Bản án số 118/2026/HS-PT ngày 28/07/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 118/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 118/2026/HS-PT ngày 28/07/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 118/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/07/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyễn Quang D và đồng phạm phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 118/2026/HS-PT Bản án số 118/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 118/2026/HS-PT Bản án số 118/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PH TH
Bản án số: 118/2026/HS-PT
Ngày 28 - 7 - 2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PH TH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghĩa.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn và ông Nguyễn Xuân Trọng
- Thư phiên toà: Đào Thị Thanh Huyền - Thư Toà án nhân dân
tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà
Đỗ Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Th (cơ
sở 2), xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 160/2026/TLPT - HS
ngày 04 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Quang D và đồng phạm do
kháng cáo của bị hại Công ty TNHH H4 đối với Bản án hình sự thẩm số:
94/2026/HS-ST ngày 07 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8
Phú Thọ.
Bị cáo có liên quan đến kháng cáo:
1. Nguyễn Quang D (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1993 tại tỉnh Phú
Thọ; nơi trú: Thôn H, B, tỉnh Phú Thọ; căn cước công dân số:
************; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12;
quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: không xác định
Nguyễn Thị Đ; vợ Nguyễn Thị Thu T (đã ly n) 01 con; tiền
án: Không;
Tiền sự 01: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 243 ngày
24/01/2025 của UBND thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ), xử phạt vi phạm hành
chính đối với Nguyễn Quang D về hành vi Sử dụng các loại pháo trái phép, hình
thức phạt tiền, mức phạt 7.500.000 đồng.
Nhân thân:
+ Ngày 13 tháng 01 năm 2010, bị o bị Công an huyện B, tỉnh Vĩnh
Phúc (cũ) xử phạt vi phạm hành chính với hình thức cảnh cáo về hành vi Trộm
cắp tài sản”. Đến nay đã được xóa tiền sự.
+ Bản án số 48 ngày 28/10/2010 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên,
tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) xử phạt Nguyễn Quang D 05 năm 06 tháng về tội “Cướp
2
tài sản”. (Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 14/4/2010, Nguyễn Quang
D 16 tuổi 04 tháng 24 ngày tuổi). Đến nay đã được xóa án tích;
Bị bắt tạm giam tngày 10/10/2025 đến ngày 21/01/2026 được thay thế
bằng biện pháp bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại (có mặt).
2. Võ Văn H (Tên gọi khác: Không), sinh năm 2000 tại tỉnh Phú Thọ; nơi
trú: thôn N (nay thôn N), B, tỉnh Phú Thọ căn cước công dân số:
************; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12;
dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Văn Q
Nguyễn Thị M; vợ, con: Không có; tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giam tngày 10/10/2025 đến ngày 21/01/2026 được thay thế
bằng biện pháp bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại (có mặt).
- Bị hại: Công ty TNHH H4; địa chỉ: Thôn G, G, huyện Y, tỉnh Hưng
Yên; nay là thôn G, xã N, tỉnh Hưng Yên.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Thành L, sinh năm 1991- chức
vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện hợp pháp của ông Phạm Thành L: Hoàng Thị Minh
D1, sinh năm 1984; địa chỉ: Số D đường T, tổ dân phố X, phường P, tỉnh Phú
Thọ - người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 29 tháng 10
năm 2025) (có mặt);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn T1,
sinh năm 1989 - Luật sư thuộc Công ty L2; địa chỉ: Số A N, phường V, tỉnh Phú
Thọ (vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Chị Thị H1, sinh năm 2000; trú tại: Thôn S, Đ, tỉnh Phú Thọ
(vắng mặt);
+ Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1971 (mẹ bcáo D); trú tại: Thôn H,
B, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt);
+ Ông Văn Q, sinh năm 1974 (bố bị cáo H); trú tại: Thôn N, B,
tỉnh Phú Thọ (có mặt);
- Người làm chứng: Anh Vũ Văn C, sinh năm 1990; cư trú tại: Tổ dân phố
N, phường P, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 8 năm 2025, Nguyễn Quang D được 01 thanh niên tự
giới thiệu tên M1 (D khai chỉ biết tên M1 “Bở”, không biết họ, tên đệm,
năm sinh, địa chỉ cụ thể) nhờ đi đòi nợ hộ anh Phạm Thành L Tổng giám đốc
Công ty TNHH H4 stiền 200.000.000 đồng. D khai nhận, anh M1 nói với D:
“Nếu D đòi được nợ cho anh L thì sẽ được hưởng 50% số tiền đòi được” nhưng
3
sau khi D đòi được nợ cho anh L số tiền 200.000.000 đồng thì M1 thông báo với
D anh L chỉ trả cho D số tiền 5.000.000 đồng. Do không liên hệ được với anh
L để làm về việc anh L không giữ đúng lời hứa như đã thỏa thuận với M1
trước khi đi đòi nợ, nên D đã nảy sinh ý định sẽ trả t đối với anh L.
Chiều ngày 20/9/2025, D thấy anh L làm việc tại Văn phòng đại diện
Công ty TNHH H4, địa chỉ tại: khu đất dịch vụ T - B - T, thuộc B, tỉnh
Phú Thọ (gọi tắt Văn phòng Công ty). D nảy sinh ý định sẽ ném chất bẩn vào
văn phòng công ty của anh L nên đã chuẩn bị chất bẩn hỗn hợp dầu luyn,
mắm m sơn cho vào 40 vỏ chai bia bằng thủy tinh, xếp vào trong 02 vỏ két
bia để ném vào văn phòng công ty của anh L mục đích làm hư hỏng tài sản.
Để tránh bị phát hiện, khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, D gọi điện cho
chị Thu H2, sinh năm 2000, trú tại: Thôn S, Đ, tỉnh Phú Thọ nói dối
mượn chiếc xe ô nhãn hiệu Ford Ranger, màu trắng, biển kiểm soát (BKS):
88C-290.51 của vợ chồng chị H2 để đi chở hàng hóa. Tin thật nên chị H2
đồng ý, giao xe cho D mượn. Sau khi mượn được xe ô tô của vợ chồng chị H2,
D điều khiển xe ô về nhà rồi để 02 vỏ két bia chứa 40 vỏ chai bia thuỷ tinh
chứa hỗn hợp chất bẩn lên thùng phía sau xe ô tô. Sau đó, D gọi điện qua ứng
dụng Mesenger cho bạn tgiới thiệu tên Nguyễn Hùng M1, sinh năm 2002,
nhà phường V, tỉnh Phú Thọ nhờ M1 đi giải quyết công việc, đồng thời nhờ
M1 gọi thêm người đi cùng.
D khai nhận, đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, M1 đi cùng một
thanh niên tên Đ1 (không họ tên, lai lịch, địa chỉ) đến nhà của D thôn H,
B, tỉnh Phú Thọ. Sau đó, D gọi qua ứng dụng Mesenger cho Văn H, sinh
năm 2000, trú tại: thôn N, B, tỉnh Phú Thọ nhờ H đi giải quyết công việc, H
đồng ý nên D điều khiển xe ô BKS: 88C-290.51 chở M1, Đ1 cùng 02 vỏ két
bia chứa 40 chai thủy tinh đựng chất bẩn đi đến đón H. Khi đã đón được H, D
nói với M1, Đ1 H biết về việc D mâu thuẫn với anh Phạm Thành L đồng
thời D nhờ M1, Đ1 H đi cùng D đến ném hỗn hợp chất bẩn đang để thùng
phía sau xe ô tô vào Văn phòng Công ty của anh L thì M1, Đ1 và H đều đồng ý.
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 21/9/2025, D điều khiển xe ô BKS: 88C-
290.51 chở M1, Đ1 và H đến khu vực gần Văn phòng Công ty của anh L thì
dừng xe. H Đ1 mỗi người ôm 01 vỏ két bia chứa các vỏ chai bia đựng chất
bẩn xuống xe, rồi cùng với D M1 đi đến trước cửa Văn phòng Công ty của
anh L. H, D, M1 Đ1 đứng dàn hàng ngang dưới lòng đường, sau đó cả bọn
ném 40 vỏ chai bia chứa hỗn hợp chất bẩn vào Văn phòng Công ty của anh L (D
H khai nhận, mỗi người ném 10 vỏ chai bia chứa hỗn hợp chất bẩn; còn M1
Đ1 ném 20 vỏ chai bia chứa hỗn hợp chất bẩn còn lại). Sau khi ném hết 40 vỏ
chia bia chứa chất bẩn thì cả bọn mang 02 vỏ két bia lên để thùng xe ô ô
BKS: 88C-290.51 rồi cùng nhau lên xe ô rời khỏi hiện trường, sau đó D đem
xe ô tô về trả lại cho chị H2.
Hậu quả: Trụ sở Văn phòng Công ty của anh L bị vỡ 06 tấm kính cửa sổ;
Bảng biển chữ nổi của n phòng lắp phía trước mặt tiền bị hỏng; T2, trần
nhà, cửa cuốn, sàn nhà của Văn phòng bị dính nhiều chất bẩn, trơn trượt, hôi
4
thối.
Do bị nhóm của D ném chất bẩn, ngày 25/9/2025 anh Văn C, sinh
năm 1990, nơi thường trú: Tổ dân phố N, phường P, tỉnh Phú Thọ nhân viên
Văn phòng đại diện Công ty TNHH H4 đã đến Công an xã B trình báo. Cơ quan
công an đã triệu tập Nguyễn Quang D Văn H làm việc. Tại đây, D H
đã khai nhận toàn bộ hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản của mình như đã nêu
trên.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường là căn nhà 03 tầng được xây dựng kiên cố trên thửa đất ở khu
đất dịch vụ T - B - T, thuộc B, tỉnh Phú Thọ. Phía trước căn nhà vỉa hè,
phía Bắc giáp nhà dân, phía Đ2 đường liên thôn, phía Nam giáp đường dân
sinh, phía Tây giáp nhà dân. Các dấu vết:
Thềm tông phía trước căn nhà 03 tầng, kích thước (10,3 × 3,1)m, liền
kề với đường dân sinh rộng 07m, có các dấu vết, đồ vật gồm: vùng chất bẩn màu
đen xám bốc mùi khó chịu; Nhiều mảnh thủy tinh rơi vương vãi; Các chcái
“P”, “R”, “P” màu xanh chữ “Nmàu đỏ; 04 vỏ chai thủy tinh in nhãn hiệu
“Sai Gon” và 04 vỏ chai thủy tinh in nhãn hiệu “Beer Lao”.
Tầng 01: Mặt trước tầng 01 căn nhà 03 tầng lắp 02 cửa cuốn bằng kim
loại, trên cửa cuốn có bám dính nhiều đám chất bẩn màu đen. Theo hướng chính
diện, cửa cuốn bên trái kích thước (1,95×2,80)m, bám dính nhiều đám chất bẩn
màu đen loang lổ, 01 đám kích thước (0,47×0,89)m; Cửa cuốn bên phải
ch thước (1,95×3,45)m, bám dính nhiều đám chất bẩn màu đen loang lổ trên
bề mặt.
Tầng 02: Phía chính diện (mặt tiền) gắn 01 biển bảng chữ nổi, kích thước
(1,5×6,0)m, trên bề mặt bảng biển bám dính chất bẩn màu đen, biển bảng bị nứt
vỡ, móp méo không xác định hình dạng nhiều vị trí. 04 ô kính cửa sổ (kích
thước 0,48 × 1,42 × 0,006)m bị nứt vỡ. Theo lối cầu thang đi lên, tường hướng
Tây liền kề với tường hướng Bắc có 01 vết bẩn màu đen kích thước (0,8×0,3)m.
Tường hướng Bắc 01 đám vết bẩn màu đen kích thước (1,8×3,0)m. Tại góc
tường hướng Tây mặt sau phòng họp 01 đám chất bẩn từ tường kéo xuống
nền gạch, dài 5,2m.
Tầng 03: 02 ô kính cửa sổ bị vỡ (kích thước 0,48×1,42×0,006)m. Nền nhà
cạnh Phòng 305 và Phòng 306 có đám chất bẩn màu đen kích thước (1,8×2,4)m.
Tổng diện tích tường trần màu trắng phía bên ngoài căn nhà 03 tầng
bị bám dính chất bẩn màu đen là 54m
2
. Tổng diện tích tường và trần màu xanh ở
phía bên trong tầng 02 và tầng 03 của căn nhà 03 tầng bị bám dính chất bẩn màu
đen là 10m
2
.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:
Thu giữ tại hiện trường: 02 chữ P màu xanh, kích thước (18×32)cm + 01
chữ R màu xanh, kích thước (14,5×10) cm + 01 chữ N màu đỏ, kích thước
(32×30)cm. Xác định 04 chữ cái được làm bằng chất liệu nhựa nêu trên bị rơi ra
5
từ tấm biển bảng chữ nổi của Văn phòng Công ty của L, do bị nhóm của bị can
D, H ném làm hư hỏng, không còn giá trị sử dụng.
+ 04 vỏ chai thủy tinh nhãn hiệu Sai Gon”, loại 450ml + 04 vỏ chai thủy
tinh nhãn hiệu “Beer Lao”, loại 330ml.
- Thu giữ của anh Phạm Thành L 02 V, trong đó: 01 Video Clip thời
lượng 02 phút 15 giây và 01 Video Clip có thời lượng 01 phút 15 giây trích xuất
từ Camera an ninh của Văn phòng đại diện Công ty TNHH H4, được lưu vào
trong 01 USB nhãn hiệu Kingston@ màu đen dung lượng 16GB.
- Thu giữ của chị Thu H2: 01 ô nhãn hiệu Ford Ranger XLS màu
trắng, biển kiểm soát: 88C-290.51, số máy: P4AT2134765, số khung:
MNCLMFF80GW 519949, tài sản hợp pháp của vợ chồng anh Bùi Văn D2,
SN 1998 chị Thu H2, SN 2000, cùng trú tại: thôn S, xã Đ, tỉnh Phú Thọ.
Khi cho D mượn xe, vợ chồng chị H2 không biết D sử dụng chiếc xe để đi thực
hiện hành vi phạm tội. Ngày 07/01/2026, quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô
tô cho chị H2 nhận lại, không có yêu cầu, đề nghị gì.
+ 02 vỏ két đựng chai bia màu đỏ, cùng có kích thước (40×33×25)cm.
Kết luận định giá tài sản và giám định:
- Ngày 01/10/2025, quan điều tra đã Yêu cầu định giá tài sản số
7176, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự B tiến hành
định giá tài sản đối với 01 bảng biển chữ nổi màu trắng, được làm bằng chất liệu
khung kim loại ốp tấm A (tấm nhôm nhựa A), kích thước (1,5×6,0)m. Kết luận
định giá tài sản số 02 ngày 10/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố
tụng hình sự B, kết luận: Giá trị thiệt hại của 01 bảng biển chữ nổi màu trắng,
được làm bằng chất liệu khung kim loại ốp tấm A (tấm nhôm nhựa A), kích
thước (1,5×6,0)m là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
- Ngày 07/10/2025, quan điều tra đã Yêu cầu định giá tài sản số
7783, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự B tiến hành
định giá tài sản đối với 06 tấm kính cửa sổ kích thước (0,48×1,42×0,006)m;
54m
2
sơn tường sơn trần ngoại thất; 10m
2
sơn tường sơn trần nội thất. Kết
luận định gtài sản s14 ngày 20/11/2025 của Hội đồng định gtài sản trong
tố tụng hình sự B, kết luận: Giá trị thiệt hại của 06 tấm kính cửa sổ kích
thước (0,48×1,42×0,006)m là 1.118.694 đồng; 54m
2
sơn tường và sơn trần ngoại
thất là 4.590.000 đồng; 10m
2
sơn tường và sơn trần nội thất là 700.000 đồng.
Như vậy, tổng giá trị tài sản Văn phòng đại diện Công ty TNHH H4 bị hư
hỏng là: 16.408.694 đồng.
- Ngày 07/10/2025, quan điều tra đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh
P giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 USB nhãn hiệu Kingston@ màu đen,
dung lượng 16GB, bên trong chứa dữ liệu của 02 đoạn Video. Kết luận giám
định số 1359 ngày 29/12/2025 của Phòng K Công an tỉnh P, kết luận: 02 tệp
Video gửi giám định hình ảnh ghi lại màn hình của 01 thiết bị khác đang phát
(trình chiếu) Video, do vậy không xác định được 02 tệp Video được ghi lại có bị
6
chỉnh sửa nội dung hình ảnh hay không. Trích xuất được 12 ảnh đặc điểm
diễn biến từ 02 tệp Video gửi giám định, toàn bộ ảnh được in ra giấy, chuyển
theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự:
- Quá trình giải quyết vụ án, Nguyễn Quang D đã nhờ mẹ đẻ là bà Nguyễn
Thị Đ bồi thường cho Công ty TNHH H4 số tiền 74.000.000 đồng; Võ Văn H đã
nhờ bố đẻ là ông Võ Văn Q bồi thường cho Công ty TNHH H4 số tiền
74.000.000 đồng. Đại diện theo uỷ quyền của Công ty TNHH H4 liên quan đến
lĩnh vực dân sự là bà Hoàng Thị Minh D1 đã nhận đủ số tiền 148.000.000đ bồi
thường của 02 gia đình D H nêu trên, không yêu cầu các đối tượng phải bồi
thường thêm bất cứ một khoản tiền nào khác.
Đối với anh Bùi Văn D2, sinh năm 1998 chị Thu H2, sinh năm
2000, cùng trú tại: Thôn S, Đ, tỉnh Phú Thọ, ngày 20/9/2025, khi cho D
mượn xe ô tô, D đã nói dối mượn xe để đi chở hàng. Anh D2, chị H2 không
biết việc D mượn xe làm phương tiện đi thực hiện hành vi phạm tội.
Đối với đối tượng tên M1 (theo D khai M1 Bở”), quan điều tra đã
điều tra xác minh nhưng chưa làm được nhân thân, năm sinh, tên tuổi địa chỉ
cụ thể, chưa lấy được lời khai nên không có căn cứ để xác định M1 “Bở” có liên
quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Quang D và đồng phạm.
Đối với đối tượng tên Nguyễn Hùng M1, sinh năm 2002 nhà phường
V, tỉnh Phú Thọ bạn quen qua quan hệ hội của bị cáo D 01 đối tượng
tên Đ1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) là bạn của Nguyễn Hùng M1. Quá trình giải
quyết vụ án, quan điều tra đã điều tra, xác minh nhưng chưa làm được
nhân thân tên tuổi, địa chỉ cụ thể, chưa lấy được lời khai của Nguyễn Hùng M1
đối tượng tên Đ1, chưa đủ căn cứ đxđối với Nguyễn Hùng M1, Đ1 v
tội “Cố ý làm hỏng tài sản”. Ngày 07/01/2026, quan điều tra đã ra Quyết
định tách vụ án hình sự số A196, theo Quyết đnh khởi tố vụ án số A246 ngày
10/10/2025 của quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đối với 02 đối tượng
Nguyễn Hùng M1Đ1 để tiếp tục truy tìm, điều tra làm rõ xử lý theo quy định
pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 97/CT-VKSPY ngày 03 tháng 02 năm 2026 của Viện
kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Phú Thọ đã truy tố các bị cáo Nguyễn Quang D
Văn H về tội “Cố ý làm hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật
Hình sự.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 94/2026/HS-ST ngày 07
tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Phú Th đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang D, Võ Văn H phạm tội “Cố ý làm
hỏng tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ
luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang D 09 (Chín) tháng tù. Thời gian
7
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời
hạn đã tạm giam bị cáo từ ngày 10/10/2025 đến ngày 21/01/2026.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Văn H 08 (Tám)
tháng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm 04 tháng. Thời hạn
thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Võ Văn H cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Phú Thọ nơi bị cáo
trú giám sát, giáo dục trong thời gian th thách. Trường hợp người được
hưởng án treo thay đổi nơi trú thì thực hiện theo qui định của Điều 92 Luật
Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án thể quyết định buộc người được hưởng án
treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn xử vật chứng, tuyên án phí quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 09/4/2026, bị hại Công ty TNHH H4 có đơn kháng cáo vi ni dung
đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Quang D Văn H công
nhận Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đúng tội danh, bị cáo không bị oan. Đại diện
hợp pháp của bị hại giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ thực hành quyền công tố
tại phiên tòa sau khi nghe tóm tắt nội dung vụ án sau khi phân tích đánh giá
hành vi phạm tội xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm nh
sự, nhân thân của các bị cáo đã phát biểu quan điểm: Đề nghị áp dụng
điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận
kháng cáo của bị hại Công ty TNHH H4, giữ nguyên Bản án hình sự thẩm số
94/2026/HS-ST ngày 07 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vc 8 - Phú
Th.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Đơn kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bhại làm trong hạn
luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét, giải quyết.
Người bảo vquyền lợi ích hợp pháp của bị hại vắng mặt đơn
xin xét xử vắng mặt, đại diện hợp pháp của bị hại đồng ý xét xử vắng mặt người
bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại nên Hội đồng xét xử tiến hành xét
xử vắng mặt người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại theo quy định.
[2]. Về nội dung vụ án: Tại quan điều tra cũng như tại phiên tòa
thẩm, phúc thẩm bị cáo Nguyễn Quang D Văn H đã thừa nhận toàn bộ
8
hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời
nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, từ
đó đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 21/9/2025, tại khu đất
dịch vụ T - B - T, thuộc B, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Quang D đã cùng với
Văn H đối tượng mới quen của D được xác định tên là Nguyễn Hùng M1 với
đối tượng tên Đ1 (là bạn của Nguyễn Hùng M1 rủ cùng đi) đã hành vi
dùng 40 vỏ chai bia bằng thủy tinh, bên trong mỗi chai đều chứa chất bẩn
như: dầu luyn, mắm tôm sơn ném vào Văn phòng đại diện Công ty TNHH
H4 do anh Phạm Thành L làm Tổng giám đốc, gây hỏng tài sản của Công ty
TNHH H4 trị giá: 16.408.694 đồng.
Vi hành vi nêu trên, Tòa án cấp thẩm xét xbị cáo Nguyễn Quang D
Văn H về tội “Cố ý làm hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật
Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật không oan sai.
Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho hội, đã xâm phạm
đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do vậy cần x
nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng, phòng ngừa chung, phục vụ tốt nhiệm
vụ giữ vững an ninh trật tự tại địa phương và làm gương cho người khác.
[4]. Xét kháng cáo của bị hại cho rằng việc điều tra tại cấp sơ thẩm không
đầy đủ khi không xác định đúng đắn động cơ phạm tội của bị cáo D, không điều
tra đối với kẻ chủ mưu, cầm đầu “Mạnh Bở”; cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm, bỏ
lọt người phạm tội kẻ chủ mưu, cầm đầu, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố
tụng khi không tiến hành đối chất để làm rõ động cơ phạm ti của bị cáo; cấp sơ
thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sthành khẩn khai báo đối
với bị cáo D không đúng, không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
sự có tính chất côn đồ đối với bị cáo D là thiếu sót. Hội đồng xét xử thấy rằng:
[4.1]. Qua lời khai của Nguyễn Quang D thể hiện bị cáo D quen biết đối
tượng tên M1 và khi đi thực hiện hành vi phạm tội M1 cùng với D, bị cáo
Văn H và một đối tượng tên Đ1 (là bạn của M1); bị cáo D không biết rõ tên tuổi,
năm sinh, nơi trú của đối tượng tên M1. Quá trình điều tra, quan điều tra
cho bị cáo D nhận dạng đã xác định được M1 tên đầy đNguyễn Hùng
M1, sinh năm 2002, ttại ngõ A đường T, tổ dân phố Đ phường V, tỉnh Phú
Thọ. Tuy nhiên, khi xác minh tại địa phương thì hiện nay Nguyễn Hùng M1
không mặt tại địa phương nên quan điều tra không làm việc được với M1
(BL 296 đến 302). Theo kết luận giám định đối với video do bị hại cung cấp thì
không xác định được 04 đối tượng ném chất bẩn vào trụ sở công ty TNHH H4
đối tượng Nguyễn Hùng M1. Còn lời khai, nhận dạng của bị cáo Văn H
thì không xác định được đối tượng tên M1. vậy, chcăn cứ vào lời khai của
Nguyễn Quang D thì chưa đủ căn cứ để xác định Nguyễn Hùng M1 hành vi
phạm tội cùng với Nguyễn Quang D. Còn đối với đối tượng tên Đ1, thể hiện Đ1
là bạn của M1 và do M1 gọi đi cùng để thực hiện hành vi phạm tội nên D không
thể biết được nhân thân lai lịch của đối tượng tên Đ1 nên chưa đủ căn cứ để
khởi tố đối với Đ1. quan điều tra đã quyết định khởi tố vụ án hình sự số
A246 ngày 10/10/2025 (BL 1), sau đó đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số
9
A196 ngày 07/01/2026 đối với hành vi của bcáo Nguyễn Quang D Văn
H để điều tra (BL 4) và đã ra Quyết định truy tìm số A5363 ngày 01/10/2025 đối
với Nguyễn Hùng M1 (BL 54). Như vậy, quan điều tra đã tiến hành điều tra
đầy đđã quyết định tách vụ án để tiếp tục điều tra làm rõ, xử sau đối
với các đối tượng M1Đ1 đây là biện pháp tố tụng đúng quy định, không phải
là bỏ lọt tội phạm.
Đối với đối tượng mà D khai tên là M1 “Bở”, Cơ quan điều tra đã điều tra
xác minh nhưng chưa làm được nhân thân, năm sinh, tên tuổi địa chỉ cụ thể,
chưa lấy được lời khai, không có đầy đủ thông tin làm căn cứ để thu thập ảnh cá
nhân, tiến hành nhận dạng nên chưa đủ căn cứ để xác định M1 Bở” liên
quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Quang D đồng phạm. quan điều
tra đã tách vụ án để tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau là phù hợp.
Kháng cáo cho rằng quan điều tra đã điều tra không đầy đủ bỏ lọt
người phạm tội là không được chấp nhận.
[4.2]. Bị cáo D anh Nguyễn Thành L1 đều khai D và anh L1 chưa gặp
nhau bao giờ; D khai mọi việc giao dịch đều M1 “Bở” làm việc trực tiếp với
anh L1, còn anh L1 không thừa nhận đã trao đổi nội dung đòi nợ với M1 “Bở”,
ngoài ra hiện nay quan điều tra chưa làm việc được với M1 “Bở”. Từ đó
chưa đủ căn cứ xác định M1 “Bở” anh L1 mối quan hệ đòi nợ. Trên
thực tế thể mối quan hệ đòi nợ giữa M1 “Bở” D nhưng giữa M1 “Bở”
anh L1 không mối quan hệ đòi nợ, do đó lời khai của anh L1 và bị cáo D
mâu thuẫn, không khớp nhau điều bình thường. vậy, việc đối chất giữa
anh L1D để xem tồn tại quan hệ đòi nợ hay không là không cần thiết. Nội
dung kháng cáo này của bị hại không được chấp nhận.
[4.3]. Bị cáo D đã thừa nhận việc chuẩn bị công cụ, phương tiện, rủ
người khác và trực tiếp thực hiện hành vi ném các chai chứa chất bẩn vào trụ sở
của bị hại lời khai trên cũng phù hợp với lời khai của bị cáo Văn H là
người được bị cáo D rủ đi cùng thực hiện hành vi phạm tội phù hợp với kết
luận giám định đoạn video do bị hại cung cấp. Mặt khác, hồ ván không
tài liệu, chứng cứ độc lập nào chứng minh việc người thuê bị cáo thực hiện
hành vi phạm tội hoặc người chủ mưu đứng phía sau. Việc cho rằng bị cáo D
được thuê” làm hỏng tài sản chỉ suy đoán, không được chứng minh bằng
chứng cứ hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, không có
căn cứ chấp nhận quan điểm cho rằng bị cáo D người được thuê hoặc
người chủ mưu khác trong ván. Nên nội dung kháng cáo này của bị hại không
được chấp nhận.
[4.4]. Về động phạm tội của bị cáo D: Quá trình điều tra, tại phiên tòa
thẩm, phúc thẩm bị cáo D đều thừa nhận do việc đòi tiền cho anh L1 xong
nhưng được hưởng tiền công ít hơn so với số tiền M1 “Bở” nói với D trước
đó nên bị cáo đã bực tức và thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, động cơ phạm
tội của bcáo do bực tức sau khi thực hiện xong công việc D không được
nhận số tiền như đã thống nhất trước đó giữa bị cáo D M1 “Bở”. Còn thực tế
10
việc đòi nợ thuê giữa M1 “Bở” anh L1 hay không thì chưa đủ căn cứ để
xác định được.
[4.5]. Trong quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo D đã thừa nhận
hành vi phạm tội của mình, khai báo về quá trình chuẩn bị, rủ thêm các đồng
phạm thực hiện hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong
hồ vụ án. Do vậy, cấp thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai
báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo D
căn cứ. Nên kháng cáo không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
“thành khẩn khai báo” đối với bị cáo D là không được chấp nhận.
[4.6]. Hành vi của bị cáo D xâm phạm về quyền sở hữu tài sản chứ
không phải xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của bhại
nên cấp thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm
tội tính chất côn đồ” đối với bị cáo D căn cứ. Nên kháng cáo về việc áp
dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “có tính chất côn đồ” đối với bị cáo
D là không được chấp nhận.
[5]. Theo lời khai của anh Bùi Văn D2 là người nhận lại chiếc xe ô tô biển
kiểm soát 88C-290.51 chiếc xe ô mà bị cáo D đã sử dụng trước đó để chở
két bia đựng chất bẩn để thực hiện hành vi phạm tội. Tại lời khai ngày
09/10/2025 (BL 258), anh D2 khai khi D trả xe thì đi cùng 03 thanh niên
nhưng anh D2 không biết mặt. Tại lời khai ngày 02/01/2026 (BL 262) anh D2
khai khi D trả xe thì D đi một mình. Như vậy, lời khai của anh D2 không
thống nhất nhưng cấp thẩm không làm rõ. Còn lời khai của bị cáo D thể hiện
khi đi trả xe cho anh D2 thì D đi một mình, còn tại phiên tòa phúc thẩm D và H
đều thừa nhận khi đi trả xe cho anh D2 thì cả 4 người đều đi trả. Tuy nhiên, do
anh D2 không quen biết 03 thanh niên đi cùng D khi trả xe D đã thực hiện
xong hành vi phạm tội. Nên mẫu thuẫn lời khai trên không làm thay đổi bản chất
vụ án về việc xác định hành vi phạm tội của bị cáo D và đồng phạm.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Võ Văn Q là bố bị cáo Võ Văn H là người
đem tiền để bồi thường cho bị hại, cấp sơ thẩm xác định ông Võ Văn Q là người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án căn cứ. Quá trình giải quyết
vụ án, ngày 02/4/2026 ông Văn Q ủy quyền cho bà Nguyễn Thị M (là mẹ bị
cáo H) tham gia phiên tòa thẩm. Tuy nhiên, tại phần đầu của bản án thẩm
xác định bà Nguyễn Thị M (mẹ bị cáo H) người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan “theo văn bản ủy quyền ngày 02/4/2026”. Việc viết như trên chưa đúng
mẫu Bản án thẩm kèm theo Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19 tháng
9 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Vụ án được cấp thẩm thụ ngày 04/02/2026 được thông báo m
phiên tòa vào ngày 07/4/2026 nhưng trong phần đầu của bản án ghi ngày mở
phiên tòa ngày 07/4/2024 là phần sai xót. Tuy nhiên, đây chỉ sai t do
lỗi chính tả.
Những sai xót nêu trên không làm ảnh hưởng đến bản chất của vụ án,
không ảnh hưởng đến quyền lợi của các bị cáo đương sự nên không cần thiết
phải hủy án nhưng đề nghị cấp sơ thẩm nghiêm túc rút kinh nghiệm.
11
[6]. Về việc áp dụng hình phạt đối các bị cáo:
Đối với bị cáo Nguyễn Quang D người giữ vai trò chủ mưu, chuẩn bị
công cụ, phương tiện, rủ người khác phạm tội trực tiếp thực hiện hành vi
ném các chai chứa chất bẩn vào trụ sở văn phòng đại diện công ty của bị hại. Bị
cáo người nhân thân xấu, 01 tiền sự; ngoài ra, ngày 28/10/2010, bị cáo
bị Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên (cũ) xét xử về tội Cướp tài sản, khi đó bị
cáo là người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi, đến nay được coi không án tích.
Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo đã thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đồng thời tự nguyện
bồi thường đối với giá trị tài sản bị hỏng của bị hại với số tiền 74.000.000
đồng lớn hơn thiệt hại thực tế đã xảy ra nhiều lần, bị cáo phạm tội lần đầu
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Đối với bị cáo Văn H người giữ vai trò đồng phạm tích cực, trực
tiếp ném các chai chứa chất bẩn vào trụ sở (văn phòng đại diện) của bị hại. Tuy
nhiên, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi
cư trúràng. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau
khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của
mình đồng thời tự nguyện bồi thường số tiền 74.000.000 đồng lớn hơn thiệt hại
thực tế đã xảy ra nhiều lần. Do đó bị cáo được hưởng ba tình tiết giảm nhẹ qui
định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn
thời gian phục vụ trong quân nnên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ
quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,
nhân thân, vai trò giá trị tài sản bị thiệt hại, cấp thẩm xử phạt bị cáo
Nguyễn Quang D 09 tháng tù, xử phạt bị cáo Văn H 08 tháng cho hưởng
án treo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện tội phạm.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, các bị cáo đã tích cực tác
động đến bố mẹ của mình Nguyễn Thị Đ ông Văn Q bồi thường số
tiền 148.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi tám triệu đồng) cho Công ty TNHH
H4 do Hoàng Thị Minh D1 đại diện. Hoàng Thị Minh D1 đã nhận đ
và không yêu cầu bồi thường gì thêm; Đối với ông Q (bố của bị cáo D) M
(mẹ của bị cáo H), không yêu cầu các bcáo phải trả lại số tiền trên nên cấp
thẩm xem xét là phù hợp.
[8]. Đối với anh Bùi Văn D2, sinh năm 1998 và chị Thu H2, sinh năm
2000, cùng trú tại: Thôn S, Đ, tỉnh Phú Thọ, ngày 20/9/2025, khi cho D
mượn xe ô tô, D đã nói dối mượn xe để đi chở hàng. Anh D2, chị H2 không
biết việc D mượn xe làm phương tiện đi thực hiện hành vi phạm tội nên không
xem xét xử lý là phù hợp.
12
[9]. Đối với 02 đối tượng Nguyễn Mạnh H3 Đ1 đã được quan
điều tra tách vụ án hình sự theo quyết định số 196A ngày 07/01/2026, đề nghị
Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
[10] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 ô nhãn hiệu Ford Ranger XLS màu trắng, biển kiểm soát:
88C-290.51, số máy: P4AT2134765, số khung: MNCLMFF80GW 519949,
tài sản hợp pháp của vợ chồng anh Bùi Văn D2, sinh năm 1998 và chị Thu
H2, sinh năm 2000, đều trú tại: Thôn S, Đ, tỉnh Phú Thọ. Khi cho D mượn
xe, vợ chồng chị H2 không biết D sử dụng chiếc xe đđi thực hiện hành vi
phạm tội. Ngày 07/01/2026, quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô cho chị H2
nhận lại, chị H2 không có yêu cầu, đề nghị gì nên Cấp sơ thẩm không xem xét là
phù hợp
Đối với 02 chữ P màu xanh, kích thước (18 × 32)cm + 01 chữ R màu
xanh, kích thước (14,5 × 10)cm + 01 chữ N màu đỏ, kích thước (32 × 30)cm.
Xác định 04 chữ cái được làm bằng chất liệu nhựa bị rơi ra từ tấm biển bảng chữ
nổi của văn phòng công ty của L1, do bị nhóm của D, H ném làm hỏng,
không còn giá trị sử dụng, cấp sơ thẩm tuyên tịch thu, tiêu hủy là phù hợp.
Đối với 04 vỏ chai thủy tinh nhãn hiệu “Sai Gon”, loại 450ml; 04 vỏ chai
thủy tinh nhãn hiệu “Beer Lao”, loại 330ml 02 vỏ két đựng chai bia màu đỏ
là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng cấp sơ thẩm tuyên tịch thu, tiêu
hủy là phù hợp.
[11]. Từ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận
kháng cáo của bị hại, giữ nguyên Bản án sơ thẩm nên đề nghị của Đại diện Viện
kiểm sát tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa có căn cứ cần được chấp nhận.
[12]. Do kháng cáo của bị hại không được chấp nhận nên bị hại phải chịu
án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình
sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Công ty TNHH H4.
Giữ nguyên Bản án hình sự thẩm số 94/2026/HS-ST ngày 07 tháng 4
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vc 8 - Phú Th.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quang D, Văn H phạm tội “Cố ý làm
hư hỏng tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ
luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang D 09 (Chín) tháng tù. Thời gian
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời
hạn đã tạm giam bị cáo từ ngày 10/10/2025 đến ngày 21/01/2026.
13
Áp dụng: Khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản
1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Văn H 08 (Tám) tháng
cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 năm 04 tháng. Thời hạn thử thách
tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Võ Văn H cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Phú Thọ nơi bị cáo
trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được
hưởng án treo thay đổi nơi trú thì thực hiện theo qui định của Điều 92 Luật
Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án thquyết định buộc người được hưởng án
treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 của
Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 02 (Hai) chữ P màu xanh, kích thước (18 × 32)cm; 01
(Một) chữ R màu xanh, kích thước (14,5 × 10)cm; 01 (Một) chữ N màu đỏ, kích
thước (32 × 30)cm không còn giá trị sử dụng. 04 (Bốn) vỏ chai thủy tinh nhãn
hiệu “Sai Gon”, loại 450ml; 04 (Bốn) vỏ chai thủy tinh nhãn hiệu Beer Lao”,
loại 330ml và 02 (Hai) vỏ két đựng chai bia màu đỏ.
Tất cả vật chứng, tài sản nêu trên đặc điểm như biên bản giao nhận vật
chứng ngày 07 tháng 4 năm 2026 giữa Công an tỉnh P và Phòng Thi hành án dân
sự khu vực 8 – Phú Thọ.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 khoản 2 Điều 136 của Bộ luật
tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Quang D Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng
(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Công ty TNHH H4 phải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHC THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Văn Nghĩa
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 118/2026/HS-PT Bản án số 118/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 118/2026/HS-PT Bản án số 118/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất