Bản án số 12/2026/DS-PT ngày 11/03/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng gia công
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 12/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 12/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 12/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 12/2026/DS-PT ngày 11/03/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng gia công |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng gia công |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Cần Thơ |
| Số hiệu: | 12/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 11/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Y án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
——————————
Bản án số: 12/2026/KDTM-PT
Ngày 11/3/2026
“Tranh chấp hợp đồng thi công”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
——————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chế Linh
Các Thẩm phán: Ông Võ Bảo Anh
Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Niềm là Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ
tham gia phiên
tòa: Ông Bùi Văn Bảo - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần
Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 43/2025/TLPT-KDTM ngày
31 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng thi công”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2025/KDTM-ST ngày 22 tháng 8 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 121/2026/QĐ-PT
ngày 11 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty M
Địa chỉ trụ sở: Ấp 6, xã K, tỉnh C.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Phước C, sinh năm: 1986.
Địa chỉ: Số 64 Bùi Quang Trinh (đường A2), khu dân cư P, phường H,
thành phố C.
- Bị đơn: Công ty N (gọi tắt là Công ty N)
Địa chỉ trụ sở: Ấp Phú Thạnh, xã Ch, thành phố C.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Trọng N, sinh
năm 1998. Địa chỉ: 116 Tầm Vu, phường T, thành phố C.
- Người kháng cáo: Công ty N là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
* Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn, đại
diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 13 tháng 06 năm 2022 tại văn phòng Công ty N chúng tôi có thỏa
thuận ký Hợp đồng xây dựng số: 11.1306/2022/HĐKT/NSH-MT với hạng mục
Thi công ép cọc D400 “02 bồn chứa xăng dầu dung tích 7000m³”. Sau đó, đến
ngày 14 tháng 07 năm 2022, hai bên thỏa thuận tiếp tục ký Hợp đồng kinh tế số
04.1407/NSH-MT với gói thầu 02 bồn chứa xăng dầu dung tích 7000m³ thuộc
dự án “Kho chứa xăng dầu M - H” với Công ty N. Tại đây hai bên đã thỏa
thuận thi công trọn gói thầu: Cung cấp vật tư, nhân công, máy móc thiết bị thi
công lắp đặt 02 bồn chứa xăng dầu 7000m³ tại Ấp P, thị trấn M, huyện C, tỉnh
H mà hai bên thống nhất.
Về phương thức thanh toán của hai hợp đồng nói trên hai bên điều thống
nhất sẽ thanh toán theo các đợt và trong quá trình thực hiện hợp đồng nếu quá
thời hạn thanh toán thì phía Công ty N sẽ phải chịu lãi suất quá hạn cho số tiền
chậm thanh toán theo lãi suất Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam tại
thời điểm thanh toán.
Công ty chúng tôi đã thực hiện đúng theo các hợp đồng đã ký, tiến hành
thi công tất cả các hạng mục công trình đúng thời hạn theo quy định hợp đồng,
có đầy đủ biên bản nghiệm thu công trình và có xác nhận của các bên. Nhưng
đến nay Công ty N vẫn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán, chưa thanh
toán số tiền nợ còn lại theo các hợp đồng nói trên cho Công ty M.
Đến hiện tại Công ty N chỉ mới thanh toán cho chúng tôi số tiền là
18.268.892.468 đồng và còn nợ lại của nguyên đơn theo Hợp đồng kinh tế số
04.1407/NSH-MT là 6.068.173.000 đồng, lãi suất chậm trả tạm tính đến ngày
30/04/2024 là 803.424.629 đồng và số tiền bảo hành 220.341.000 đồng, lãi suất
chậm trả tạm tính đến ngày 30/04/2024 là 18.112.030 đồng đối với Hợp đồng
kinh tế số: 11.1306/2022/HĐKT/NSH-MT. Tổng nợ mà Công ty N phải thanh
toán cho chúng tôi là: 7.110.050.659 đồng (Bảy tỷ một trăm mười triệu không
trăm năm mươi ngàn sáu trăm năm mươi chín đồng)
Công ty N đã trì hoãn trong việc trả nợ đến hạn theo hợp đồng gây ảnh
hưởng nghiêm trọng cho công ty chúng tôi dẫn đến việc thiếu hụt nguồn vốn
hoạt động, trả nợ ngân hàng, hồ sơ thuế, lương công nhân và các đơn vị cung
cấp hàng cho công ty chúng tôi. Nhiều lần công ty đã đến văn phòng làm việc
cũng nhận được văn bản đồng ý trả nợ nhưng đến hạn vẫn không trả và cố tình
tránh mặt, kéo dài thời gian trốn tránh nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng.
Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc Công ty CP TM Đầu tư Dầu khí
Nam Sông Hậu phải thanh toán cho Công ty chúng tôi tổng tiền công nợ quá
hạn và lãi chậm thanh toán (của hai hợp đồng kinh tế) là: 6.657.036.999 đồng,
trong đó nợ gốc là 6.215.367.273 đồng và tiền lãi là 441.669.726 đồng
Căn cứ Hợp đồng kinh tế số 11.1306 thì Công ty N đã thanh toán
4.186.479.000 đồng. Còn tiền bảo hành 5% chưa thanh toán là 220.341.000
đồng.
3
Căn cứ Hợp đồng kinh tế số 04.1407 thì Công ty N đã thanh toán
18.268.892.468 đồng. Số tiền chưa thanh toán là 6.068.173.000 đồng.
- Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện nguyên đơn trình bày sau khi ký biên
bản ngày 07/02/2024 thì phía bị đơn đã trả thêm cho nguyên đơn số tiền
200.000.000 đồng; nên số tiền nợ bị đơn còn phải thanh toán là 6.268.173.000
đồng - 200.000.000 đồng = 6.068.173.000 đồng; bao gồm tiền nợ, Trong đó
bao gồm: 5% bảo hành trên giá trị nghiệm thu: 24.337.065.468 đồng là
1.126.853.273 đồng. Tiền nợ theo hợp đồng chưa thanh toán: 4.868.173.000
đồng.
Ngoài số tiền nợ gốc trên, các bên còn cam kết trả thêm lãi theo hợp
đồng đã ký.
- Tại bản án dân sự sơ thẩm số 06/2025/KDTM-ST ngày 22 tháng 8 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Cần Thơ đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả
tiền nợ theo các hợp đồng thi công xây dựng.
Buộc bị đơn trả cho nguyên đơn tổng số tiền tổng tiền công nợ quá hạn
và lãi chậm thanh toán (của hai hợp đồng kinh tế) là: 6.657.036.999 đồng,
trong đó nợ gốc là 6.215.367.273 đồng và tiền lãi là 441.669.726 đồng.
Kể từ ngày người yêu cầu có đơn yêu cầu thi hành án nếu người bị yêu
cầu chậm trả số tiền thì hàng tháng còn phải trả cho người yêu cầu số tiền lãi
chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán,
lãi suất được áp dụng theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được nhận lại 57.555.025 đồng
tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003272 ngày 11/10/2024 của Chi cục
thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang (nay là Thi hành án dân
sự thành phố Cần Thơ). bị đơn phải nộp 114.657.037 đồng.
Bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các bên theo luật định.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 05/9/2025, bị đơn cho rằng, bản án sơ thẩm
chưa xem xét toàn bộ nội dung vụ việc, gây thiệt hại cho bị đơn nên kháng cáo
đề nghị Toà án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên kháng cáo. Các bên không
thoả thuận được việc giải quyết tranh chấp.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại
phiên tòa: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, sau khi phân tích các
tình tiết của vụ án, các quy định pháp luật liên quan, đại diện Viện kiểm sát cho
rằng bản án sơ thẩm đã xem xét toàn diện vụ án, áp dụng đúng các quy định
của pháp luật. Bị đơn kháng cáo có cung cấp các tài liệu để cho rằng nguyên
đơn đã sử dụng thép không đúng thoả thuận. Qua xem xét các tài liệu này cho
thấy, các pháp nhân mà bị đơn đề cập theo tài liệu không liên quan gì đến Công
4
ty M nên không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ
luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ đã thẩm tra cho thấy, các bên
tranh chấp hợp đồng thi công. Toà án nhân dân khu vực 14 đã thụ lý là đúng
thẩm quyền và xác định đúng quan hệ tranh chấp theo quy định tại khoản 1
Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015.
[2] Theo đơn kháng cáo, bị đơn cho rằng Toà án cấp sơ thẩm không tống
đạt hợp lệ cho bị đơn, không xem xét đầy đủ chứng cứ về việc nguyên đơn
đúng chất lượng thép đã cam kết nên đề nghị Toà án cấp phúc thẩm bác yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét vụ
án trong phạm vi kháng cáo đối với các vấn đề trên theo quy định tại các Điều
271, 273 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Hồ sơ thể hiện, tại các bút lục 140 và 142, Toà án cấp sơ thẩm đã
tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cho ông Phan Văn Dũng là người đại diện theo
uỷ quyền của bị đơn. Tại các bút lục 325, ông Dũng cũng đã ký nhận Thông
báo hoà giải và cũng đã tham gia hoà giải (Bút lục 330). Tại Bút lục 333 đến
336, do không tống đạt được cho bị đơn nên Toà án đã tiến hành thủ tục niêm
yết theo quy định. Tai Bút lục 345, Toà án sơ thẩm đã tống đạt Quyết định
hoãn phiên toà, giấy triệu tập cho bị đơn. Tại Bút lục 379, bị đơn đã nhận được
Bản án và Thông báo kháng cáo. Từ những tài liệu đó cho thấy, bị đơn cho
rằng Toà án cấp sơ thẩm không tống đạt cho bị đơn là không đúng.
[4] Xét về việc thực hiện hợp đồng và nghĩa vụ thanh toán, các chứng cứ
đã được thu thập, thẩm tra tại phiên tòa thể hiện nguyên đơn đã thực hiện việc
thi công theo đúng nội dung các hợp đồng đã ký, có biên bản nghiệm thu, biên
bản đối chiếu công nợ và các tài liệu liên quan chứng minh giá trị khối lượng
công việc đã thực hiện. Bị đơn đã thanh toán một phần nhưng còn nợ lại một
phần chưa thanh toán và khoản tiền giữ lại bảo hành theo thỏa thuận trong hợp
đồng. Bị đơn không xuất trình được chứng cứ chứng minh đã hoàn thành nghĩa
vụ thanh toán đối với các khoản tiền này. Vì vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn tiếp tục thực hiện nghĩa
vụ thanh toán là có căn cứ theo quy định của pháp luật.
[5] Bị đơn kháng cáo cho rằng nguyên đơn vi phạm chất lượng vật tư.
Tuy nhiên trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, bị
đơn không xuất trình được các tài liệu có giá trị pháp lý để chứng minh cho nội
dung này, chẳng hạn như biên bản ghi nhận chất lượng vật tư, văn bản yêu cầu
khắc phục, kết quả giám định hoặc tài liệu kiểm định chất lượng theo quy định.
Trong khi đó, hồ sơ vụ án thể hiện các hạng mục công trình đã được nghiệm
thu, có biên bản thí nghiệm và có sự chứng kiến trong quá trình thi công. Trong
các biên bản đó, bị đơn cũng không ghi chú hay khiếu nại về chất lượng. Theo
quy định tại các Điều 91, 92 và 93 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đương sự
có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu, phản đối của mình, nhưng bị đơn đã
5
không thực hiện được nghĩa vụ này, nên không có căn cứ xác định nguyên đơn
vi phạm chất lượng vật tư như bị đơn trình bày. Vì vậy, kháng cáo đối với nội
dung này không có căn cứ chấp nhận.
[6] Mặt khác, theo quy định tại Điều 318 Luật Thương mại năm 2005,
thời hiệu khiếu nại về chất lượng hàng hoá tối đa là 06 tháng. Quá trình thực
hiện hợp đồng như trên thể hiện, bị đơn không thực hiện việc khiếu nại nên mất
quyền khiếu nại phản đối về chất lượng hàng hoá. Nay, tại phiên toà phúc
thẩm, bị đơn đề nghị hoãn phiên toà để triệu tập người liên quan nhằm làm rõ
chất lượng thép là không cần thiết.
[7] Xét về yêu cầu tính lãi chậm thanh toán, việc bị đơn chậm thực hiện
nghĩa vụ trả tiền là hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong quan hệ thương
mại. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 để xác
định lãi chậm trả là đúng pháp luật. Việc tuyên lãi chậm thi hành án theo Điều
357 Bộ luật Dân sự năm 2015, nguyên đơn không kháng cáo nên không xem
xét. Tuy nhiên, thấy rằng, tới thời điểm xét xử, nghĩa vụ trả nợ đã được xác
định, việc tiếp tục áp dụng mức lãi theo tinh thần Điều 306 trong giai đoạn thi
hành án sẽ mất nhiều thời gian xác định. Do vậy, cần tuyên rõ mức lãi theo quy
định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự áp dụng trong trường hợp không có
thoả thuận về lãi suất.
[8] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ căn cứ
xác định toàn bộ kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ chấp nhận. Do đó,
căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bác toàn bộ kháng
cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận
nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân
sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc Công ty N trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
xây dựng thương mại dịch vụ Miền Tây số tiền 6.657.036.999 đồng (Sáu tỷ sáu
trăm năm mươi bảy triệu, không trăm ba mươi sáu ngàn, chín trăm chín mươi
chín đồng). Trong đó: nợ gốc là 6.215.367.273 đồng và tiền lãi là 441.669.726
đồng.
Kể từ ngày người yêu cầu có đơn yêu cầu thi hành án nếu người bị yêu
cầu chậm trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả cho người yêu cầu số
tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả, lãi suất được áp dụng theo
quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
6
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn được nhận lại 57.555.025 đồng tiền tạm ứng án phí theo
biên lai thu số 0003272 ngày 11/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện
Châu Thành, tỉnh Hậu Giang (nay là Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ).
Bị đơn phải nộp 114.657.037 đồng.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn phải chịu 2.000.000 đồng, chuyển
tiền tạm ứng phí theo Biên lai thu số 0003036 ngày 11/9/2025 của Thi hành án
dân sự thành phố Cần Thơ thành án phí, coi như bị đơn đã nộp xong.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9
Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND.TPCT;
- TAND khu vực 14;
- Phòng THADS khu vực 14;
- THADS thành phố Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Chế Linh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng