Bản án số 120/2025/DS-ST ngày 04/06/2025 của TAND TX. Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 120/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 120/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 120/2025/DS-ST
Tên Bản án: | Bản án số 120/2025/DS-ST ngày 04/06/2025 của TAND TX. Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam về tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND TX. Điện Bàn (TAND tỉnh Quảng Nam) |
Số hiệu: | 120/2025/DS-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 04/06/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm h khoản 1 Điều 40, khoản 3 Điều 92, Điều 157, 158, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, khoản 1 Điều 275, Điều 352, Điều 288, Điều 385, Điều 398, Điều 401 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên xử |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN
TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số: 120/2025/DS-ST
Ngày 04-6-2025.
V/v “Tranh chấp hợp đồng đặt
mua đất nền”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Võ Văn Thể.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Lương Thị Kim Anh.
2/ Ông Nguyễn Lương Thành.
- Thư ký phiên toà: Bà Trương Thị Q – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Điện
Bàn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn tham gia phiên tòa: Bà
Đỗ Thị Thương – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, mở
phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 149/2024/TLST-DS ngày
26 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt mua đất nền”, theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 337/2024/QĐXXST– DS ngày 02/12/2024, Quyết định
hoãn phiên tòa ngày 25/12/2024 và Thông báo mở lại phiên tòa ngày 09/5/2025,
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc Q, sinh năm: 1990; Địa chỉ: Tổ 82,
phường Th, quận C, thành phố Đà Nẵng. Nơi ở hiện nay: K42/18 Nguyễn Thành
Hãn, phường H, quận H, thanh phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Th, sinh năm: 1965; địa chỉ:
K52/26 Đinh Tiên Hoàng, phường Th, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
- Bị đơn: + Công ty Cổ phần A; địa chỉ trụ sở chính: Lô A7-21, 22 Khu Đô
thị S, phường Đ, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Người đại diện theo pháp luật:
ông Nguyễn Công M - Chức danh: Chủ tịch HĐQT và ông Diệp Bảo L - Chức
danh: Tổng Giám đốc. Vắng mặt.
+ Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản G; địa chỉ trụ sở chính:
207/6 Nguyễn Văn Thủ, phường Đ, Quận 1, tp HCM. Địa chỉ liên hệ: Số 51P
Nguyễn Chí Thanh, phường Th, quận H, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo
pháp luật: Bà Đinh Anh Đ - Chức danh: Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền:
Ông Đinh Quang T - Chức danh: Phó giám đốc (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty bất động sản P; địa chỉ:
298-300 Lê Văn Hiến, quận N, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật:
Ông Nguyễn Hữu Đ – Tổng giám đốc. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Do có nhu cầu
mua đất nền để làm nhà ở nên bà Nguyễn Thị Ngọc Q ký kết Hợp đồng đặt mua đất
nền Dự án 7B mở rộng số 725/2017/HĐĐM-G ngày 21/8/2017 (viết tắc: Hợp đồng
số 725/C15-20) với Công ty TNHH Đầu tư BĐS G (viết tắc: Công ty G) để đặt mua
lô đất ký hiệu số C15-20; diện tích 100m
2
(rộng 5m, dài 20m) tại Dự án 7B mở rộng
mà chủ đầu tư là Công ty Cổ phần A (viết tắc: Công ty A) với giá trị hợp đồng:
483.516.484 đồng, giá trị sau khi trừ chiếc khấu: 430.329.671 đồng. Sau khi ký hợp
đồng, bà Nguyễn Thị Ngọc Q đã thanh toán đầy đủ và đúng theo tiến độ của hợp
đồng với 95% giá trị lô đất. Bà Nguyễn Thị Ngọc Q nộp trực tiếp tiền cho Công ty
Cổ phần Bất động sản P (viết tắt: Công ty P) theo Thư ủy quyền ngày 21/7/2017 của
Công ty G. Số tiền mà bà Nguyễn Thị Ngọc Q đã nộp cho Công ty G là tiền thanh
toán giá trị lô đất. Số tiền còn lại 5% giá trị lô đất thỏa thuận khi nào hai bên ký hợp
đồng chuyển nhượng QSD đất tại Công chứng, bàn giao bản chính giấy chứng nhận
và bàn giao lô đất trên thực tế thì bà Nguyễn Thị Ngọc Q sẽ thanh toán cho Công ty
G.
Vào thời điểm ký hợp đồng đặt mua đất nền với Công ty G, bà Nguyễn Thị
Ngọc Q được biết thửa đất nêu trên chủ đầu tư là Công ty A và thửa đất này chưa
được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Sở dĩ bà Nguyễn Thị Ngọc Q ký hợp đồng với
Công ty G là do Công ty G đã ký Hợp đồng thỏa thuận góp vốn để đặt mua đất nền
dự án 7B mở rộng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN ngày 14/7/2017 với Công ty A (viết
tắt: Hợp đồng số 14/2017). Khi ký Hợp đồng số 725/C15-20, Công ty G cung cấp
cho bà Nguyễn Thị Ngọc Q các văn bản pháp lý liên quan đến Dự án 7B mở rộng
nơi có thửa đất mà bà Nguyễn Thị Ngọc Q đặt mua, bà Nguyễn Thị Ngọc Q chỉ
nhìn thấy lô đất trên bản đồ quy hoạch chi tiết 1/500 của UBND tỉnh Quảng Nam.
Việc bà Nguyễn Thị Ngọc Q ký Hợp đồng số 725/C15-20 nhằm mục đích tiến đến
việc ký hợp đồng chuyển nhượng QSD đất tại Văn phòng Công chứng khi thửa đất
được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Theo Điều 4 của Hợp đồng số 725/C15-20 quy
định: “Thời gian tạo lập và ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất là 14 tháng kể từ
ngày ký hợp đồng đặt mua này được ký kết”. Theo thỏa thuận thời hạn Công ty G
cùng Công ty A có trách nhiệm thực hiện các thủ tục pháp lý để bàn giao giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Ngọc Q nhưng đến nay đã hơn
06 năm bà Nguyễn Thị Ngọc Q vẫn chưa nhận được giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất của lô đất nêu trên mặc dù bà Nguyễn Thị Ngọc Q đã nhiều lần yêu cầu.
Nay bà Nguyễn Thị Ngọc Q yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty G và
Công ty A phải có nghĩa vụ liên đới thực hiện Hợp đồng số 725/C15-20, ký hợp
đồng chuyển nhượng QSD đất đối với lô đất ký hiệu số C15-20; diện tích 100m
2
tại
Văn phòng công chứng cho bà Nguyễn Thị Ngọc Q, bàn giao giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và bàn giao lô đất trên thực tế. Đối với chi phí, xem xét thẩm
định tại chỗ bà Nguyễn Thị Ngọc Q đã nộp tạm ứng là 800.000 đồng, bà Nguyễn
Thị Ngọc Q yêu cầu giải quyết theo pháp luật.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty G - ông Đinh Quang T
trình bày: Dự án 7B mở rộng tại Khu đô thị mới Điện Nam - Điện Ngọc, phường
Điện Ngọc chủ đầu tư là Công ty A. Ngày 14/7/2017 Công ty G và Công ty A đã ký
3
Hợp đồng thỏa thuận góp vốn để đặt cọc mua đất nền dự án 7B mở rộng số
14/2017/HĐĐC-BĐA-CN. Theo Hợp đồng số 14/2017 thì Công ty A đồng ý cho
Công ty G góp vốn đặt cọc để mua 435 (bốn trăm ba mươi lăm) lô đất nền thuộc dự
án 7B mở rộng (có danh sách kèm theo Hợp đồng số 14/2017).
Công ty G là một trong những đơn vị phân phối sản phẩm Dự án 7B mở rộng
do chủ đầu tư là Công ty A thực hiện. Trên cơ sở ký Hợp đồng số 14/2017 ngày
21/8/2017, bà Nguyễn Thị Ngọc Q đã ký kết Hợp đồng số 725/C15-20 Công ty G
để đặt mua lô đất ký hiệu số C15-20; diện tích 100m
2
tại dự án 7B mở rộng mà chủ
đầu tư là Công ty A với giá trị hợp đồng 483.516.484 đồng, sau khi đã trừ chiếc
khấu giá trị hợp đồng còn lại: 430.329.671 đồng. Sau khi ký Hợp đồng, bà Nguyễn
Thị Ngọc Q đã thanh toán giá trị lô đất cho Công ty P. Công ty G xác nhận bà
Nguyễn Thị Ngọc Q đã thanh toán cho Công ty G tổng số tiền là: 430.329.671
đồng. Vào thời điểm ký hợp đồng đặt mua đất nền với Công ty G, tất cả các khách
hàng đều biết rõ tình trạng pháp lý của lô đất đặt mua và chủ đầu tư của Dự án 7B
mở rộng là Công ty A, đồng thời trên thực tế Công ty G chưa bàn giao lô đất nêu
trên cho bà Nguyễn Thị Ngọc Q.
Tại thời điểm khách hàng đặt cọc mua đất nền dự án 7B mở rộng, Công ty A
vẫn chưa thể ký trực tiếp với khách hàng vì thiếu một số thủ tục pháp lý vì vậy mặt
dù có thỏa thuận với Công ty A, nhưng Công ty G đã thiếu văn bản ủy quyền để
đứng ra ký hợp đồng đặt cọc tạm thời với khách hàng thay cho Công ty A, Công ty
G đã tổng hợp danh sách khách hàng gửi qua Công ty A để Công ty A nắm bắt, theo
dõi. Sau khi dự án 7B mở rộng hoàn thành các thủ tục pháp lý, Công ty G sẽ tổng
hợp danh sách khách hàng để gửi qua Công ty A ký trực tiếp với khách hàng, bên
cạnh đó Công ty G sẽ thu hồi và thanh lý hợp đồng đặt mua đất nền đã ký với khách
hàng.
Số tiền mà Công ty G nhận của bà Nguyễn Thị Ngọc Q và các khách hàng
khác, Công ty G không chuyển cho Công ty A theo từng khách hàng đối với từng lô
đất mà đã chuyển tiền cho Công ty A theo từng đợt thanh toán được quy định tại
Điều 2 của Hợp đồng số 14/2017 và đến nay Công ty G chuyển nhiều đợt tương
đương 70% giá trị Hợp đồng số 14/2017.
Hiện nay Công ty A vẫn đang thực hiện hợp đồng đã ký kết với Công ty G và
Công ty G vẫn đang tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt mua đất nền dự án 7B mở rộng
đã ký kết với các khách hàng trong đó có bà Nguyễn Thị Ngọc Q. Dự án khu đô thị
7B mở rộng đã được UBND tỉnh Quảng Nam thống nhất điều chỉnh tiến độ thực
hiện theo Công văn số 6807/UBND-KTN ngày 10/9/2024, chủ đầu tư đang hoàn
thiện cơ sở pháp lý và thi công cơ sở hạ tầng để hoàn thành dự án.
Nay bà Q khởi kiện, Công ty G đã và đang tiếp tục thực hiện Hợp đồng số
725/C15-20 với bà Nguyễn Thị Ngọc Q.
- Công ty Cổ phần A: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa,
người đại diện hợp pháp của Công ty vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
- Người đại diện theo pháp luật của Công ty P trình bày: Công ty Cổ phần
Bất động sản P là đơn vị môi giới Dự án Khu đô thị 7B mở rộng tại Đô thị mới
Điện Nam – Điện Ngọc theo Hợp đồng dịch vụ tiếp thu và phân phối sản phẩm
thuộc Dự án G City số 01/2017/HĐĐL/G-PP ký ngày 22/7/2017, giữa Công ty
TNHH Đầu tư Bất động sản G và Công ty CP Bất động sản P. Theo đó, Công ty G
4
đã ủy quyền cho Công ty P thu tiền giữ chỗ của khách hàng, có trách nhiệm phát
hành phiếu thu và hướng dẫn khách hàng ký hợp đồng đặt cọc với Công ty G.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Q là khách hàng được Công ty P môi giới để mua sản
phẩm dự án, Công ty P xác nhận có thu tiền giữ chỗ của bà Q về việc giao dịch lô
đất. Sau đó, Công ty P đã bàn giao khách hàng và hồ sơ cho Công ty G để Công ty
G tiếp tục ký hợp đồng đặt mua đất nền dự án và trực tiếp làm việc với khách hàng
mà không thông qua bên môi giới là Công ty P. Các vấn đề phát sinh liên quan đến
hợp đồng đặt mua đất nền và chuyển nhượng sản phẩm, khách hàng sẽ làm việc trực
tiếp với Công ty G và Công ty A. Kèm theo văn bản trình bày ý kiến là Hợp đồng
dịch vụ số 01/2017/HĐĐL/G-PP ký ngày 22/7/2017 và Thư ủy quyền về việc việc
thu tiền giữ chỗ của Công ty G. Vì vậy, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy
định pháp luật.
Tóm tắt ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
+ Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án Thẩm phán, Thư ký Tòa án
và Hội đồng xét xử được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng theo trình
tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Các đương sự chấp hành đúng các
quy định của pháp luật, riêng đại diện Công ty A và Công ty G không chấp hành
đúng quy định của pháp luật, nhiều lần vắng mặt không có lý do.
+ Về giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, buộc Công ty G và Công ty A phải có nghĩa vụ liên đới tiếp tục thực
hiện Hợp đồng số 725/C15-20 giữa Công ty G với bà Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị
Ngọc Q khởi kiện yêu cầu Công ty A và Công ty G liên đới tiếp tục thực hiện Hợp
đồng số 725/C15-20, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố
tụng dân sự thì đây là tranh chấp hợp đồng dân sự mà cụ thể là “Tranh chấp hợp
đồng đặt mua đất nền” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện, thị xã.
Hiện nay Công ty A có trụ sở chính tại phường Điện Ngọc, thị xã Điện Bàn, tỉnh
Quảng Nam và Công ty G có trụ sở chính tại phường Đ, Quận 1, tp HCM, theo
điểm h khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Nếu các bị đơn cư trú,
làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi
một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết”. Trong vụ án này
nguyên đơn đã lựa chọn Toà án nơi Công ty A có trụ sở để giải quyết, do đó vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án triệu tập hợp lệ ông Diệp Bảo L và ông
Nguyễn Công M là người đại diện theo pháp luật của Công ty A và người đại diện
theo ủy quyền của Công ty G ông Đinh Quang T đến phiên tòa lần thứ 2, nhưng các
đương sự đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng
dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đảm bảo đúng
quy định pháp luật.
5
[3] Về nội dung tranh chấp: Bà Nguyễn Thị Ngọc Q khởi kiện yêu cầu Tòa
án buộc Công ty A và Công ty G liên đới thực hiện Hợp đồng số 725/C15-20, thực
hiện thủ tục ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng lô đất ký hiệu số C15-20,
bàn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bàn giao lô đất cho bà Q. Xét thấy
việc bà Q yêu cầu tiếp tục thực hiện Hợp đồng số 725/C15-20 là đã bao gồm các
nội dung về việc thực hiện thủ tục ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
đối với lô đất, bàn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bàn giao lô đất; bởi
lẽ các yêu cầu nêu trên được các bên thoả thuận tại Điều 6 của Hợp đồng. Do đó,
Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu buộc tiếp tục thực hiện Hợp đồng số 725/C15-20
là đã đảm bảo tất cả các yêu cầu của nguyên đơn.
Xét yêu cầu của nguyên đơn thấy rằng: Công ty A là chủ đầu tư Dự án Khu đô
thị 7B mở rộng tại Đô thị mới Điện Nam- Điện Ngọc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng
Nam theo Quyết định số 2450/QĐ-UBND ngày 10/7/2017 của UBND tỉnh Quảng
Nam về việc chuyển nhiệm vụ chủ đầu tư thực hiện các dự án trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam từ Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Bách Đạt sang cho Công ty
A. Sau khi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư, Công ty A
tìm kiếm đối tác có khả năng tài chính để tiến hành góp vốn đầu tư xây dựng dự án
theo đúng thiết kế, quy hoạch được phê duyệt và Công ty G mong muốn góp vốn
đặt cọc mua các lô đất tại dự án 7B mở rộng, nên ngày 14/7/2017 Công ty A ký kết
Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN với Công ty G. Theo nội dung Hợp đồng số
14/2017/HĐĐC/BĐA-CN thì Công ty A đồng ý cho Công ty G góp vốn đặt cọc để
mua 435 lô đất nền tại dự án 7B mở rộng, danh sách, vị trí chi tiết của các lô đất
được thể hiện trong phụ lục số 01 là một phần không thể tách rời Hợp đồng số
14/2017/HĐĐC/BĐA-CN. Các bên tham gia ký kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện,
có đủ năng lực hành vi dân sự, nội dung giao kết hợp đồng phù hợp với quy định
của pháp luật nên Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN phát sinh hiệu lực, các
bên phải có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng theo quy định tại Điều 117, khoản 1 Điều
275, Điều 352, Điều 401 của Bộ luật Dân sự.
Thực hiện Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN, Công ty G tiến hành thanh
toán tiền đặt cọc mua các lô đất cho Công ty A theo nội dung thoả thuận, đồng thời
Công ty G tiến hành ký hợp đồng đặt mua đất nền với các khách hàng trong phạm
vi 435 lô đất đã góp vốn tại Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN. Ngày
21/8/2017 Công ty G tiến hành ký Hợp đồng số 725/C15-20 với bà Nguyễn Thị
Ngọc Q. Theo nội dung hợp đồng thể hiện bà Nguyễn Thị Ngọc Q có nhu cầu đặt
mua lô đất tại dự án 7B mở rộng ký hiệu số C15-20, diện tích 100m
2
với giá
513.049.500 đồng. Công ty G sẽ tiến hành các thủ tục ký hợp đồng chuyển nhượng
QSD đất tại phòng công chứng và hoàn tất các thủ tục cấp giấy chứng nhận QSD
đất trong vòng 14 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng số 725/C15-20. Các bên tham gia
ký kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, có đủ năng lực hành vi dân sự, nội dung giao
kết hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên Hợp đồng số 725/C15-20 phát
sinh hiệu lực, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng theo quy định tại Điều
117, khoản 1 Điều 275, Điều 352, Điều 401 của Bộ luật Dân sự.
Thực hiện Hợp đồng số 725/C15-20, bà Nguyễn Thị Ngọc Q đã thực hiện
tiến độ thanh toán đúng thoả thuận và đã nộp trực tiếp cho Công ty G số tiền 95%
giá trị lô đất mà bà Q đặt mua.
6
Theo khoản 8.2.17 Điều 9 của Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN quy
định: “bên B có quyền bán/chuyển nhượng các lô đất cho bên thứ Ba sau khi thanh
toán tiền đặt cọc và nộp đủ tiền đợt 1”. Theo các chứng cứ mà Công ty G cung cấp
tính đến ngày 22/8/2017 Công ty G đã thanh toán đợt 1 tiền đặt cọc theo Hợp đồng
số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN là 31.000.000.000 đồng (ba mươi mốt tỷ đồng) tương
đương 22% giá trị Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN, Công ty G thực hiện
đúng nội dung thoả thuận tại Điều 2 và Điều 9 của Hợp đồng số
14/2017/HĐĐC/BĐA-CN, nên Công ty G được quyền ký Hợp đồng số 725/C15-20
với bà Q. Đồng thời đại diện Công ty G thừa nhận đã và đang tiếp tục thực hiện hợp
đồng đặt mua đất nền dự án 7B mở rộng đã ký kết với bà Q. Tình tiết này được đại
diện Công ty G thừa nhận, căn cứ khoản 3 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; đây là
những tình tiết không cần phải chứng minh. Do đó việc bà Nguyễn Thị Ngọc Q yêu
cầu Công ty G tiếp tục thực hiện Hợp đồng số 725/C15-20 là có căn cứ chấp nhận.
Xét yêu cầu buộc Công ty A liên đới thực hiện Hợp đồng số 725 thấy rằng:
Theo khoản 5.1 Điều 5 của Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN quy định:
“…Ngay sau khi ký hợp đồng này, bên B có quyền chỉ định các tổ chức, cá nhân có
đủ điều kiện sở hữu bất động sản tại Việt Nam (sau đây gọi tắt là bên thứ Ba) ký
hợp đồng đặt cọc/nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong phạm vi các lô mà
bên B đã đặt cọc mua của A tại Điều 1 của Hợp đồng này. Bách Đạt không được
phép từ chối ký hợp đồng đặt cọc/chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với bên thứ
Ba. Quyền và nghĩa vụ của bên thứ Ba quy định trong hợp đồng đặt cọc/nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ kế thừa tương ứng các quyền và nghĩa vụ của
bên B theo quy định tại Hợp đồng này và các quy định của pháp luật…”
Theo tiểu mục 8.2.8 và tiểu mục 8.2.9 khoản 8.2 Điều 8 của Hợp đồng số
14/2017/HĐĐC/BĐA-CN quy định cam kết và nghĩa vụ của A như sau: “Ký kết
hợp đồng đặc cọc/chuyển quyền đặt mua với bên thứ Ba ngay khi bên B chỉ định và
bên thứ Ba đã thanh toán đủ khoản tiền đợt 1”và “Bách Đạt cam kết ký và bàn giao
hợp đồng đặt cọc/chuyển quyền sử dụng đất với bên thứ Ba trong vòng 7 ngày làm
việc kể từ ngày bên B chuyển danh sách bên thứ Ba mua các lô đất sang cho Bách
Đạt”.
Từ những thoả thuận và cam kết nêu trên của Công ty A, thì Công ty A không
có quyền từ chối ký hợp đồng đặt cọc/hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
cho bên thứ Ba do Công ty G chỉ định trong phạm vi 435 lô đất mà Công ty G góp
vốn đặt mua tại Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN. Mặc khác Công ty G thừa
nhận Công ty A vẫn đang thực hiện Hợp đồng số 14/2017/HĐĐC/BĐA-CN với
Công ty G, đồng thời theo các chứng từ thanh toán do Công ty G cung cấp tính đến
nay Công ty G đã thanh toán cho Công ty A với tổng số tiền 101,2 tỷ đồng (một
trăm lẻ một tỷ, hai trăm triệu đồng) tương đương 70% giá trị Hợp đồng số
14/2017/HĐĐC/BĐA-CN, nguồn tiền 101,2 tỷ đồng mà Công ty G đã thanh toán
cho Công ty A được thu từ các khách hàng đặt cọc mua 435 lô đất tại Hợp đồng số
14/2017/HĐĐC/BĐA-CN, trong đó có lô đất ký hiệu số C15-20 của bà Nguyễn Thị
Ngọc Q đặt mua.
Theo thoả thuận tại Điều 4 của Hợp đồng số 725/C15-20 quy định thời gian
tạo lập và ký kết hợp đồng chuyển nhượng QSD đất là 14 tháng kể từ ngày hợp
đồng đặt mua được ký kết, đến nay đã quá thời hạn thỏa thuận, nhưng bà Nguyễn
Thị Ngọc Q vẫn yêu cầu tiếp tục thực hiện Hợp đồng số 725/C15-20. Đồng thời dự
7
án Khu đô thị 7B mở rộng hiện nay tuy chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam
điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án đến hết tháng 12/2025 và hoàn thành đưa vào
khai thác sử dụng theo Văn bản số 6807/UBND-KTN ngày 10/9/2024. Do đó, Hợp
đồng số 725/C15-20 vẫn đảm bảo các điều kiện có hiệu lực để thực hiện theo quy
định của pháp luật, nên HĐXX buộc Công ty A và Công ty G liên đới tiếp tục thực
hiện Hợp đồng số 725/C15-20 là có căn cứ pháp luật.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, việc bà Nguyễn Thị Ngọc Q yêu
cầu Công ty A liên đới cùng Công ty G tiếp tục thực hiện Hợp đồng số 725/C15-20
là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.
[5] Về án phí và chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157, 158 Bộ luật Tố tụng dân sự
và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc Hội thì Công ty A và Công ty G liên đới chịu án phí dân sự sơ
thẩm và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí tố
tụng số tiền 800.000 đồng và đã chi phí xong, nên Công ty A và Công ty G phải liên
đới hoàn trả lại cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm h khoản 1 Điều 40,
khoản 3 Điều 92, Điều 157, 158, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật
Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, khoản 1 Điều 275, Điều 352, Điều 288, Điều
385, Điều 398, Điều 401 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc Q đối với Công ty Cổ
phần A và Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản G về việc: “Tranh chấp hợp đồng
đặt mua đất nền”.
1. Buộc Công ty Cổ phần A và Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản G phải
có nghĩa vụ liên đới tiếp tục thực hiện Hợp đồng đặt mua đất nền dự án 7B mở rộng
số 725/2017/HĐĐM-G ký kết ngày 21/8/2017, giữa Công ty TNHH Đầu tư Bất
động sản G và bà Nguyễn Thị Ngọc Q.
2. Về án phí: Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản G và Công ty Cổ phần A
phải có nghĩa vụ liên đới chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí Dân sự sơ
thẩm. Hoàn trả cho bà Q số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000
đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0014402 ngày 26/3/2024 của Chi
cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
3. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chổ số tiền 800.000
đồng (Tám trăm nghìn đồng). Buộc Công ty Cổ phần A và Công ty TNHH Đầu tư
Bất động sản G phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc Q số
tiền trên.
4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong
hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 04/6/2025). Đương sự vắng mặt tại phiên
toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được
tống đạt hợp lệ.

8
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân
sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Nam;
- VKSND thị xã Điện Bàn;
- Chi cục THADS thị xã Điện Bàn;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(Đã ký)
Võ Văn Thể
9
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 14/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 14/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 10/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 09/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 25/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 24/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 23/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 23/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 17/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 17/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 15/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 10/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 03/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 30/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 24/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm