Bản án số 12/2024/DS-PT ngày 01/07/2024 của TAND tỉnh Lào Cai về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 12/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 12/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 12/2024/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 12/2024/DS-PT ngày 01/07/2024 của TAND tỉnh Lào Cai về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Lào Cai |
| Số hiệu: | 12/2024/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 01/07/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ông L, bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/6/1995 giữa bên chuyển nhượng bà Đ với bên nhận chuyển nhượng bà L. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 12/2024/DS - PT
Ngày 01 - 7 - 2024
V/v “Tranh chấp HĐ chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, công nhận quyền
sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Chí Thiện
Các Thẩm phán: Ông Đặng Phi Long
Ông Trương Quyết Thắng
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thu Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 04/6/2024 và ngày 01/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2024/TLPT-DS
ngày 31/01/2024 “Về Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
công nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản”. Do bản án dân sự sơ
thẩm số 26/2023/DS-ST ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã S, tỉnh Lào
Cai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 250/2024/QĐ-PT ngày 26/3/024,
Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 409/2024/QĐ-PT ngày 06/5/2024,
Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 565/2024/QĐ-PT ngày 04/6/2024 giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Ngọc L và bà Phạm Thị L.
Địa chỉ: Tổ 06, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai.
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn: Anh Trần Mạnh H - Địa
chỉ: Số nhà 007, đường T, tổ 22, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Có đơn
đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Bà Phạm Thị Đ.
Địa chỉ: Tổ 05, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai.
2
Người đại diện theo ủy quyền của Bị đơn: Bà Nguyễn Thị D - Địa chỉ: Số
356, đường H, tổ 14, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Có đơn đề nghị xét
xử vắng mặt.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị N - Địa chỉ: Số 02, ngõ 09, đường S, tổ 04, phường S, thị
xã S, tỉnh Lào Cai.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị N: Anh Nguyễn Quang Đ
- Địa chỉ: Số 26, ngõ 126, đường M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Có
mặt tại phiên tòa.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà Phạm Thị N: Anh Vũ Quang
B và chị Nguyễn Thị T - Cùng địa chỉ: Số 26, ngõ 126, đường M, phường M,
quận N, thành phố Hà Nội. (Anh B vắng mặt tại các phiên tòa; Chị T có mặt tại
phiên tòa ngày 04/6/2024, vắng mặt tại phiên tòa ngày 01/7/2024).
- Ông Nguyễn Quốc T - Địa chỉ: Số 02, ngõ 09, đường S, tổ 04, phường S,
thị xã S, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Quốc T: Anh Hạng Quang
V - Địa chỉ: Số 04, ngõ 09, đường S, tổ 04, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Có
mặt tại phiên tòa ngày 04/6/2024, vắng mặt ngày 01/7/2024.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Quốc T: Chị
Nguyễn Thị T - Địa chỉ: Số 26, ngõ 126, đường M, phường M, quận N, thành
phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa ngày 04/6/2024, vắng mặt ngày 01/7/2024.
- Bà Vũ Thị Hồng T - Địa chỉ: Số 02, ngõ 09, đường S, tổ 04, phường S,
thị xã S, tỉnh Lào Cai.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Vũ Thị Hồng T: Ông Nguyễn Quốc
T - Địa chỉ: Số 02, ngõ 09, đường S, tổ 04, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Có
mặt tại phiên tòa.
- Anh Hạng Xuân C - Địa chỉ: Tổ 20, phường B, thành phố L, tỉnh Lào
Cai. Có mặt tại phiên tòa.
- Anh Hạng Anh C - Địa chỉ: Tổ 02, phường P, thị xã S, tỉnh Lào Cai.
Vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Hạng A T - Địa chỉ: Số 04, ngõ 09, đường S, tổ 04, phường S, thị
xã S, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Hạng Quang V - Địa chỉ: Số 04, ngõ 09, đường S, tổ 04, phường S,
thị xã S, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa ngày 04/6/2024, vắng mặt ngày
01/7/2024.
- Chị Hạng Thị P - Địa chỉ: Số 04, ngõ 09, đường S, tổ 04, phường S, thị
xã S, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Hạng Thị P, anh Hạng A T, anh
Hạng Anh C: Anh Hạng Quang V - Địa chỉ: Số 04, ngõ 09, đường S, tổ 04,
phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa ngày 04/6/2024, vắng mặt
ngày 01/7/2024.
3
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Trần Ngọc L, bà Phạm Thị L và
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc T và bà Phạm Thị N.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn ông Trần Ngọc L, bà Phạm Thị L, Người đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn anh Trần Mạnh H trình bày:
Ngày 22/6/1995, bà Phạm Thị Đ chuyển nhượng cho bà Phạm Thị L diện
tích đất là 2ha, tại: Xóm 02, thị trấn S, huyện S (Nay là tổ 02, phường P, thị xã
S), tỉnh Lào Cai với số tiền là 20.000.000 đồng, (Hai mươi triệu đồng chẵn) có
lập văn bản giấy viết tay, hai bên đã giao nhận tiền và giao đất. Về nguồn gốc
đất theo bà L được biết diện tích đất chuyển nhượng do bà Đ khai phá sử dụng,
đến năm 2014 được Nhà nước điều chỉnh giao đất cho bà Đ quản lý, sử dụng ổn
định không tranh chấp. Tại Quyết định số 1977/QĐ-UBND ngày 28/12/2018
của Ủy ban nhân dân (Viết tắt: UBND) huyện S về việc thu hồi đất, chuyển mục
đích sử dụng đất thực hiện dự án đền bù, giải phóng mặt bằng thực hiện dự án
khu trung tâm hành chính mới huyện S và Quyết định số 1974/QĐ-UBND ngày
28/12/2018 của UBND huyện S phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư để thực hiện công trình đã thu hồi và phê duyệt bồi thường cho vợ
chồng ông L và bà L đối với diện tích đất 18.935,1m
2
mà bà L nhận chuyển
nhượng của bà Đ.
Ông L, bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 22/6/1995, đối với diện tích đất vườn tạp là 18.935,1m
2
,
giữa bên chuyển nhượng bà Đ với bên nhận chuyển nhượng bà L.
Ngày 30/8/2023, ông L, bà L thay đổi yêu cầu khởi kiện, đề nghị công
nhận ông L, bà L được quyền sở hữu hưởng số tiền bồi thường, hỗ trợ số tiền
13.731.442.673 đồng được Nhà nước chi trả bồi thường hỗ trợ tái định cư, theo
Quyết định số 1974/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của UBND huyện S.
Ngày 05/9/2023, ông L, bà L thay đổi yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án
công nhận ông L và bà L là người sử dụng diện tích đất là 18.935,1m
2
-Địa chỉ
thửa đất: Xóm 02, thị trấn S, huyện S (nay là tổ 02, phường P, thị xã S), tỉnh Lào
Cai đến thời gian Nhà nước thu hồi đất ngày 28/12/2018.
Bị đơn bà Phạm Thị Đ, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà
Nguyễn Thị D trình bày:
Ngày 22/6/1995, bà Đ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà L quyền
sử dụng diện tích đất là 2ha - Địa chỉ: Xóm 02, thị trấn S, huyện S (Nay là tổ 02,
phường P, thị xã S), tỉnh Lào Cai, với số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi
triệu đồng), hai bên có lập giấy chuyển nhượng viết tay, đã giao nhận tiền, giao
đất, thực hiện xong hợp đồng không tranh chấp. Nguồn gốc diện tích đất chuyển
nhượng là do bà Đ khai phá, được Nhà nước giao tại Quyết định giao đất vườn
rừng số 17 ngày 25/8/1991 của UBND huyện S cấp diện tích đất 25ha - Địa chỉ:
Xóm 2, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lào Cai cho bà Đ. Đến năm 2014, được UBND
4
tỉnh Lào Cai điều chỉnh giảm ra khỏi diện tích đất của 661 tại Quyết định số
1516-UBND ngày 04/6/2014 và giao cho bà Đ quản lý, sử dụng.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông L, bà L, bà Đ nhất trí, đề nghị Tòa án
công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/6/1995, giữa
bên chuyển nhượng là bà Đ với bên nhận chuyển nhượng bà L, đối với diện tích
đất 18.935,1m
2
- Địa chỉ: Xóm 2, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lào Cai.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Phạm Thị
N, Người đại diện theo ủy quyền và Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của
bà N trình bày:
Năm 1987, vợ chồng ông Hạng A C và bà Phạm Thị N khai hoang diện
tích đất 02 quả đồi, trong đó có diện tích đất 17.686,1m
2
- Địa chỉ: Tổ 09C, thị
trấn S, huyện S (Nay tổ 02, phường P, thị xã S), tỉnh Lào Cai đang có tranh
chấp. Toàn bộ diện tích đất khai hoang gia đình quản lý sử dụng đến khi bị thu
hồi, năm 2004, bà N cho ông Nguyễn Quốc T mượn diện tích đất 10.641m
2
canh
tác trồng cây nông nghiệp, phần còn lại bà trồng cây và chăn thả gia súc. Ngày
28/12/2018, UBND huyện S ban hành Quyết định số 1977/QĐ-UBND về việc
thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đền bù, giải phóng
mặt bằng thực hiện dự án khu trung tâm hành chính mới huyện S và Quyết định
số 1974/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực
hiện công trình đã xác định chủ sử dụng đất bị thu hồi và được bồi thường là
ông L và bà L. Quyết định của UBND huyện S được ban hành căn cứ vào Quyết
định số công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 02/2018/QĐST-DS ngày
06/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện S (nay là Thị xã S) đối với hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giữa bên chuyển nhượng bà Phạm Thị Đ với
bên nhận chuyển nhượng bà Phạm Thị L. Diện tích đất chuyển nhượng là
18.935,1m
2
tại: Tổ 9c, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lào Cai, tuy nhiên thực tế bà Đ,
bà L, ông L chưa quản lý, sử dụng đối với diện tích đất này theo bà N trong
diện tích đất này có diện tích đất 17.686,1m
2
do gia đình bà khai phá.
Vì vậy, bà N có yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Công nhận diện tích đất là 17.686,1m
2
tại: Tổ 9c, thị trấn S, huyện S
(Nay tổ 02, phường P, thị xã S), tỉnh Lào Cai nằm trong diện tích đất
18.935,1m
2
mà ông L, bà L nhận chuyển nhượng với bà Đ thuộc quyền sử dụng
hợp pháp của bà N và ông C.
- Tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/6/1995,
giữa bên chuyển nhượng bà Đ với bên nhận chuyển nhượng bà L đối với diện
tích đất 2ha, tại: Tổ 09c, thị trấn S, huyện S (Nay là tổ 02, phường P, thị xã S),
tỉnh Lào Cai.
Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án bà N yêu cầu hủy Quyết định cấp
vườn rừng số 17 ngày 25/8/1991 của UBND huyện S cấp diện tích đất là 25ha,
tại: Xóm 2, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lào Cai cấp cho bà Đ và Quyết định số:
190/QĐ-UBND ngày 29/11/1995 của UBND huyện S về việc cấp 15 ha đất lâm
nghiệp cho bà Đ, tại: Xóm 2, thị trấn S, huyện S (Nay là tổ 02, phường P, thị xã
S), tỉnh Lào Cai tại phiên tòa sơ thẩm bà N đã rút yêu cầu này.
5
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà N bổ sung yêu cầu độc lập, đề nghị Tòa án giải
quyết (bổ sung) những vấn đề sau:
Tuyên hủy Quyết định số 1516-UBND ngày 04/6/2014 của UBND tỉnh
Lào Cai về việc điều chỉnh giảm 47.975m
2
đất lâm nghiệp đã cấp GCNQSDĐ
cho Ban quản lý rừng phòng hộ và giao diện tích đất là 21.728m
2
, tại: Xóm 02,
thị trấn S, huyện S, tỉnh Lào Cai cho bà Đ quản lý, sử dụng. Chuyển hồ sơ vụ án
lên Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai giải quyết và đưa UBND tỉnh Lào Cai, Phòng
tài nguyên và môi trường thị xã S vào tham gia tố tụng với tư cách là người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Nguyễn
Quốc T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị Hồng T trình bày:
Năm 1987, bà N và ông C khai hoang đất tại: Tổ 09c, thị trấn S, huyện S
(Nay là tổ 02, phường P, thị xã S), tỉnh Lào Cai và sử dụng từ đó đến khi bị thu
hồi, trong đó có diện tích đất 17.686,1m
2
hiện bà Đ đã chuyển nhượng cho ông
L, bà L. Năm 2004, bà N cho vợ chồng ông T và bà T mượn diện tích đất là
10.641m
2
, bà N vẫn tiếp tục canh tác sử dụng phần diện tích đất còn lại. Đối với
phần diện tích ông T mượn sử dụng để trồng cây hoa hồng, các loại cây khác và
có dựng căn nhà trên đất để trông nom, chăm sóc cây, hoa màu. Năm 2019, khi
nhà nước thu hồi đất cho máy móc san gạt thì đồi hoa vẫn còn hiện hữu, thân
cao gốc to. Tuy nhiên tháng 3/2021, UBND thị xã S tiếp tục đưa máy san gạt
làm mất toàn bộ gốc cây hoa, hiện nay chỉ còn 01 ngôi nhà làm từ năm 2004.
Năm 2018, Tòa án nhân dân huyện S công nhận hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa bà Đ với bà L, trong đó có diện tích đất là 17.686,1m
2
thuộc quyền sử dụng của gia đình bà N. Như vậy, UBND huyện S thu hồi đất và
bồi thường, hỗ trợ cho ông L, bà L là không đúng vì toàn bộ tài sản và cây hoa
hồng trên đất diện tích đất là 10.641m
2
là do ông T trồng, vì vậy, ông T có yêu
cầu độc lập đề nghị Tòa án giải quyết vấn đề sau:
Công nhận tài sản trên đất mà UBND huyện S đã bồi thường cho bà L
thuộc quyền sở hữu của ông T và bà T, gồm 01 ngôi nhà 03 gian bằng gỗ, mái
lợp Proximang, diện tích đất là 49m
2
, trị giá là 40.000.000 đồng, cây hoa hồng
trồng trên diện tích đất là 5.215,2m
2
, trị giá là 2.086.080.000 đồng, tổng cộng số
tiền là 2.126.080.000 đồng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hạng Xuân C, anh Hạng
Anh C, anh Hạng A T, anh Hạng Quang V, chị Hạng Thị P và người đại diện
theo ủy quyền trình bày:
Ông C và bà N kết hôn và có 05 người con là anh Hạng Xuân C, anh
Hạng Anh C, anh Hạng A T, anh Hạng Quang V, chị Hạng Thị P. Năm 1987, vợ
chồng ông C, bà N khai hoang diện tích đất (02 quả đồi) tại: Tổ 02, phường P,
thị xã S, tỉnh Lào Cai. Gia đình đã sử dụng đất từ đó đến khi bị thu hồi, trong đó
có diện tích đất 17.686,1m
2
hiện đang tranh chấp. Năm 2004, bà N cho ông T
mượn diện tích đất 10.641m
2
sử dụng canh tác trồng cây nông nghiệp, phần còn
lại gia đình trồng cây và chăn thả gia súc. Năm 2018, Nhà nước thu hồi một
phần diện tích đất là 18.935,1m
2
, trong đó có 17.686,1m
2
thuộc quyền sử dụng

6
của ông C và bà N nhưng lại bồi thường cho bà L là không đúng. Những người
kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông C nhất trí quan điểm của bà N, đề
nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DS-ST ngày 25/12/2023 của Tòa án
nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 3, khoản 2 Điều 105, Điều 203 Luật đất đai; khoản 3
Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 217,
Điều 218, Điều 219, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 244, khoản 1 Điều
147, khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 502 và Điều 613 Bộ luật
dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà L và ông L về việc công nhận hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/6/1995, giữa bên chuyển
nhượng bà Đ với bên nhận chuyển nhượng bà L, đối với diện tích đất 2ha tại tổ
02, phường P, thị xã S, tỉnh Lào Cai.
- Đình chỉ yêu cầu của bà N về việc đề nghị công nhận đối với diện tích
đất là 17,686,1m
2
tại xóm 02, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lào Cai nằm trong diện
tích đất 18.935,1m
2
, hiện đang tranh chấp giữa bà L và ông L với bà Đ thuộc
quyền sử dụng của bà N và ông C.
- Đình chỉ yêu cầu của bà N về việc rút yêu cầu hủy quyết định cấp đất
vườn rừng số 17 ngày 25/8/1991 của UBND huyện S cấp diện tích đất lâm
nghiệp 2,5ha tại xóm 2, thị trấn S, huyện S (Nay là tổ 02, phường P, thị xã S),
tỉnh Lào Cai cho bà Đ và Quyết định số: 190/QĐ-UBND ngày 29/11/1995 của
UBND huyện S, về việc cấp 15 ha đất lâm nghiệp cho bà Đ tại xóm 2, thị trấn S,
huyện S (Nay là tổ 02, phường P, thị xã S), tỉnh Lào Cai.
- Không chấp nhận yêu cầu của bà N về việc hủy hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/6/1995, giữa bên chuyển nhượng bà Đ với
bên nhận chuyển nhượng bà L, đối với diện tích đất 2ha tại tổ 02, phường P, thị
xã S, tỉnh Lào Cai.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông T về việc công nhận 01 ngôi nhà ba
gian bằng gỗ, mái lợp Proximang, diện tích đất là 49m
2
, trị giá là 40.000.000
đồng và cây hoa Hồng trồng trên diện tích đất là 5.215,2m
2
, trị giá là
2.086.080.000 đồng huộc quyền sở hữu của ông T và bà T.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng
cáo cho các đương sự.
Ngày 17/01/2024, ông L, bà L kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm
số 23/2023/DS-ST ngày 25/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai,
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa bản án sơ thẩm theo hướng công
nhận ông L và bà L là người sử dụng diện tích đất 18.935,1m
2
, tại: Xóm 2, thị
trấn S, huyện S (nay là tổ 02, phường P, thị xã S) từ ngày 22/6/1995 đến thời
gian nhà nước thu hồi đất ngày 28/12/2018.
Ngày 08/01/2024, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông T và bà N

7
kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DS-ST ngày 25/12/2023
của Tòa án nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy
bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ
án theo thủ tục sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là
ông Trần Mạnh H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu khởi
kiện và đơn kháng cáo; Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Nguyễn
Thị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, giữ nguyên ý kiến đã trình bày; Người
đại diện theo ủy quyền của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị
N là anh Nguyễn Quang Đ và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Quốc T đều giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai phát biểu ý kiến:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước
thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Hội đồng xét xử, thư ký tòa án đã thực
hiện đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng
đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều
148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 9 Điều 3, Điều 4,
khoản 2 Điều 105, Điều 203 Luật Đất đai; Điều 197, Điều 500, Điều 502, Điều 613
Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 3, khoản 3 Điều 73 Luật Đất đai 1993. Đề nghị
Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai không chấp nhận
kháng cáo của nguyên đơn ông L bà L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
bà N và ông T; Sửa bản án sơ thẩm số 23/2023/DS-ST ngày 25/12/2023 của
TAND thị xã S theo hướng:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông L, bà L về việc
công nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất tranh chấp.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan bà Phạm Thị N về việc công nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất
tranh chấp; Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của bà N về việc hủy Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/6/1995 giữa bà Phạm Thị Đ và bà
Phạm Thị L.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan ông Nguyễn Quốc T về việc công nhận quyền sở hữu tài sản trên đất.
- Sửa một phần án phí dân sự sơ thẩm mà ông Nguyễn Quốc T phải chịu,
cụ thể ông T chỉ phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị
cần giữ nguyên.
Tuyên án phí theo quy định của pháp luật.
8
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra
tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét,
đánh giá đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của Nguyên đơn ông Trần Ngọc L, bà
Phạm Thị L và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc T và
bà Phạm Thị N có đầy đủ nội dung, nộp đúng thời hạn theo quy định của pháp
luật, là căn cứ để Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
[2] Về quan hệ pháp luật của vụ án:
Trong vụ án, Nguyên đơn ông L, bà L yêu cầu khởi kiện về việc công
nhận quyền sử dụng đất của ông bà đã nhận chuyển nhượng theo Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/6/1995, giữa bên chuyển nhượng bà
Đ với bên nhận chuyển nhượng bà L, đối với diện tích đất 2ha, tại: Tổ 02,
phường P, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Ngày 05/9/2023, ông L, bà L thay đổi yêu cầu
khởi kiện, đề nghị Tòa án công nhận ông L, bà L là ngưởi sử dụng diện tích
tranh chấp đến thời gian nhà nước thu hồi đất 28/12/2018. Tại phiên tòa sơ
thẩm, ông L, bà L đề nghị công nhận ông bà có quyền sử dụng hợp pháp đối với
diện tích đất thu hồi từ khi nhận chuyển nhượng đến khi nhà nước thu hồi. Xét
thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được đưa ra tại phiên tòa
sơ thẩm nhưng việc thay đổi này không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu vì
theo Đơn khởi kiện ông L, bà L yêu cầu Tòa án công nhận Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/6/1995 giữa bên chuyển nhượng bà Đ với
bên nhận chuyển nhượng bà L. Việc công nhận hiệu lực của Hợp đồng sẽ xác
định chủ sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất tranh chấp. Do đó, Tòa án
sơ thẩm nhận định việc thay đổi yêu cầu khởi kiện này là vượt quá phạm vi yêu
cầu khởi kiện ban đầu nên không xem xét giải quyết là không đúng.
Quá trình giải quyết vụ án, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà N có
yêu cầu độc lập về việc: Tuyên hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất ngày 22/6/1995; Công nhận bà N, ông C (đã chết) có quyền sử dụng hợp
pháp đối với diện tích 17,686,1m
2
tại xóm 02, thị trấn S, huyện S (là một phần
nằm trong diện tích đang tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn) và đề nghị hủy
Quyết định số 1516-UBND ngày 04/6/2014 của UBND tỉnh Lào Cai về việc
điều chỉnh giảm 47.975m
2
đất lâm nghiệp đã cấp GCNQSDĐ cho Ban quản lý
rừng phòng hộ và giao diện tích đất là 21.728m
2
tại: Xóm 02, thị trấn S, huyện
S, tỉnh Lào Cai cho bà Đ quản lý, sử dụng. Chuyển hồ sơ vụ án lên Tòa án nhân
dân tỉnh Lào Cai giải quyết và đưa UBND tỉnh Lào Cai, Phòng TN&MT thị xã S
vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông T có yêu cầu độc lập về việc:
Công nhận tài sản trên đất mà UBND huyện S đã bồi thường cho bà L thuộc
quyền sở hữu của ông T và bà T, gồm 01 ngôi nhà ba gian bằng gỗ, mái lợp
Proximang, diện tích đất là 49m
2
, trị giá là 40.000.000 đồng, cây hoa hồng trồng
trên diện tích đất là 5.215,2m
2
, trị giá là 2.086.080.000 đồng, tổng cộng số tiền
là 2.126.080.000 đồng.
9
Xét thấy, đối với yêu cầu của bà N về việc hủy Quyết định số 1516-
UBND ngày 04/6/2014 của UBND tỉnh Lào Cai được đưa ra tại phiên tòa sơ
thẩm, sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng và hòa
giải nhưng vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu nên Tòa án sơ thẩm không xem
xét, giải quyết là có căn cứ nên không xác định quan hệ pháp luật trong vụ án.
Như vậy, căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Tòa án sơ thẩm xác định mối quan hệ
pháp luật của vụ án là “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất và công nhận quyền sở hữu tài sản” là phù hợp. Tuy nhiên, quá trình giải
quyết vụ án nguyên đơn ông L, bà L thay đổi yêu cầu khởi kiện và người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà N có yêu cầu về việc đề nghị Tòa án công nhận
quyền sử dụng đất. Theo quy định tại Điều 197 Bộ luật Dân sự và Điều 4 Luật
Đất đai thì đất đai là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở
hữu, thống nhất quản lý và trao quyền sử dụng đất cho ngưởi sử dụng đất theo
quy định của Luật này. Tòa án sơ thẩm không xác định mối quan hệ pháp luật
đối với yêu cầu thay đổi của nguyên đơn và yêu cầu của bà N về việc công nhận
quyền sử dụng đất là thiếu, cần xác định lại mối quan hệ pháp luật của vụ án là
“Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận
quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản”.
[3] Về những người tham gia tố tụng trong vụ án:
Trong vụ án, bà N có đơn đề nghị tham gia tố tụng với tư cách là người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập về việc công nhận quyền sử
dụng đất của vợ chồng bà đối với một phần diện tích đất đang tranh chấp giữa
ông L, bà L với bà Đ. Do đó xác định ông Hạng A C là chồng của bà N có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng ông Hạng A C đã chết. Tại khoản 1 Điều 74
Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Trường hợp đương sự là cá nhân đang tham
gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế thì người
thừa kế tham gia tố tụng”. Theo các tài liệu trong vụ án thể hiện ông Hạng A C
chết trước khi tham gia tố tụng trong vụ án nên Tòa án sơ thẩm xác định ông
Hạng A C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án và đưa những
người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông C vào tham gia tố tụng là không đúng.
Cần xác định những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông C là người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[4] Xét nội dung kháng cáo của các đương sự:
[4.1] Về Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/6/1995
giữa bên chuyển nhượng bà Đ với bên nhận chuyển nhượng bà L:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/6/1995 được giao kết
giữa bên chuyển nhượng bà Đ với bên nhận chuyển nhượng bà L, tại thời điểm
giao kết các bên đều có đủ năng lực hành vi dân sự, việc giao kết hợp đồng là tự
nguyện, không bị ép buộc. Quá trình giải quyết vụ án bà L và bà Đ đều xác nhận
việc giao kết hợp đồng được lập thành văn bản nhưng không làm thủ tục công
chứng, chứng thực và đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
10
Về nội dung: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
22/6/1995 giữa bà Đ với bà L tiêu đề là “Giấy bán đất vườn tạp” thỏa thuận về
việc bà Đ bán lại cho bà L và chồng là ông L diện tích đất 2ha tại Đội 2, thị trấn
S đã được UBND huyện S cấp sổ quản lý vườn rừng số 17/25 cấp năm 1991, giá
chuyển nhượng là 20.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến
hành xem xét thẩm định tại chỗ nhưng do hiện trạng đất tại vị trí tranh chấp hiện
nay đã thay đổi nên các đương sự đã thống nhất xác định diện tích đất tranh
chấp mà ông L, bà L cho rằng nhận chuyển nhượng của bà Đ theo Giấy bán đất
vườn tạp ngày 22/6/1995 theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày
21/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện S (nay là thị xã S), cụ thể diện tích đất
tranh chấp là 18.935,1m
2
, tại: Tổ 9c, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lào Cai (nay là tổ
2, phường P, thị xã S, tỉnh Lào Cai.
Theo các tài liệu, chứng cứ trong vụ án thấy rằng đối với diện tích
18.935,1m
2
, tại tổ 2, phường P, thị xã S nêu trên đã được UBND huyện S thu
hồi đất để thực hiện dự án: Khu trung tâm hành chính mới huyện S và phê duyệt
bồi thường, hỗ trợ cho ông L, bà L theo Quyết định số 1977/QĐ-UBND và
Quyết định số 1974/QĐ-UBND ngày 28/12/2018. Như vậy quyền sử dụng diện
tích đất đang tranh chấp giữa các đương sự đến nay đã bị Nhà nước thu hồi, đối
tượng khởi kiện không còn. Tòa án sơ thẩm nhận định do đối tượng khởi kiện
không còn nên đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về
việc công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
22/6/1995 là không đúng, không có căn cứ để đình chỉ theo quy định tại Điều
217 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hơn nữa, đối với vụ án này ông L, bà L đã khởi kiện theo Đơn khởi kiện
nộp đến Tòa án nhân dân huyện S (nay là thị xã S) ngày 20/11/2017, quá trình
giải quyết vụ án các đương sự thỏa thuận được với nhau nên Tòa án nhân dân
huyện S đã ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số
02/2018/QĐST-DS ngày 06/3/2018. Ngày 20/7/2021, Tòa án nhân dân cấp cao
tại Hà Nội đã ban hành Quyết định tái thẩm số 45/2021/DS-TT ngày 20/7/2021,
quyết định: “Hủy Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
02/2018/QĐST-DS ngày 06/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện S (nay là thị xã
S), tỉnh Lào Cai giữa nguyên đơn là ông L và bà L với bị đơn là bà Đ. Giao hồ
sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện S (nay là thị xã S), tỉnh Lào Cai giải quyết
lại theo thủ tục sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật”. Lý do: Có tình tiết
mới mà khi giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm không biết là nội dung nêu tại
Công văn số 456/UBND-TNMT ngày 26/02/2021 của UBND thị xã S, tỉnh Lào
Cai và các tài liệu, chứng cứ kèm theo tại Kết luận thanh tra số 2649/KL-UBND
ngày 16/10/2019, Kết luận thanh tra đột xuất số 1838/KL-UBND ngày
29/8/2017 của UBND huyện S. Cụ thể, theo văn bản của UBND thị xã S và các
Kết luận thanh tra cho rằng Sổ quản lý vườn rừng số 17/25 do UBND huyện S
cấp ngày 25/8/1991 cho bà Đ có dấu hiệu bị sửa chữa, có sự sai lệch về thời
điểm cấp, diện tích cấp và loại đất so với Quyết định số 190 ngày 29/11/1995
của UBND huyện S về việc cấp đất lâm nghiệp cho bà Đ. Vì vậy, giấy tờ mua
bán đất giữa bà L với bà Đ trên cơ sở Sổ quản lý vườn rừng này không có cơ sở,
11
xác định không bồi thường cho hộ bà L và gộp vào diện tích thu hồi của bà Đ để
bồi thường cho bà Đ.
Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án bà Phạm Thị N và ông Nguyễn Quốc
T cho rằng trong diện tích đất đang tranh chấp giữa ông L, bà L với bà Đ có một
phần diện tích đất 17.686,1m
2
thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng bà
N, ông Hạng A C và phần tài sản trên đất thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông
T, bà T. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông L, bà L thay đổi yêu cầu khởi
kiện đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất và
việc thay đổi này là phù hợp, không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện nên
cũng cần được xem xét.
Như vậy, thấy rằng mặc dù diện tích đất đang tranh chấp đã bị thu hồi
nhưng không phải là căn cứ để đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn mà để vụ án giải quyết một cách triệt để, khách quan vẫn cần xem
xét tính hợp pháp của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
22/6/1995 và các căn cứ khác để xác định chủ sử dụng hợp pháp của diện tích
đất tranh chấp, trên cơ sở đó cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định, xem xét
các quyết định hành chính liên quan đã ban hành.
[4.2] Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp và việc xác định chủ sử dụng
đối với diện tích đất tranh chấp:
Nguyên đơn ông L, bà L và bị đơn bà Đ đều cho rằng nguồn gốc diện tích
đất tranh chấp là đất do bà Đ khai phá, được Nhà nước giao tại Quyết định giao
đất vườn rừng số 17 ngày 25/8/1991 của UBND huyện S cấp diện tích đất 25ha -
Địa chỉ: Xóm 2, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lào Cai. Trong nội dung Giấy bán đất
vườn tạp ngày 22/6/1995 cũng ghi rõ diện tích đất bán cho bà L là đất của bà Đ
đã được cấp Sổ quản lý vườn rừng số 17/25 năm 1991.
Theo Công văn số 456/UBND-TNMT ngày 26/02/2021 và Công văn số
2650/UBND-TT ngày 16/10/2019 của UBND thị xã S kiến nghị Tòa án nhân
dân cấp cao tại Hà Nội xét lại Quyết định công nhân sự thỏa thuận của các
đương sự số 02/2018/QĐST-DS ngày 06/3/2018 của TAND huyện S (nay là thị
xã S) có nội dung: Theo Giấy bán đất vườn tạp ngày 22/6/1995 thì diện tích đất
bà Đ chuyển nhượng cho vợ chồng ông L, bà L nằm trong Sổ quản lý vườn rừng
số 17/25 do UBND huyện S cấp ngày 25/8/1991 có dấu hiệu bị sửa chữa phần
diện tích, các con dấu của UBND thị trấn S và UBND huyện S đóng trên Sổ
quản lý vườn rừng này đều thể hiện là tỉnh Lào Cai nhưng ngày 12/8/1991, tại
kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII mới ra Nghị quyết chia tách tỉnh Hoàng Liên
Sơn thành hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái, đến ngày 01/10/1991 tỉnh Lào Cai chính
thức được tái lập, do đó thời điểm cấp Sổ quản lý vườn rừng cho bà Đ thì vẫn
thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, chưa phải tỉnh Lào Cai như đã ghi tại Sổ quản lý
vườn rừng. Hơn nữa, sổ quản lý vườn rừng cấp cho bà Đ có sự sai lệch về thời
điểm cấp, diện tích cấp và loại đất so với Quyết định số 190 ngày 29/11/1995
của UBND huyện S, tỉnh Lào Cai về việc cấp đất lâm nghiệp cho bà Đ.
Xét thấy, UBND thị xã S cho rằng có sự sai lệch trong Sổ quản lý vườn
rừng số 17/25 do UBND huyện S cấp ngày 25/8/1991 nhưng không có căn cứ
12
chứng minh Sổ quản lý vườn rừng này bị cố tình tẩy xóa, sửa chữa hay được lập
vào thời điểm sau thời điểm ghi trong sổ. Bà Đ là người sử dụng đất được
UBND huyện S cấp đất làm vườn rừng theo Quyết định số 17 ngày 25/8/1991,
trường hợp các số liệu về diện tích ghi trong sổ bị tẩy xóa, sửa chữa nhưng con
dấu của UBND huyện S do cơ quan nhà nước quản lý nên cá nhân không thể sử
dụng để đóng dấu trong Sổ quản lý vườn rừng được. Đối với sự mâu thuẫn giữa
Sổ quản lý vườn rừng cấp cho bà Đ và Quyết định số 190 ngày 29/11/1995 của
UBND huyện S, tỉnh Lào Cai về việc cấp đất lâm nghiệp cho bà Đ thấy rằng
Quyết định số 190 được ban hành sau Sổ quản lý vườn rừng nên không có căn
cứ nhận định giữa 02 văn bản có sự sai lệch thì Sổ quản lý vườn rừng là văn bản
có sự sai lệch về diện tích, thời điểm cấp và loại đất. Ngoài ra, tại Kết luận thanh
tra đột xuất số 1838/KL-UBND ngày 29/8/2017 của UBND huyện S có nội
dung: Không bồi thường cho hộ bà L mà gộp vào diện tích thu hồi của bà Đ để
bồi thường cho bà Đ vì Giấy bán đất của bà Đ và bà L không có cơ sở để xem
xét thu hồi, bồi thường. Căn cứ nội dung của Kết luận thấy rằng UBND thị xã S
mặc dù cho rằng giấy tờ mua bán đất giữa bà Đ với bà L là không có cơ sở
nhưng vẫn xác định diện tích đất thu hồi là đất của bà Đ. Đến ngày 24/9/2020,
UBND thị xã S đã ban hành Thông báo số 312/TB-UBND về việc không công
nhận Quyết định cấp đất làm vườn rừng số 17 ngày 25/8/1991 của UBND huyện
S, lý do: Không có hồ sơ cấp đất, có dấu hiệu làm giả và thời điểm cấp đất ngày
25/8/1991 khi chưa thành lập tỉnh Lào Cai nên sổ này không đúng. Ngày
25/9/2020, UBND thị xã S ban hành Quyết định số 1552/QĐ-UBND về việc
hủy bỏ Quyết định số 190/QĐ-UBND ngày 29/11/1995 của UBND huyện S. Do
đó, đến nay Sổ quản lý vườn rừng số 17/25 ngày 25/8/1991 là căn cứ để bà Đ
bán đất cho bà L không được UBND thị xã S công nhận. Tuy nhiên, thời điểm
bà Đ và bà L xác lập giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì Sổ quản lý
vườn rừng vẫn đang có giá trị pháp lý nên bà Đ vẫn có quyền, nghĩa vụ của
người sử dụng đất theo quy định của pháp luật, trong đó có quyền chuyển
nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 3, khoản 3 Điều 73
Luật Đất đai 1993.
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà L có cung cấp chứng cứ là:
Biên bản xác định hiện trạng sử dụng đất ngày 01/5/2013 của UBND thị trấn S
xác nhận diện tích đất là 21.728m
2
- Địa chỉ: Xóm 02, thị trấn S, huyện S (Nay
là tổ 02, phường P, thị xã S), tỉnh Lào Cai, chủ hộ bà Đ quản lý sử dụng; Phiếu
lấy ý kiến của khu dân cư ngày 10/4/2018 xác nhận nguồn gốc đất do bà Đ khai
phá chuyển nhượng cho bà L; Văn bản số: 545/TNMT-QLĐ ngày 09/11/2022
của Phòng TN&MT thị xã S, xác định diện tích đất là 18.935,1m
2
- Địa chỉ tổ
02, phường P, thị xã S, tỉnh Lào Cai nằm trong Quyết định số 02/2018/QĐST-
DS ngày 06/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện S nằm trong tổng diện tích đất
21.728m
2
do bà Đ quản lý sử dụng. Phần diện tích đất này chồng lấn vào đất của
Ban quản lý rừng phòng hộ Sa Pa nên tại Quyết định số 1516-UBND ngày
04/6/2014 của UBND tỉnh Lào Cai điều chỉnh giảm ra khỏi diện tích đất của 661
và giao diện tích đất là 21.728m
2
- Địa chỉ xóm 02, thị trấn S, huyện S (Nay là tổ
02, phường Pan Si Păng, thị xã S), tỉnh Lào Cai cho bà Đ quản lý, sử dụng.

13
Tại cấp phúc thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai có văn bản yêu cầu
UBND thị xã S cung cấp thông tin liên quan đến diện tích đất tranh chấp. Theo
Văn bản số 1091/UBND-TNMT ngày 10/4/2024 của UBND thị xã S cũng xác
định diện tích đất tranh chấp nằm trong diện tích đất theo Quyết định số 1516-
UBND ngày 04/6/2014 của UBND tỉnh Lào Cai về việc điều chỉnh giảm diện
tích đất đã cấp cho Ban quản lý rừng phòng hộ Sa Pa. Xét các chứng cứ do bà L
cung cấp là có căn cứ, mặc dù UBND thị xã S đã hủy bỏ Quyết định số 190/QĐ-
UBND ngày 29/11/1995 của UBND huyện S về việc cấp 15ha đất lâm nghiệp
cho bà Đ và không công nhận Quyết định cấp đất làm vườn rừng số 17 ngày
25/8/1991 của UBND huyện S về việc cấp 25ha đất lâm nghiệp cho bà Đ nhưng
đối với diện tích đất tranh chấp thì bà Đ vẫn được giao quản lý, sử dụng sau khi
đã điều chỉnh giảm diện tích này trong GCNQSDĐ của Ban quản lý rừng phòng
hộ huyện S. Quá trình nhà nước thực hiện việc thu hồi đất thì đều xác định
nguồn gốc đất là đất của bà Đ đã chuyển nhượng cho bà L và bà L đã quản lý,
sử dụng ổn định.
Đối với quan điểm của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà N và
ông T cho rằng trong diện tích đất đang tranh chấp giữa ông L, bà L với bà Đ có
phần diện tích 17.686,1m
2
thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà N và các tài
sản gồm: 01 ngôi nhà ba gian bằng gỗ, mái lợp Proximang, diện tích 49,2m
2
, trị
giá 40.000.000 đồng, toàn bộ cây hoa hồng trồng trên diện tích đất là 5.215,2m
2
,
trị giá 2.086.080.000 đồng thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông T, Hội đồng
xét xử thấy rằng:
Bà N cho rằng diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc do gia đình bà khai
phá, sử dụng nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh, trường hợp gia
đình bà có sử dụng đất thì cũng không thực hiện việc đăng ký, kê khai với cơ
quan nhà nước có thẩm quyền. Đối với lời khai của những người làm chứng chỉ
xác nhận về việc bà N có khai phá đất ở khu vực đang tranh chấp chứ không xác
định được cụ thể vị trí đất gia đình bà N khai phá. Tại Quyết định số:
1276/UBND-TNMT ngày 19/5/2022 của UBND thị xã S, xác định đối với diện
tích đất rừng là 21.377m
2
(gồm thửa 16.066m
2
và thửa 4.311m
2
) hộ ông C nhất
trí bàn giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ; Đối với phần đất diện tích không có
rừng diện tích là 26.677m
2
, gồm các thửa diện tích đất là 5.260m
2
, diện tích đất
là 20.763m
2
, hiện do ông C quản lý đã được phê duyệt thu hồi và bồi thường cho
các con của ông C là anh Hạng Anh C và anh Hạng A T vào năm 2016. Tại Văn
bản số 1276/UBND-TNMT ngày 19/5/2022 của UBND thị xã S có nội dung:
“Ngoài diện tích bà N đã trả lại cho Ban quản lý rừng phòng hộ và phần diện
tích đã được UBND huyện (nay là thị xã) đã bồi thường cho hộ gia đình thỉ bà N
không còn diện tích nào khác”. Tại cấp phúc thẩm, bà N đề nghị Tòa án thu thập
bổ sung các tài liệu, chứng cứ. Sau khi xem xét đề nghị của bà N thấy rằng các
tài liệu đề nghị thu thập bổ sung đều đã có trong hồ sơ vụ án. Đối với các tài
liệu, chứng cứ không có căn cứ xác định quyền sử dụng đất của bà N đối với
diện tích đất tranh chấp. Do đó việc bà N cho rằng gia đình bà có quyền sử dụng
hợp pháp đối với diện tích 17.686,1m
2
nằm trong diện tích đất 18.935,1m
2
hiện
đang tranh chấp giữa ông L, bà L với bà Đ là không có căn cứ. Bản án sơ thẩm
14
đã nhận định đối với yêu cầu độc lập của bà N nhưng lại xác định Nhà nước đã
thu hồi diện tích đất này và theo quy định Điều 3 và khoản 2 Điều 105 Luật đất
đai quy định cấp GCNQSDĐ thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện, không
thuộc thẩm quyền của Tòa án nên đình chỉ yêu cầu của bà N là không đúng, cần
tuyên không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà N.
Đối với yêu cầu của ông T về việc công nhận quyền sở hữu đối với tài sản
trên diện tích đất tranh chấp thấy rằng:
Quá trình giải quyết vụ án, ông T cung cấp tài liệu là Biên bản bàn giao
công trình trận địa 12 ly 7 ngày 28/5/2007 có nội dung về việc Ban chỉ huy quân
sự thị trấn S bàn giao trận địa 12,7 ly cho tổ dân phố số 9, thị trấn S và đồng chí
Nguyễn Quốc T quản lý theo phương pháp quan sát trực tiếp thực tế trận địa
theo thiết kế, về chất lượng đảm bảo tốt theo thiết kế. Xét thấy trong Biên bản
bàn giao công trình trận địa 12 ly 7 không xác định vị trí, diện tích tại đâu, nội
dung biên bản thể hiện việc bàn giao trận địa cho tổ dân phố và ông T quản lý
chứ không có nội dung xác nhận về việc ông T đang quản lý, sử dụng đất nên
được bàn giao quản lý trận địa. Ngoài ra, ông T cung cấp các tài liệu là ảnh chụp
đồi hoa hồng do gia đình ông trồng và căn nhà của ông dựng trên đất nhưng các
ảnh chụp không có thời gian và không thể xác định đồi hoa, nhà trên đất nằm tại
vị trí nào, có nằm trên diện tích đất tranh chấp không. Quá trình giải quyết vụ án
tại cấp phúc thẩm ông T có đơn đề nghị Tòa án đưa người làm chứng vào tham
gia tố tụng và thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ. Xét thấy, kèm theo đơn ông T
cung cấp Bản tường trình của người làm chứng ông Đào Nguyên Bình, ông
Nguyễn Ngọc Tuyền, ông Trần Huy Đông, ông Nguyễn Đại Lâm nên không cần
thiết phải triệu tập người làm chứng tham gia phiên tòa. Đối với lời trình bày
của người làm chứng thấy rằng xác nhận về việc ngôi nhà của ông T bị cháy tại
khu đồi hoa, gần trận địa 12 ly 7 tại: Tổ 9c, thị trấn S (nay là tổ 2, phường P, thị
xã S), khi xảy ra cháy thì cơ quan ban ngành đã đến thăm hỏi, động viên và
những hộ dân xung quanh đã giúp nhà ông T dựng lại nhà tại vị trí nhà cũ bị
cháy nhưng người làm chứng không xác định ngôi nhà của ông T có nằm ở vị trí
diện tích đất tranh chấp hiện nay hay không. Ngoài ra, việc dựng nhà của ông T
là dựng nhà tạm, không được cơ quan có thẩm quyền cho phép, không có căn cứ
xác định ông T có quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất đã dựng nhà.
Đối với lời khai của ông Trần Duy Đông về việc được vợ chồng ông T thuê
trông coi, chăm sóc đồi hoa hồng, có thời gian hỗ trợ về kỹ thuật trồng hoa,
chăm sóc hoa nhưng cũng không xác định được ông T trồng hoa có tại vị trí đất
tranh chấp không. Ông T còn đề nghị thu thập bổ sung là Báo cáo số 19/BC-
TTPTQĐ ngày 26/0/2019 của Trung tâm phát triển quỹ đất huyện S báo cáo kết
quả rà soát theo nội dung đơn đề nghị của các hộ gia đình tại Dự án khu trung
tâm hành chính mới huyện S và Văn bản số 556/UBND-TNMT ngày 20/3/2020
của UBND thị xã S thì Tòa án đã thu thập, tuy nhiên xem xét các tài liệu này
thấy rằng không có đủ căn cứ khẳng định tài sản trên diện tích đất tranh chấp
thuộc quyền sở hữu của ông T.
Xét thấy, các tài liệu, chứng cứ do ông T cung cấp chưa đủ căn cứ chứng
minh quyền sở hữu đối với tài sản trên diện tích đất tranh chấp. Hơn nữa, như đã
15
phân tích ở trên thì ông T cho rằng được bà N cho mượn đất để canh tác, sử
dụng nhưng bà N không có quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất tranh
chấp nên không có quyền cho ông T mượn đất. Vì vậy, Tòa án sơ thẩm không
chấp nhận yêu cầu độc lập của ông T về việc công nhận quyền sở hữu tài sản là
có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
[4.3] Từ những phân tích trên thấy rằng có căn cứ xác định về nguồn gốc
diện tích đất tranh chấp là đất của bà Đ đã được nhà nước cấp quyền sử dụng
đất. Do đó, bà Đ có đầy đủ các quyền của người sử dụng đất theo quy định của
pháp luật trong đó có quyền chuyển quyền sử dụng đất. Giấy bán đất vườn tạp
ngày 22/6/1995 giữa bà Đ và bà L mặc dù không đúng quy định của pháp luật về
hình thức, chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng giữa
các bên không có tranh chấp, đều xác nhận việc mua bán. Từ thời điểm nhận
chuyển nhượng gia đình bà L cũng đã sử dụng đất ổn định. Vì vậy, xác định ông
L, bà L có quyền sử dụng đất hợp pháp từ khi nhận chuyển nhượng của bà Đ
đến trước thời điểm nhà nước thu hồi đất. Tuy nhiên, do Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/6/1995 giữa bên chuyển nhượng bà Đ với
bên nhận chuyển nhượng bà L đã thực hiện xong, đến nay quyền sử dụng đất đã
bị thu hồi theo quy định của pháp luật nên việc ông L, bà L khởi kiện yêu cầu
công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất tranh chấp là không
có căn cứ chấp nhận đồng thời yêu cầu độc lập của Người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan bà N và ông T là không có căn cứ chấp nhận.
Trên cơ sở những nhận định ở trên xét thấy cần sửa bản án sơ thẩm của
Tòa án nhân dân thị xã S theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
Nguyên đơn ông L, bà L và không chấp nhận yêu cầu độc lập của Người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà N và ông T. Đối với phần của Bản án sơ thẩm
đình chỉ việc rút một phần yêu cầu của bà N là đúng quy định tại Điều 244 Bộ
luật Tố tụng dân sự, sau khi xét xử sơ thẩm phần này không bị kháng cáo, kháng
nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
Nguyên đơn ông L, bà L phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Xác nhận ông L, bà L đã nộp đủ tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là
8.900.000 đồng (Tám triệu chín trăm nghìn đồng) tại Tòa án nhân dân thị xã S.
[6] Về án phí:
[6.1] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên Nguyên đơn ông L, bà L
phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, Bị đơn bà Phạm Thị Đ không phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà N và ông T phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm do yêu cầu độc lập không được chấp nhận. Tuy nhiên, đối với số tiền
án phí dân sự sơ thẩm mà ông T phải chịu thấy rằng trong vụ án ông T có yêu
cầu về việc công nhận quyền sở hữu của vợ chồng ông đối với tài sản bao gồm:
01 ngôi nhà 03 gian bằng gỗ, mái lợp Proximang, diện tích đất là 49m
2
, trị giá là
40.000.000 đồng, cây hoa hồng trồng trên diện tích đất là 5.215,2m
2
, trị giá là

16
2.086.080.000 đồng, tổng cộng số tiền là 2.126.080.000đồng. Tại điểm a khoản
2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: “Trường hợp tranh chấp về quyền sở
hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất mà Tòa án không xem xét giá
trị, chỉ xem xét quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất của ai
thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án
không có giá ngạch”. Trong vụ án trên Tòa án chỉ xem xét về quyền sở hữu tài
sản là của ai chứ không xem xét giá trị của tài sản nên ông T phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án không có giá ngạch. Bản án sơ
thẩm buộc ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là không đúng,
cần sửa bản án sơ thẩm về phần này.
[6.2] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm nên người kháng cáo
là Nguyên đơn ông L, bà L và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Quốc T và bà Phạm Thị N không phải chịu tiền án phí dân sự phúc
thẩm theo quy định tại Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 147, Điều 148 Bộ luật Tố tụng
Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 174 Bộ luật Tố tụng dân
sự; Khoản 9 Điều 3, Điều 4, khoản 2 Điều 105, Điều 203 Luật đất đai; Điều 129,
Điều 197, Điều 500, Điều 501, Điều 502, Điều 503, Điều 613 Bộ luật dân sự;
Khoản 2 Điều 3, khoản 3 Điều 73 Luật Đất đai 1993.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DS-ST ngày 25/12/2023 của Tòa
án nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Trần Ngọc L,
bà Phạm Thị L về việc:
Công nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Ngọc L, bà Phạm Thị L đã
nhận chuyển nhượng theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
22/6/1995, giữa bên chuyển nhượng bà Đ với bên nhận chuyển nhượng bà L, đối
với diện tích đất 18.935,1m
2
, tại: Tổ 9c, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lào Cai (nay là
tổ 2, phường P, thị xã S, tỉnh Lào Cai.
2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan bà Phạm Thị N về việc:
- Công nhận diện tích đất là 17.686,1m
2
tại: Tổ 9c, thị trấn S, huyện S
(Nay tổ 02, phường P, thị xã S), tỉnh Lào Cai nằm trong diện tích đất
17
18.935,1m
2
mà ông L, bà L nhận chuyển nhượng với bà Đ thuộc quyền sử dụng
hợp pháp của bà N và ông C.
- Tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/6/1995,
giữa bên chuyển nhượng bà Đ với bên nhận chuyển nhượng bà L đối với diện
tích đất 2ha, tại: Tổ 09c, thị trấn S, huyện S (Nay là tổ 02, phường P, thị xã S),
tỉnh Lào Cai.
3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan ông Nguyễn Quốc T về việc:
Công nhận tài sản trên đất mà UBND huyện S đã bồi thường cho bà L
thuộc quyền sở hữu của ông T và bà T, gồm 01 ngôi nhà 03 gian bằng gỗ, mái
lợp Proximang, diện tích đất là 49m
2
, trị giá là 40.000.000 đồng, cây hoa hồng
trồng trên diện tích đất là 5.215,2m
2
, trị giá là 2.086.080.000 đồng, tổng cộng số
tiền là 2.126.080.000 đồng.
4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
Ông Trần Ngọc L, bà Phạm Thị L phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm
định tại chỗ là 8.900.000 đồng (Tám triệu chín trăm nghìn đồng). Xác nhận ông
Trần Ngọc L, bà Phạm Thị L đã nộp đủ tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ
tại Tòa án nhân dân thị xã S.
5. Về án phí:
5.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Phạm Thị L và ông Trần Ngọc L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm
là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Bà Phạm Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000đồng
(Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà Phạm Thị
N đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng
án phí, lệ phí Tòa án số 004976 ngày 27/6/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự
thị xã S. Bà Phạm Thị N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Quốc T phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm số tiền là
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ
thẩm ông Nguyễn Quốc T đã nộp là 37.260.800 đồng (Ba mươi bẩy triệu, hai
trăm sáu mươi nghìn, tám trăm đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ
phí Tòa án số 0004979 ngày 01/7/2022 (Do bà Vũ Thị Hồng T nộp thay) tại Chi
cục thi hành án dân sự thị xã S. Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Quốc T số tiền
36.960.800 đồng (Ba mươi sáu triệu, chín trăm sáu mươi nghìn, tám trăm đồng).
5.2. Về án phí dân sự phúc thẩm.
Ông Trần Ngọc L, bà Phạm Thị L không phải chịu tiền án phí dân sự phúc
thẩm. Hoàn trả cho ông Trần Ngọc L, bà Phạm Thị L số tiền tạm ứng án phí
phúc thẩm đã nộp là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23P, số 0001531 ngày 17/01/2024 tại
Chi cục Thi hành án dân sự thị xã S.
18
Bà Phạm Thị N không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Do bà
Phạm Thị N được miễn tạm ứng án phí phúc thẩm nên không xem xét, xử lý về
tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
Ông Nguyễn Quốc T không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Quốc T số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
Tòa án ký hiệu BLTU/23P, số 0001529 ngày 10/01/2024 tại Chi cục Thi hành
án dân sự thị xã S.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,
7, 7a, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lào Cai (2);
- TAND thị xã S;
- Chi cục THADS thị xã S;
- Các đương sự;
- Người BV Q&LIHP;
- UBND Thị xã S
- Lưu VT, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phùng Chí Thiện
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 06/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 03/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 01/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 26/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 26/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 26/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 25/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 23/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm