Bản án số 122/2025/DS-ST ngày 04/06/2025 của TAND TX. Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 122/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 122/2025/DS-ST ngày 04/06/2025 của TAND TX. Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TX. Điện Bàn (TAND tỉnh Quảng Nam)
Số hiệu: 122/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/06/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm h khoản 1 Điều 40, khoản 3 Điều 92, Điều 157, 158, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, khoản 1 Điều 275, Điều 352, Điều 288, Điều 385, Điều 398, Điều 401 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên xử
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN
TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số: 122/2025/DS-ST
Ngày 04-6-2025.
V/v Tranh chấp hợp đồng đặt
mua đất nền.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Võ Văn Thể.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Lương Thị Kim Anh.
2/ Ông Nguyễn Lương Thành.
- Thư ký phiên toà: Bà Trương Thị Q Thư ký Toà án nhân dân thị xã Điện
Bàn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn tham gia phiên tòa: Ông
Trương Vui Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thị Điện Bàn, mở
phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 103/2024/TLST-DS ngày
18 tháng 3 năm 2024 về việc: Tranh chấp hợp đồng đặt mua đất nền”, theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 339/2024/QĐXXST DS ngày 02/12/2024, Quyết định
hoãn phiên tòa ngày 25/12/2024 Thông báo mở lại phiên tòa ngày 09/5/2025,
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm: 1984; địa chỉ: 36 Lê Quang
Định, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
- Bị đơn: + Công ty Cổ phần A; địa chỉ trụ sở chính: A7-21, 22 Khu Đô
thị S, phường Đ, thị Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Người đại diện theo pháp luật:
ông Nguyễn Công M - Chức danh: Chủ tịch HĐQT ông Diệp Bảo L - Chức
danh: Tổng Giám đốc. Vắng mặt.
+ Công ty TNHH Đầu Bất động sản G; địa chỉ trụ schính: 207/6 Nguyễn
Văn Thủ, phường Đ, Quận 1, tp HCM. Địa chỉ liên hệ: Số 51P Nguyễn Chí Thanh,
phường Thạch Than, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp
luật: Bà Đinh Anh Đào - Chức danh: Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông
Đinh Quang Tuấn - Chức danh: Phó giám đốc. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty bất động sản P; địa chỉ:
298-300 Lê Văn Hiến, quận H, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu Đ Tổng giám đốc. đơn
xin xét xử vắng mt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Do nhu cầu
mua đất nền để làm nhà ở nên bà Nguyễn Thị Ngọc H ký kết Hợp đồng đặt mua đất
2
nền Dự án 7B mrộng số 604/2017/HĐĐM-G ngày 19/9/2017 (viết tắc: Hợp đồng
số 604/C12-10) với Công ty TNHH Đầu tư BĐS G (viết tắc: Công ty G) để đặt mua
đất hiệu số C12-10; diện tích 110m2 (rộng 5m, dài 22m) tại Dự án 7B mở
rộng mà chủ đầu tư là Công ty Cổ phần A (viết tắc: Công ty A) với giá trị hợp đồng:
483.516.484 đồng, giá trị sau khi trừ chiếc khấu: 440.000.000 đồng. Sau khi ký hợp
đồng, Nguyễn Thị Ngọc H đã thanh toán đầy đủ và đúng theo tiến độ của hợp
đồng với 95% gtrđất cho Công ty G. Công ty P trực tiếp thu số tiền này
tiền bà Nguyễn Thị Ngọc H đã nộp cho Công ty P tiền thanh toán giá trị lô đất đặt
mua của ng ty G. Số tiền còn lại 5% giá trị đất thỏa thuận khi nào hai bên
hợp đồng chuyển nhượng QSD đất tại ng chứng, bàn giao bản chính giấy chứng
nhận bàn giao đất trên thực tế thì Nguyễn Thị Ngọc H sthanh toán cho
Công ty G.
Vào thời điểm hợp đồng đặt mua đất nền với Công ty G, bà Nguyễn Thị
Ngọc H được biết thửa đất nêu trên chủ đầu Công ty A và thửa đất này chưa
được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Sở Nguyễn Thị Ngọc H hợp đồng với
Công ty G do Công ty G đã Hợp đồng thỏa thuận góp vốn để đặt mua đất nền
dự án 7B mở rộng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN ngày 14/7/2017 với Công ty A (viết
tắt: Hợp đồng số 14/2017). Khi Hợp đồng số 604/C12-10, Công ty G cung cấp
cho Nguyễn Thị Ngọc H các văn bản pháp liên quan đến Dự án 7B mở rộng
nơi thửa đất H đặt mua, bà H chỉ nhìn thấy đất trên bản đồ quy hoạch
chi tiết 1/500 của UBND tỉnh Quảng Nam. Việc bà Nguyễn Thị Ngọc H ký Hợp
đồng số 604/C12-10 nhằm mục đích tiến đến việc hợp đồng chuyển nhượng
QSD đất tại Văn phòng Công chứng khi thửa đất được cấp giấy chứng nhận QSD
đất. Theo Điều 4 của Hợp đồng số 604/C12-10 quy định: “Thời gian tạo lập
hợp đồng chuyển quyền sdụng đất 14 tháng kể từ ngày hợp đồng đặt mua
này được kết”. Theo thỏa thuận thời hạn Công ty G cùng Công ty A trách
nhiệm thực hiện các thủ tục pháp lý để bàn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho bà Nguyễn Thị Ngọc H nhưng đến nay đã hơn 06 năm Nguyễn Thị Ngọc H
vẫn chưa nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của lô đất nêu trên mặc
bà Nguyễn Thị Ngọc H đã nhiều lần yêu cầu.
Nay Nguyễn Thị Ngọc H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty G
Công ty A phải nghĩa vụ liên đới thực hiện Hợp đồng số 604/C12-10, hợp
đồng chuyển nhượng QSD đất đối với lô đất hiệu số C12-10; diện tích 110m
2
tại
Văn phòng công chứng cho Nguyễn Thị Ngọc H, bàn giao giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất bàn giao đất trên thực tế. Đối với chi phí, xem xét thẩm
định tại chỗ Nguyễn Thị Ngọc H đã nộp tạm ứng 800.000 đồng, Nguyễn
Thị Ngọc H yêu cầu giải quyết theo pháp luật.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty G - ông Đinh Quang
Tuấn trình bày: Dự án 7B mrộng tại Khu đô thị mới Điện Nam - Điện Ngọc,
phường Điện Ngọc chủ đầu tư là Công ty A. Ngày 14/7/2017 Công ty G và Công ty
A đã ký Hợp đồng thỏa thuận góp vốn để đặt cọc mua đất nền dự án 7B mở rộng số
14/2017/HĐĐC-A-CN. Theo Hợp đồng số 14/2017 thì Công ty A đồng ý cho
Công ty G góp vốn đặt cọc để mua 435 (bốn trăm ba mươi lăm) lô đất nền thuộc dự
án 7B mở rộng (có danh sách kèm theo Hợp đồng số 14/2017).
3
Công ty G một trong những đơn vị phân phối sản phẩm Dự án 7B mở rộng
do chủ đầu tư là ng ty A thực hiện. Trên sở Hợp đồng số 14/2017 ngày
21/8/2017, Nguyễn Thị Ngọc H đã kết Hợp đồng số 604/C12-10 Công ty G
để đặt mua đất ký hiệu số C12-10; diện tích 110m
2
tại dự án 7B mở rộng mà chủ
đầu Công ty A với giá trị hợp đồng 483.516.484 đồng, sau khi đã trừ chiếc
khấu giá trị hợp đồng còn lại: 440.000.000 đồng. Sau khi Hợp đồng, Nguyễn
Thị Ngọc H đã thanh toán gtrị đất cho Công ty P. Công ty G xác nhận
Nguyễn Thị Ngọc H đã thanh toán cho Công ty G tổng số tiền 95% giá trị đất.
Vào thời điểm hợp đồng đặt mua đất nền với Công ty G, tất cả các khách hàng
đều biết tình trạng pháp lý của đất đặt mua chủ đầu của Dự án 7B m
rộng Công ty A, đồng thời trên thực tế Công ty G chưa bàn giao đất nêu trên
cho bà H.
Tại thời điểm khách hàng đặt cọc mua đất nền dự án 7B mở rộng, Công ty A
vẫn chưa thể ký trực tiếp với khách hàng vì thiếu một số thủ tục pháp lý vậy mặt
thỏa thuận với Công ty A, nhưng Công ty G đã thiếu văn bản ủy quyền đ
đứng ra hợp đồng đặt cọc tạm thời với khách hàng thay cho Công ty A, Công ty
G đã tổng hợp danh sách khách hàng gửi qua Công ty A để Công ty A nắm bắt, theo
dõi. Sau khi dự án 7B mở rộng hoàn thành các thủ tục pháp , Công ty G sẽ tổng
hợp danh sách khách hàng đgửi qua Công ty A ký trực tiếp với khách hàng, bên
cạnh đó Công ty G sẽ thu hồi và thanh lý hợp đồng đặt mua đất nền đã ký với khách
hàng.
Số tiền ng ty G nhận của Nguyễn Thị Ngọc Hvà các khách hàng
khác, Công ty G không chuyển cho Công ty A theo từng khách hàng đối với từng lô
đất mà đã chuyển tiền cho Công ty A theo từng đợt thanh toán được quy định tại
Điều 2 của Hợp đồng số 14/2017 đến nay Công ty G chuyển nhiều đợt tương
đương 70% giá trị Hợp đồng số 14/2017.
Hiện nay Công ty A vẫn đang thực hiện hợp đồng đã ký kết với Công ty G và
Công ty G vẫn đang tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt mua đất nền dự án 7B mở rộng
đã kết với các khách hàng trong đó Nguyễn Thị Ngọc Quý. Dự án khu đô
thị 7B mở rộng đã được UBND tỉnh Quảng Nam thống nhất điều chỉnh tiến độ thực
hiện theo Công văn số 6807/UBND-KTN ngày 10/9/2024, chủ đầu đang hoàn
thiện cơ sở pháp lý và thi công cơ sở hạ tầng để hoàn thành dự án.
Nay Nguyễn Thị Ngọc H khởi kiện, Công ty G đã đang tiếp tục thực
hiện Hợp đồng số 604/C12-10 với bà Nguyễn Thị Ngọc H.
- Công ty Cổ phần A: Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa,
người đại diện hợp pháp của Công ty vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
- Người đại diện theo pháp luật của Công ty P trình bày: Công ty Cphần
Bất động sản P đơn vị môi giới Dự án Khu đô thị 7B mở rộng tại Đô thị mới
Điện Nam Điện Ngọc theo Hợp đồng dịch vụ tiếp thu phân phối sản phẩm
thuộc Dự án G City số 01/2017/HĐĐL/G-PP ngày 22/7/2017, giữa Công ty
TNHH Đầu Bất động sản G Công ty CP Bất động sản P. Theo đó, Công ty G
đã ủy quyền cho Công ty P thu tiền giữ chỗ của khách hàng, trách nhiệm phát
hành phiếu thu và hướng dẫn khách hàng ký hợp đồng đặt cọc với Công ty G.
Nguyễn Thị Ngọc H là khách hàng được Công ty P i giớ để mua sản
phẩm dự án, Công ty P xác nhận thu tiền giữ chỗ của H về việc giao dịch
4
đất. Sau đó, Công ty P đã bàn giao khách hàng và hồ cho Công ty G để Công ty
G tiếp tục hợp đồng đặt mua đất nền dự án trực tiếp làm việc với khách hàng
không thông qua bên môi giới Công ty P. Các vấn đề phát sinh liên quan đến
hợp đồng đặt mua đất nền và chuyển nhượng sản phẩm, khách hàng sẽ làm việc trực
tiếp với Công ty G Công ty A. m theo văn bản trình bày ý kiến Hợp đồng
dịch vụ số 01/2017/HĐĐL/G-PP ngày 22/7/2017 và Thư ủy quyền về việc việc
thu tiền giữ chỗ của Công ty G. vậy, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy
định pháp luật.
Tóm tắt ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
+ Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ vụ án Thẩm phán, Thư Tòa án
Hội đồng xét xử được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng theo trình
tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Các đương sự chấp hành đúng các
quy định của pháp luật, riêng đại diện Công ty A Công ty G không chấp hành
đúng quy định của pháp luật, nhiều lần vắng mặt không có lý do.
+ Về giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, buộc Công ty G Công ty A phải nghĩa vụ liên đới tiếp tục thực
hiện Hợp đồng số 604/C12-10 giữa Công ty G với bà Nguyễn Thị Ngọc H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xnhận
định:
[1] Về quan hệ tranh chấp thẩm quyền giải quyết ván: Nguyễn Thị
Ngọc H khởi kiện yêu cầu Công ty A Công ty G liên đới tiếp tục thực hiện Hợp
đồng số 604/C12-10, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố
tụng dân sự thì đây tranh chấp hợp đồng dân sự mà cụ thể “Tranh chấp hợp
đồng đặt mua đất nền” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện, thị xã.
Hiện nay ng ty A trụ sở chính tại phường Điện Ngọc, thị Điện Bàn, tỉnh
Quảng Nam ng ty G trụ sở chính tại phường Đ, Quận 1, tp HCM, theo
điểm h khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Nếu các bị đơn trú,
làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi
một trong các bị đơn trú, làm việc, trụ sở giải quyết”. Trong vụ án này
nguyên đơn đã lựa chọn Toà án nơi Công ty A trụ sđể giải quyết, do đó vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án triệu tập hợp lệ ông Diệp Bảo L ông
Nguyễn Công M người đại diện theo pháp luật của Công ty A và người đại diện
theo ủy quyền của Công ty G ông Đinh Quang Tuấn đến phiên tòa lần thứ 2, nhưng
các đương sđều vắng mặt không do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố
tụng dân sự, Hội đồng t xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự đảm bảo
đúng quy định pháp luật.
[3] Về nội dung tranh chấp: Nguyễn Thị Ngọc H khởi kiện yêu cầu Tòa
án buộc Công ty A Công ty G liên đới thực hiện Hợp đồng số 604/C12-10, thực
hiện thủ tục hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu số C12-10,
bàn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bàn giao đất cho bà Nguyễn Thị
Ngọc H. Xét thấy việc bà Nguyễn Thị Ngọc H yêu cầu tiếp tục thực hiện Hợp đồng
5
số 604/C12-10 đã bao gồm các nội dung về việc thực hiện thủ tục hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với lô đất, bàn giao Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất bàn giao đất; bởi lẽ các yêu cầu nêu trên được các bên thoả thuận
tại Điều 6 của Hợp đồng. Do đó, Hội đồng xét xxem xét yêu cầu buộc tiếp tục
thực hiện Hợp đồng số 604/C12-10 là đã đảm bảo tất cả các yêu cầu của nguyên
đơn.
Xét yêu cầu của nguyên đơn thấy rằng: Công ty A chủ đầu tư Dự án Khu đô
thị 7B mở rộng tại Đô thị mới Điện Nam- Điện Ngọc, thị Điện Bàn, tỉnh Quảng
Nam theo Quyết định số 2450/QĐ-UBND ngày 10/7/2017 của UBND tỉnh Quảng
Nam về việc chuyển nhiệm vchủ đầu thực hiện các dự án trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam từ Công ty TNHH Sản xuất TH mại Bách Đạt sang cho Công ty A.
Sau khi được quan thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư, Công ty A tìm
kiếm đối tác có khả năng tài chính để tiến hành góp vốn đầu tư xây dựng dự án theo
đúng thiết kế, quy hoạch được phê duyệt và Công ty G mong muốn góp vốn đặt cọc
mua các đất tại dự án 7B mở rộng, nên ngày 14/7/2017 Công ty A kết Hợp
đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN với Công ty G. Theo nội dung Hợp đồng số
14/2017/HĐĐC/A-CN thì Công ty A đồng ý cho Công ty G góp vốn đặt cọc để
mua 435 đất nền tại dự án 7B mở rộng, danh sách, vị trí chi tiết của các đất
được thể hiện trong phụ lục số 01 một phần không thể tách rời Hợp đồng số
14/2017/HĐĐC/A-CN. Các bên tham gia kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện,
đủ năng lực nh vi dân sự, nội dung giao kết hợp đồng phù hợp với quy định
của pháp luật nên Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN phát sinh hiệu lực, các
bên phải nghĩa vụ thực hiện hợp đồng theo quy định tại Điều 117, khoản 1 Điều
275, Điều 352, Điều 401 của Bộ luật Dân sự.
Thực hiện Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN, Công ty G tiến hành thanh
toán tiền đặt cọc mua các đất cho Công ty A theo nội dung thoả thuận, đồng thời
Công ty G tiến hành ký hợp đồng đặt mua đất nền với các khách hàng trong phạm
vi 435 đất đã góp vốn tại Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN. Ngày
21/8/2017 Công ty G tiến hành Hợp đồng số 604/C12-10 với bà Nguyễn Thị
Ngọc H. Theo nội dung hợp đồng thể hiện Nguyễn Thị Ngọc H nhu cầu đặt
mua đất tại dự án 7B mở rộng hiệu số C12-10, diện tích 100m
2
với giá
483.516.484 đồng. Công ty G sẽ tiến hành các thủ tục hợp đồng chuyển nhượng
QSD đất tại phòng công chứng hoàn tất các thủ tục cấp giấy chứng nhận QSD
đất trong vòng 14 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng số 604/C12-10. Các bên tham gia
ký kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, có đủ năng lực hành vi dân sự, nội dung giao
kết hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên Hợp đồng số 604/C12-10 phát
sinh hiệu lực, các bên phải nghĩa vụ thực hiện hợp đồng theo quy định tại Điều
117, khoản 1 Điều 275, Điều 352, Điều 401 của Bộ luật Dân sự.
Thực hiện Hợp đồng s604/C12-10, Nguyễn Thị Ngọc H thực hiện tiến độ
thanh toán đúng thoả thuận đã nộp tiền 95% giá trị đất cho Công ty G thông
qua Công ty P.
Theo khoản 8.2.17 Điều 9 của Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN quy
định: “bên B có quyền bán/chuyển nhượng các đất cho bên thứ Ba sau khi thanh
toán tiền đặt cọc và nộp đủ tiền đợt 1”. Theo các chứng cứ mà Công ty G cung cấp
tính đến ngày 22/8/2017 Công ty G đã thanh toán đợt 1 tiền đặt cọc theo Hợp đồng
6
số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN 31.000.000.000 đồng (ba mươi mốt tỷ đồng) tương
đương 22% giá trị Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN, Công ty G thực hiện
đúng nội dung thoả thuận tại Điều 2 Điều 9 của Hợp đồng số
14/2017/HĐĐC/A-CN, nên Công ty G được quyền ký Hợp đồng số 604/C12-10
với bà H. Đồng thời đại diện Công ty G thừa nhận đã và đang tiếp tục thực hiện hợp
đồng đặt mua đất nền dự án 7B mở rộng đã kết với H. Tình tiết này được đại
diện Công ty G thừa nhận, căn cứ khoản 3 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; đây
những tình tiết không cần phải chứng minh. Do đó việc bà Nguyễn Thị Ngọc H u
cầu Công ty G tiếp tục thực hiện Hợp đồng số 604/C12-10 là có căn cứ chấp nhận.
Xét yêu cầu buộc Công ty A liên đới thực hiện Hợp đồng s604/C12-10 thấy
rằng: Theo khoản 5.1 Điều 5 của Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN quy định:
“…Ngay sau khi ký hợp đồng này, bên B có quyền chỉ định các tổ chức, cá nhân
đủ điều kiện shữu bất động sản tại Việt Nam (sau đây gọi tắt bên thứ Ba)
hợp đồng đặt cọc/nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong phạm vi các
bên B đã đặt cọc mua của A tại Điều 1 của Hợp đồng này. Bách Đạt không được
phép từ chối ký hợp đồng đặt cọc/chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với bên thứ
Ba. Quyền nghĩa vụ của bên thứ Ba quy định trong hợp đồng đặt cọc/nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ kế thừa tương ứng các quyền nghĩa vụ của
bên B theo quy định tại Hợp đồng này và các quy định của pháp luật…”
Theo tiểu mục 8.2.8 tiểu mục 8.2.9 khoản 8.2 Điều 8 của Hợp đồng số
14/2017/HĐĐC/BĐA-CN quy định cam kết nghĩa vụ của A như sau: kết
hợp đồng đặc cọc/chuyển quyền đặt mua với bên thứ Ba ngay khi bên B chỉ định
bên thứ Ba đã thanh toán đủ khoản tiền đợt 1”và Bách Đạt cam kết ký và bàn giao
hợp đồng đặt cọc/chuyển quyền sử dụng đất với bên th Ba trong vòng 7 ngày làm
việc kể tngày bên B chuyển danh sách bên thứ Ba mua các đất sang cho Bách
Đạt”.
Từ những thoả thuận và cam kết nêu trên của Công ty A, thì Công ty A không
quyền tchối hợp đồng đặt cọc/hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
cho bên thBa do Công ty G chỉ định trong phạm vi 435 đất Công ty G góp
vốn đặt mua tại Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN. Mặc khác Công ty G thừa
nhận Công ty A vẫn đang thực hiện Hợp đồng s 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN với
Công ty G, đồng thời theo các chứng từ thanh toán do Công ty G cung cấp tính đến
nay Công ty G đã thanh toán cho Công ty A với tổng số tiền 101,2 tỷ đồng (một
trăm lẽ một tỷ, hai trăm triệu đồng) tương đương 70% giá trị Hợp đồng số
14/2017/HĐĐC/BĐA-CN, nguồn tiền 101,2 tỷ đồng mà Công ty G đã thanh toán
cho Công ty A được thu tcác khách hàng đặt cọc mua 435 đất tại Hợp đồng số
14/2017/HĐĐC/BĐA-CN, trong đólô đất ký hiệu số C12-10 của bà Nguyễn Thị
Ngọc H đặt mua.
Theo thoả thuận tại Điều 4 của Hợp đồng số 604/C12-10 quy định thời gian
tạo lập kết hợp đồng chuyển nhượng QSD đất là 14 tháng ktừ ngày hợp
đồng đặt mua được kết, đến nay đã quá thời hạn thỏa thuận, nhưng Nguyễn
Thị Ngọc Hvẫn yêu cầu tiếp tục thực hiện Hợp đồng số 604/C12-10. Đồng thời dự
án Khu đô thị 7B mở rộng hiện nay tuy chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam
điều chỉnh tiến đthực hiện dự án đến hết tháng 12/2025 và hoàn thành đưa vào
7
khai thác sdụng theo Văn bản số 6807/UBND-KTN ngày 10/9/2024. Do đó, Hợp
đồng s604/C12-10 vẫn đảm bảo các điều kiện hiệu lực để thực hiện theo quy
định của pháp luật, nên HĐXX buộc ng ty A Công ty G liên đới tiếp tục thực
hiện Hợp đồng số 604/C12-10 là có căn cứ pháp luật.
Từ những phân tích nhận định u trên, việc Nguyễn Thị Ngọc H yêu
cầu Công ty A liên đới cùng Công ty G tiếp tục thực hiện Hợp đồng số 604/C12-10
là có căn cứ n HĐXX chấp nhận.
[5] Về án phíchi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157, 158 Bộ luật Tố tụng dân sự
và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc Hội thì Công ty A và Công ty G liên đới chịu án phí dân sự sơ
thẩm chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí tố
tụng số tiền 800.000 đồng và đã chi phí xong, nên Công ty A và Công ty G phải liên
đới hoàn trả lại cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm h khoản 1 Điều 40,
khoản 3 Điều 92, Điều 157, 158, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật
Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, khoản 1 Điều 275, Điều 352, Điều 288, Điều
385, Điều 398, Điều 401 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Th Ngọc H đối với
Công ty Cổ phần A và Công ty TNHH Đầu Bất động sản G vviệc: “Tranh chấp
hợp đồng đặt mua đất nền”.
1. Buộc Công ty Cổ phần A Công ty TNHH Đầu Bất động sản G phải
có nghĩa vụ liên đới tiếp tục thực hiện Hợp đồng đặt mua đất nền dự án 7B mở rộng
số 604/2017/HĐĐM-G kết ngày 19/9/2017, giữa Công ty TNHH Đầu Bất
động sản G và bà Nguyễn Thị Ngọc H.
2. Về án phí: Công ty TNHH Đầu Bất động sản G Công ty Cổ phần A
phải nghĩa vụ liên đới chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí Dân sự sơ
thẩm. Hoàn trả cho Nguyễn Thị Ngọc H số tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm
đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0014370 ngày
18/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
3. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chổ số tiền 800.000
đồng (Tám trăm nghìn đồng). Buộc Công ty Cổ phần A Công ty TNHH Đầu tư
Bất động sản G phải nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho Nguyễn Thị Ngọc H số
tiền trên.
4. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án thẩm
trong hạn 15 ngày, ktừ ngày tuyên án (ngày 04/6/2025). Đương sự vắng mặt tại
phiên toà quyền kháng cáo bản án thẩm trong hạn 15 ngày ktừ ngày bản án
được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự tngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân squyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
8
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân
sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Nam;
- VKSND thị xã Điện Bàn;
- Chi cục THADS thị xã Điện Bàn;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(Đã ký)
Võ Văn Thể
Tải về
Bản án số 122/2025/DS-ST Bản án số 122/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 122/2025/DS-ST Bản án số 122/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất