địa chỉ: Số 90 Hoàng Thúc
Trâm, phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. mặt.
+ Bà Phạm Thúy Q, sinh năm: 1993; địa chỉ: Tổ 113, phường Th,
quận T, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
- Bị đơn: + Công ty Cổ phần A; địa chỉ trụ sở: A7-21, 22 KĐT Sentosa
Riverside, phường Điện Ngọc, thị Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Người đại diện theo
pháp luật: Ông Diệp Bảo L - Tổng giám đốc ông Nguyễn ng M - Chủ tịch Hội
đồng quản trị (ông L và ông M vắng mặt).
+ Công ty TNHH Đầu Bất động sản G; địa chỉ trụ sở chính: 207/6
Nguyễn Văn Thủ, phường Đ, Quận 1, tp HCM. Địa chỉ liên hệ: Số 51P Nguyễn Chí
Thanh, phường Th, quận H, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Bà Đinh
Anh Đ - Chức danh: Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Quang T -
Chức danh: Phó giám đốc (ông T vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn trình bày: Do nhu cầu mua đất nền để làm nhà nên ngày
20/8/2017, ông Phan Đình G bà Phạm Thúy Q đã ký kết hợp đồng đặt mua đất nền số
221/2017/HĐĐM-G (viết tắt: Hợp đồng số 221) với Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN
TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số: 125/2025/DS-ST
Ngày 04-6-2025.
V/v “Tranh chấp hợp đồng đặt
mua đất nền.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
G (viết tắt: Công ty G) để đặt mua lô đất hiệu số C14-37; diện tích 110m2 (rộng 5m,
dài 22m) tại Dự án 7B mở rộng mà chủ đầu tư là Công ty Cổ phần A với giá trị hợp đồng
với giá trị hợp đồng 495.604.450 đồng; giá trị sau khi trừ chiếc khấu: 451.000.050
đồng. Thực hiện hợp đồng, ông G bà Q đã thanh toán đầy đủ và đúng theo tiến độ s
tiền là: 428.450.047 đồng (đã trừ chiếc khấu) tương đương 95% giá trị lô đất. Số tiền này
ông G Q đã nộp trực tiếp cho Công ty Cổ phần Bất động sản G, đây tiền thanh
toán giá trị đất. Số tiền còn lại phải đóng 22.550.002 đồng tương đương 5% giá trị
đất, thỏa thuận khi nào hai bên hợp đồng chuyển nhượng QSD đất tại Công chứng,
bàn giao bản chính giấy chứng nhận và bàn giao lô đất trên thực tế thì ông G Q sẽ
thanh toán cho Công ty G.
Vào thời điểm hợp đồng đặt mua đất nền với Công ty G, ông G Q biết
thửa đất nêu trên chủ đầu Công ty A thửa đất này chưa được cấp giấy chứng
nhận QSD đất. Sở dĩ ông G và Qhợp đồng đặt mua đất nền với Công ty G do
Công ty G đã ký hợp đồng thỏa thuận góp vốn để đặt mua đất nền dự án 7B mở rộng với
Công ty A số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN ngày 14/7/2017 (viết tắt: Hợp đồng số
14/2017/HĐĐC/BĐA-CN). Khi hợp đồng đặt mua, ng ty G cung cấp các văn bản
pháp liên quan đến Dự án 7B mrộng nơi thửa đất mà ông G Q đặt mua.
Việc hợp đồng đặt mua đất nền giữa ông G Q với Công ty G nhằm mục đích
tiến đến việc hợp đồng chuyển nhượng QSD đất tại Văn phòng Công chứng khi thửa
đất nêu trên được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Theo Điều 4 của Hợp đồng quy định:
“Thời gian tạo lập và ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất là 14 tháng kể từ ngày Hợp
đồng đặt mua này được ký kết, nhưng đến nay đã hơn 06 năm vẫn chưa nhận được giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho đất nêu trên mặc dù ông G bà Q đã nhiều lần
yêu cầu.
Nay ông G và bà Q yêu cầu Tòa án buộc Công ty G và Công ty A phải liên đới tiếp
tục thực hiện Hợp đồng 221, ký hợp đồng chuyển nhượng QSD đất đối với lô đất ký hiệu
số C14-37 tại Văn phòng công chứng, bàn giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất bàn giao đất trên thực tế cho ông G Q. Đối với số tiền chi phí xem
xét thẩm định tại chỗ nguyên đơn đã nộp tạm ứng 800.000 đồng, nguyên đơn yêu cầu
giải quyết theo pháp luật.
Bị đơn Công ty G do ông Đinh Quang T đại diện trình bày tại biên bản ghi lời
khai ngày 25/10/2024 như sau: Dự án 7B mở rộng tại Khu đô thị mới Điện Nam - Điện
Ngọc, phường Điện Ngọc chủ đầu Công ty Cổ phần A. Ngày 14/7/2017 Công ty G
Công ty A đã hợp đồng thỏa thuận góp vốn để đặt cọc mua đất nền dự án 7B mở
rộng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN. Theo hợp đồng thì Công ty A đồng ý cho ng ty G
góp vốn đặt cọc để mua 435 (bốn trăm ba mươi lăm) đất nền thuộc dán 7B mở rộng
(có danh sách kèm theo hợp đồng).
Công ty G một trong những đơn vị phân phối sản phẩm Dự án 7B mở rộng do
chủ đầu tư là Công ty A thực hiện. Trên cơ sở ký hợp đồng thoả thuận góp vốn với Công
ty A thì ngày 20/8/2017, ông G và bà Qđã kết hợp đồng đặt mua đất nền số:
221/2017/HĐĐM-G với ng ty G để đặt mua đất hiệu số C14-37, diện tích
110m2; tại dự án 7B mở rộng chủ đầu Công ty A với giá trị hợp đồng là:
3
495.604.450 đồng. Sau khi hợp đồng, ng ty ký giấy xác nhận ông Phan Đình G
bà Phạm Thúy Q đã thanh toán giá trị lô đất cho Công ty G với tổng số tiền là
428.450.047 (đã trừ chiếc khấu).
Vào thời điểm hợp đồng đặt mua đất nền với Công ty G, tất cả c khách hàng
đều biết tình trạng pháp của đất đặt mua chủ đầu tư của Dự án 7B mở rộng
Công ty A, đồng thời trên thực tế Công ty G chưa bàn giao đất nêu trên cho ông Phan
Đình G và bà Phạm Thúy Q.
Tại thời điểm khách hàng đặt cọc mua đất nền dự án 7B mở rộng, Công ty A vẫn
chưa thể trực tiếp với khách hàng thiếu một số thủ tục pháp vì vậy mặt
thỏa thuận với Công ty A, nhưng Công ty G đã thiếu văn bản ủy quyền đđứng ra
hợp đồng đặt cọc tạm thời với khách hàng thay cho Công ty A, Công ty G đã tổng hợp
danh sách khách hàng gửi qua Công ty A để Công ty A nắm bắt, theo dõi. Sau khi dự án
7B mở rộng hoàn thành các thủ tục pháp lý Công ty G sẽ tổng hợp danh sách khách hàng
để gửi qua Công ty A trực tiếp với khách hàng, bên cạnh đó Công ty G sẽ thu hồi
thanh lý hợp đồng đặt mua đất nền đã ký với khách hàng.
Số tiền ng ty G nhận của ông G và bà Q các khách hàng khác, Công ty G
không chuyển cho Công ty A theo từng khách hàng đối với từng đất đã chuyển
tiền cho Công ty A theo từng đợt thanh toán được quy định tại Điều 2 của Hợp đồng thỏa
thuận góp vốn để đặt cọc mua đất nền dự án 7B mở rộng số 14/2017/HĐĐC-BĐA-CN
ngày 14/7/2017 và đến nay Công ty G chuyển nhiều đợt tương đương 70% giá trị hợp
đồng số 14/2017/HĐĐC-BĐA-CN ngày 14/7/2017.
Hiện nay Công ty A vẫn đang thực hiện hợp đồng đã ký kết với Công ty G
Công ty G vẫn đang tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt mua đất nền dự án 7B mrộng đã
kết với các khách hàng trong đó ông Thành, Tiến. Dự án khu đô thị 7B m
rộng đã được UBND tỉnh Quảng Nam thống nhất điều chỉnh tiến độ thực hiện theo
Công văn số 6807/UBND-KTN ngày 10/9/2024, chủ đầu đang hoàn thiện cơ sở pháp
lý và thi công cơ sở hạ tầng để hoàn thành dự án.
Nay ông Phan Đình G Phạm Thúy Q khởi kiện, Công ty G đã đang tiếp
tục thực hiện Hợp đồng s221 với ông G và bà Q.
- ng ty Cổ phần A: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại
diện hợp pháp của Công ty vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Tóm tắt ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
+ Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ vụ án Thẩm phán, Thư Tòa án
Hội đồng xét xử được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục
do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Các đương sự chấp hành đúng các quy định của
pháp luật, riêng đại diện Công ty A Công ty G không chấp hành đúng quy định của
pháp luật, nhiều lần vắng mặt không có lý do.
+ Về giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, buộc Công ty G và Công ty A phải có nghĩa vụ liên đới tiếp tục thực hiện Hợp đồng
số 221, giữa Công ty G với ông Phan Đình G và bà Phạm Thúy Q.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Thành khởi kiện
yêu cầu Công ty A Công ty G liên đới tiếp tục thực hiện Hợp đồng s221, căn cứ
khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bluật Tố tụng dân sự thì đây tranh chấp
hợp đồng dân sự cụ thể “Tranh chấp hợp đồng đặt mua đất nền thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện, thị . Hiện nay Công ty A trụ sở chính tại
phường Điện Ngọc, thị Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Công ty G trụ sở chính tại
phường Đ, Quận 1, tp HCM, theo điểm h khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự quy
định: “Nếu c bị đơn trú, làm việc, trụ sở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn
thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bị đơn trú, làm việc, trụ sgiải quyết”.
Trong vụ án này nguyên đơn đã lựa chọn Toà án nơi Công ty A trụ sở để giải quyết,
do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án triệu tập hợp lệ ông Diệp Bảo L ông Nguyễn
Công M là người đại diện theo pháp luật của Công ty A người đại diện theo ủy quyền
của Công ty G ông Đinh Quang T đến phiên tòa lần thứ 2, nhưng các đương sự đều vắng
mặt không do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng t xử
tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đảm bảo đúng quy định pháp luật.
[3] Về nội dung tranh chấp: ông Phan Đình G và bà Phạm Thúy Q khởi kiện yêu
cầu Tòa án buộc Công ty A Công ty G liên đới thực hiện Hợp đồng số 221, thực hiện
thủ tục ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu số C14-37, bàn giao
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bàn giao lô đất cho ông Phan Đình G và bà Phạm
Thúy Q. Xét thấy việc ông G và Q yêu cầu tiếp tục thực hiện Hợp đồng số 221 đã
bao gồm các nội dung về việc thực hiện thủ tục hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất đối vớiđất, bàn giao Giấy chứng nhận quyền sdụng đất bàn giao đất;
bi lẽ các yêu cầu nêu trên được các bên thoả thuận tại Điều 6 của Hợp đồng. Do đó, Hội
đồng xét xxem xét yêu cầu buộc tiếp tục thực hiện Hợp đồng số 221 là đã đảm bảo tất
cả các yêu cầu của nguyên đơn.
Xét yêu cầu của nguyên đơn thấy rằng: Công ty A là chủ đầu tư Dự án Khu đô thị
7B mở rộng tại Đô thị mới Điện Nam- Điện Ngọc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
theo Quyết định số 2450/QĐ-UBND ngày 10/7/2017 của UBND tỉnh Quảng Nam về
việc chuyển nhiệm vụ chủ đầu thực hiện các dự án trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ
Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Bách Đạt sang cho Công ty A. Sau khi được
quan thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư, Công ty A m kiếm đối tác khả
năng tài chính để tiến hành góp vốn đầu tư xây dựng dự án theo đúng thiết kế, quy hoạch
được phê duyệt Công ty G mong muốn góp vốn đặt cọc mua các đất tại dự án 7B
mở rộng, nên ngày 14/7/2017 Công ty A kết Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN
với Công ty G. Theo nội dung Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN thì Công ty A
đồng ý cho Công ty G góp vốn đặt cọc để mua 435 đất nền tại dán 7B mở rộng,
danh sách, vị trí chi tiết của các đất được thể hiện trong phụ lục số 01 một phần
không thể tách rời Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN. c bên tham gia kết hợp
5
đồng hoàn toàn tự nguyện, đủ năng lực hành vi dân sự, nội dung giao kết hợp đồng
phù hợp với quy định của pháp luật nên Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN phát
sinh hiệu lực, các bên phải nghĩa vụ thực hiện hợp đồng theo quy định tại Điều 117,
khoản 1 Điều 275, Điều 352, Điều 401 của Bộ luật Dân sự.
Thực hiện Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN, Công ty G tiến hành thanh toán
tiền đặt cọc mua các lô đất cho Công ty A theo nội dung thoả thuận, đồng thời Công ty G
tiến hành hợp đồng đặt mua đất nền với các khách hàng trong phạm vi 435 đất đã
góp vốn tại Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN. Ngày 20/8/2017 Công ty G tiến
hành ký Hợp đồng số 221 với ông G và bà Q. Theo nội dung hợp đồng thể hiện ông G và
bà Qcó nhu cầu đặt mua đất tại dự án 7B mở rộng ký hiệu số C14-37, diện tích 110m2
với giá 495.604.450 đồng. Công ty G sẽ tiến hành các thủ tục hợp đồng chuyển
nhượng QSD đất tại phòng công chứng và hoàn tất các thủ tục cấp giấy chứng nhận QSD
đất trong vòng 14 tháng kể từ ngày Hợp đồng số 221. Các bên tham gia kết hợp
đồng hoàn toàn tự nguyện, đủ năng lực hành vi dân sự, nội dung giao kết hợp đồng
phù hợp với quy định của pháp luật nên Hợp đồng số 221 phát sinh hiệu lực, các bên
phải có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng theo quy định tại Điều 117, khoản 1 Điều 275, Điều
352, Điều 401 của Bộ luật Dân sự.
Thực hiện Hợp đồng s221, ông G và bà Q thực hiện tiến độ thanh toán đúng thoả
thuận và đã nộp trực tiếp cho Công ty G số tiền 428.450.047 đồng tương đương 95% giá
trị lô đất mà ông G và bà Q đặt mua.
Theo khoản 8.2.17 Điều 9 của Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN quy định:
“bên B quyền bán/chuyển nhượng các đất cho bên thứ Ba sau khi thanh toán tiền
đặt cọc nộp đủ tiền đợt 1”. Theo các chứng cứ mà Công ty G cung cấp tính đến ngày
22/8/2017 Công ty G đã thanh toán đợt 1 tiền đặt cọc theo Hợp đồng số
14/2017/HĐĐC/A-CN 31.000.000.000 đồng (ba mươi mốt tỷ đồng) tương đương
22% giá trị Hợp đồng s14/2017/HĐĐC/BĐA-CN, Công ty G thực hiện đúng nội dung
thoả thuận tại Điều 2 và Điều 9 của Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN, nên Công ty
G được quyền ký Hợp đồng số 221 với ông G và Q. Đồng thời đại diện Công ty G
thừa nhận đã đang tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt mua đất nền dự án 7B mrộng đã
kết với ông G bà Q. Tình tiết này được đại diện Công ty Giaia thừa nhận, căn cứ
khoản 3 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; đây những tình tiết không cần phải chứng
minh. Do đó việc ông G bà Q yêu cầu Công ty G tiếp tục thực hiện Hợp đồng số 221
là có căn cứ chấp nhận.
Xét yêu cầu buộc Công ty A liên đới thực hiện Hợp đồng số 221 thấy rằng: Theo
khoản 5.1 Điều 5 của Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN quy định: “…Ngay sau khi
hợp đồng này, bên B quyền chỉ định các tổ chức, nhân đủ điều kiện sở hữu
bất động sản tại Việt Nam (sau đây gọi tắt bên thứ Ba) hợp đồng đặt cọc/nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong phạm vi các lô bên B đã đặt cọc mua của A
tại Điều 1 của Hợp đồng này. Bách Đạt không được phép từ chối hợp đồng đặt
cọc/chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với bên thứ Ba. Quyền nghĩa vụ của bên
thứ Ba quy định trong hợp đồng đặt cọc/nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ kế
thừa tương ứng các quyền và nghĩa vụ của bên B theo quy định tại Hợp đồng này và các
6
quy định của pháp luật…”
Theo tiểu mục 8.2.8 và tiểu mục 8.2.9 khoản 8.2 Điều 8 của Hợp đồng số
14/2017/HĐĐC/BĐA-CN quy định cam kết nghĩa vụ của A như sau: kết hợp
đồng đặc cọc/chuyển quyền đặt mua với bên thứ Ba ngay khi bên B chỉ định bên thứ
Ba đã thanh toán đủ khoản tiền đợt 1”và Bách Đạt cam kết bàn giao hợp đồng
đặt cọc/chuyển quyền sử dụng đất với bên th Ba trong vòng 7 ngày làm việc kể từ ngày
bên B chuyển danh sách bên thứ Ba mua các lô đất sang cho Bách Đạt”.
Từ những thoả thuận cam kết nêu trên của Công ty A, tCông ty A không
quyền từ chối hợp đồng đặt cọc/hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bên
thBa do Công ty G chỉ định trong phạm vi 435 đất Công ty G góp vốn đặt mua
tại Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN. Mặc khác Công ty G thừa nhận Công ty A
vẫn đang thực hiện Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN với Công ty G, đồng thời
theo các chứng tthanh toán do Công ty G cung cấp tính đến nay Công ty G đã thanh
toán cho ng ty A với tổng số tiền 101,2 tỷ đồng (một trăm lẽ một tỷ, hai trăm triệu
đồng) tương đương 70% giá trị Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN, nguồn tiền
101,2 tđồng Công ty G đã thanh toán cho Công ty A được thu tcác khách hàng
đặt cọc mua 435 đất tại Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN, trong đó đất ký
hiệu số C14-37 của ông G và bà Q đặt mua.
Theo thoả thuận tại Điều 4 của Hợp đồng số 221 quy định thời gian tạo lập
kết hợp đồng chuyển nhượng QSD đất 14 tháng kể từ ngày hợp đồng đặt mua được ký
kết, đến nay đã quá thời hạn thỏa thuận, nhưng ông G Qvẫn yêu cầu tiếp tục thực
hiện Hợp đồng số 221. Đồng thời dán Khu đô thị 7B mở rộng hiện nay tuy chưa được
quan thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đã được Uỷ ban
nhân dân tỉnh Quảng Nam điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án đến hết tháng 12/2025
hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng theo Văn bản số 6807/UBND-KTN ngày
10/9/2024. Do đó, Hợp đồng số 221 vẫn đảm bảo các điều kiện hiệu lực đthực hiện
theo quy định của pháp luật, nên HĐXX buộc Công ty A Công ty G liên đới tiếp tục
thực hiện Hợp đồng số 221 là có căn cứ pháp luật.
Từ những phân tích nhận định nêu trên, việc ông G và Q yêu cầu Công ty A
liên đới cùng Công ty G tiếp tục thực hiện Hợp đồng số 221 căn cứ nên HĐXX
chấp nhận.
[5] Về án phí chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157, 158 Bộ luật Tố tụng dân sự
khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc Hội thì Công ty A và Công ty G liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm và
chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi ptố tụng số tiền
800.000 đồng đã chi phí xong, nên Công ty A Công ty G phải liên đới hoàn trả lại
cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm h khoản 1 Điều 40, khoản
3 Điều 92, Điều 157, 158, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng
7
dân sự; Điều 116, Điều 117, khoản 1 Điều 275, Điều 352, Điều 288, Điều 385, Điều 398,
Điều 401 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Đình G và bà Phạm Thúy Q
đối với Công ty Cổ phần A Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản G vviệc: “Tranh
chấp hợp đồng đặt mua đất nền”.
1. Buộc Công ty Cổ phần A Công ty TNHH Đầu Bất động sản G phải
nghĩa vụ liên đới tiếp tục thực hiện Hợp đồng đặt mua đất nền dự án 7B mrộng số
221/2017/HĐĐM-G ký kết ngày 20/8/2017, giữa Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản G
ông Phan Đình G và bà Phạm Thúy Q.
2. Về án phí: Công ty TNHH Đầu Bất động sản G Công ty Cổ phần A phải
nghĩa vụ liên đới chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí Dân sự thẩm.
Hoàn trả cho ông Phan Đình G Phạm Thúy Q số tiền tạm ứng án phí dân sự
thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0014294 ngày
01/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
3. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chổ số tiền 800.000 đồng
(Tám trăm nghìn đồng). Buộc Công ty Cổ phần A Công ty TNHH Đầu Bất động
sản G phải nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho ông Phan Đình G Phạm Thúy Q số
tiền trên.
4. Đương sự có mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15
ngày, ktừ ngày tuyên án (ngày 04/6/2025). Đương sự vắng mặt tại phiên toà quyền
kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Nam;
- VKSND thị xã Điện Bàn;
- Chi cục THADS thị xã Điện Bàn;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, lưu án văn.
8
9
Tải về
Bản án số 125/2025/DS-ST Bản án số 125/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 125/2025/DS-ST Bản án số 125/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất