Bản án số 115/2022/DS-PT ngày 04/07/2022 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 115/2022/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 115/2022/DS-PT ngày 04/07/2022 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 115/2022/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/07/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn kháng cáo của bà Chu Thị T2; Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị số 126/QĐKNPT-VKS-DS ngày 23/03/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đăk Lăk. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CNG HOÀ XÃ HI CHNGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐK LK Đc lp - T do - Hạnh phúc
Bản án số: 115/2022/DS-PT
Ngày 04 - 7 - 2022
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
NN DANH
NƯỚC CNG HOÀ XÃ HỘI CHNGHĨA VIỆT NAM
T ÁN NHÂN N TỈNH ĐK LK
-Thành phn Hi đng xét xử phúc thm gm có:
Thẩm pn - Chta phn tòa: Ông Nguyễn Văn Chung
Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyn Ngọc m.
2. Bà Đinh Th Tuyết.
- Thư phiên tòa: Bà Trn Ái Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tnh Đắk Lk.
- Đi din Vin kim t nhân dân tnh Đk Lk tham gia phiên tòa: Bà
Nguyn Th Hi Anh - Kim sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sthụ số: 77/2022/TLPT-DS ngày 05/5/2022 về
việc Tranh chấp quyền sdụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2021/DS-ST ngày 10/03/2022 của Tòa án
nhân dân huyện Ea H’Leo bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số: 95/2022/QĐ-PT ngày
02 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 102/2022/QĐPT-DS ngày
17/6/2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Đình Q - sinh năm 1958. Địa chỉ: Đường Đ, Tổ
dân phố A, thị trấn E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk. mặt.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Cao Thị X - sinh năm 1961. Địa
chỉ: Đường Đ, Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk. (Văn bản ủy
quyền ngày 31/3/2022), mặt.
2. Bị đơn: Ông Hoàng Đình T1 Chu Thị T2. Địa chỉ: Tổ dân phố M,
thị trấn E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk. Ông T1 vắng mặt, bà T2 có mặt.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn Hoàng Đình T1Chu Thị T2: Ông Lê
Hoàng L2- sinh năm 1969. Địa chỉ: Đường H, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk
Lăk. Văn bản ủy quyền ngày 13/6/2022, ông L2 có mặt.
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cao Thị X - sinh năm 1961.
Địa chỉ: Đường Đ, Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk. mặt.
2
4. Người làm chứng:
- Thị H ông Phạm Văn T3. Địa chỉ: Tổ dân phố M, thị trấn E,
huyện H, tỉnh Đắk Lắk. Ông T3 hiện đang chấp hành án tại Trại giam G, tỉnh Gia
Lai. Đều vắng mặt.
- Anh Phạm Vũ Hải Đ - sinh năm 1986. Địa chỉ: Tổ dân phố M, thị trấn E,
huyện H, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
- Ông Phan Văn S, bà Trần Thị Bích L. Địa chỉ: Tổ dân phố M, thị trấn E,
huyện H, tỉnh Đắk Lắk. Đều vắng mặt.
- Anh Trần Xuân L1 - sinh năm 1986. Địa chỉ: Tổ dân phố A, thtrấn E,
huyện H, tỉnh Đăk Lăk. mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn bà Chu Thị T2.
Theo Quyết định kháng nghị số 126/QĐKNPT-VKS-DS ngày 23/03/2022
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đăk Lăk.
NI DUNG VÁN:
* Tại đơn khởi kiện trong quá trình tố tụng tại phiên tòa nguyên
đơn ông Trần Đình Q; đại diện nguyên đơn, đồng thời người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị X trình bày:
Năm 1996, ông Trần Đình Q Cao Thị X đã chuyển nhượng cho ông
Hoàng Đình T1 và bà Chu Thị T2 quyền sử dụng đất diện tích 250m
2
(ngang 6m
x dài 42m) thuộc mt phần thửa đất số 150, tờ bản đồ số 16, có diện tích 2460m
2
.
Tọa lạc tại Tổ dân phố M, thị trấn E, huyện H, tỉnh Đắk Lắk được nhà nước cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0442475 cho hộ ông Trần Đình Q vào
ngày 19/11/1994, phần đất chuyển nhượng có vị trí tứ cận:
Phía Đông giáp đất ông T4 (nay là đất bà T2 V);
Phía Tây giáp đường N;
Phía Nam giáp đất ông T3, bà H (nay đã tặng cho ông Đ);
Phía Bắc giáp đất ông S1.
Tại thời điểm chuyển nhượng, ông Q đã viết 02 giấy chuyển nhượng có nội
dung như nhau (ông Q, bà X gimột bản, ông T1 T2 giữ một bản) chưa
làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Ông Q và bà X đã giao đất cho ông T1 và bà T2 quản lý sử dụng ổn định từ năm
1996. Sau khi nhận đất, ông T1 và bà T2 có dựng một nhà gỗ để ở, sau đó đã xây
dựng nhà xây cấp 4 trên đất, ông Q bà X không nhớ thời điểm xây dựng.
Đến năm 2020 giữa hai bên phát sinh tranh chấp cho đến nay, vì ông T1bà T2
có xây dựng thêm phía trước.
Hiện nay, phần diện tích đất thực tế ông T1 bà T2 đang sdụng chiều
ngang của thửa đất là 7,32m, so với phần đất đã mà ông Q và X đã chuyển
3
nhượng cho ông T1 và bà T2 chỉ có 6m chiều ngang đường N x chiều dài khoảng
42m. Do đó, ông T1 và bà T2 đã sử dụng vượt quá diện tích nhận chuyển nhượng
1,32m theo cạnh phía Tây chiều ngang đường N, nên ông Q và X yêu cầu
ông T1 bà T2 phải trả lại diện tích đất dôi 55,44m
2
(rộng 1,32m x dài
42m), tại Tổ dân phố 1, thị trấn E, huyện H , tỉnh Đắk Lắk, có vị trí tứ cận:
Phía Đông giáp đất ông T4 (nay là đất bà T2 V);
Phía Tây giáp đường N;
Phía Nam giáp đất đất ông T3 (nay đã tặng cho ông Đ);
Phía Bắc giáp phần đất 6m của ông T1 và bà T2.
* Tại đơn yêu cầu phản tố ngày 26/7/2021 trong quá trình giải quyết
vụ án, bị đơn ông Hoàng Đình T1 Chu Thị T2, người đại diện theo ủy
quyền của bị đơn ông Lê Hoàng L2 trình bày:
Ông T1 T2 không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần
Đình Q về việc buộc ông T1 T2 phải trả cho ông Q X phần diện đất
dôi dư là 55,44m
2
(rộng1,32m x dài 42m), tại Tổ dân phố M, thị trấn E, huyện H,
tỉnh Đắk Lắk.
Bởi phn đt mà ông T1 T2 nhận chuyển nhượng của ông Q và bà X
có chiều ngang 6m và chiều i hết thửa đất, có vị trí tứ cn:
Phía Đông giáp đất ông T4 (nay là đất bà T2 V);
Phía Tây giáp đường N;
Phía Nam giáp đất đất ông T3 (nay đã tặng cho ông Đ);
Phía Bắc giáp ông S1, bà H1.
Theo giấy viết tay từ năm 1998 mà ông Q và bà X đã viết, thì ông T1 và bà
T2 đã sử dụng đất đúng diện tích đã nhận chuyển nhượng của ông Q và bà X. Đã
trả đủ tiền cho ông Q và bà X theo thỏa thuận là 1,5 cây vàng 97% (tương đương
là 7.500.000 đồng), đã xây dựng nhà ở kiên cố trên đất và sử dụng đất ổn định từ
năm 1996 cho đến năm 2020 mới phát sinh tranh chấp với ông Q và bà X.
Việc phát sinh tranh chấp giữa hai bên do khi ông T1 T2 khai
thủ tục để các bên làm hợp đồng chuyển nhượng theo quy định của pháp luật, thì
ông Q và bà X đều cho rằng ông T1 và bà T2 đã sử dụng vượt quá phần diện tích
đất đã nhận chuyển nhượng của ông Q và bà X. Tuy nhiên, theo ông T1 và bà T2
thì ngoài việc nhận chuyển nhượng của ông Q X, ông T1 T2 còn nhận
chuyển nhượng của ông Phạm Văn T3 (chồng của bà Thị H) 01m chiều ngang
đường N x 54m chiều dài, giáp với đất của ông T1bà T2 nhận chuyển nhượng
của ông Q X, khi chuyển nhượng không giấy tờ gì, vì chỉ thỏa thuận
miệng với ông T3, bà H không biết và cũng đã trả tiền xong cho ông T3. Hiện tại
6m đất đã mua của ông Q, bà X và 1m mua của ông T3 đã được nhà nước đo đạc
4
tập T1 o năm 2007 thuộc thửa đất số 13, tbản đồ s20, diện tích đất 393,4m
2
.
vậy, yêu cầu khởi kiện của ông Q không đúng.
Mặt khác, năm 2020 ông Q X khởi kiện ông T1 T2 tại Tòa
đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án như nội dung tại Giấy biên
nhận ngày 19/10/2020, thì ông T1 và bà T2 đồng ý trả thêm cho ông Q và X s
tiền 100.000.000 đồng để ông Q X phải làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho ông T1 bà T2 theo quy định của pháp luật. Bà X hứa sẽ hỗ trợ chi phí
làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T1 và bà T2. Vì cuối năm 2020
ông T1 và bà T2 không thấy X nói với ông T1 và bà T2 về việc đi làm thủ tục
sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên ông T1 và bà T2 không trả tiền
cho X ông Q. Hiện nay, ông T1 T2 không đồng ý thực hiện theo giấy biên
nhận ngày 19/10/2020. Do đó, ông T1 và bà T2 có yêu cầu phản tố, yêu cầu ông Q
và bà X phải thực hiện hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy
định pháp luật, đối với diện tích đất 6m chiều ngang đường N x 54m chiều dài (vì
đã trả tiền xong cho ông Q X đối với phần đất này).
Trong quá trình giải quyết vụ án những người làm chứng trình bày:
- Ý kiến của ông Phan Văn S Trần Thị Bích L: Ông S, L được
Nhà nước cấp khoảng 1.900m
2
đất tại tổ dân phố M, thị trấn E, phần đất nàym
liền kề với phần đất của Thị H được cấp. Trong quá trình sử dụng đất thì
vào khoảng năm 2000, ông S, bà L có chuyển nhượng cho bà H một hàng cà phê
(khoảng 3m chiều ngang đường N hiện nay) để ông T3, H làm đường đi, chúng
tôi đã nhận tiền chuyển nhượng đầy đnên không tranh chấp gì đối với phần
đất này, khi chuyển nhượng chúng tôi chỉ nói miệng, không viết giấy tờ gì.
Chúng tôi không biết ông T3, H chuyển nhượng phần đất nào cho
ông T1 và bà T2 hay không, nên trong vụ án này ông S và bà L không có ý kiến,
cũng không tranh chấp với H, ông T3, bà X ông Q, ông T1 T2. Đề
nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của Vũ Thị H anh Phạm Hải Đ: Ông T3 chồng của
H, hiện ông T3 đang chấp hành án tại Trại giam thuộc tỉnh Gia Lai. H không
biết ông T3 chuyển nhượng cho ông T1, T2 phần đất diện tích khoảng
1m ngang x 54 m chiều dài tại tổ dân phố M, thị trấn E như T2 đã trình bày tại
Tòa án, còn bà H thì không chuyển nhượng đất cho ông T1 bà T2.
Bởi vì, vào năm 1993 H được nhà nước cấp 780m
2
đất, giáp với phần
đất hiện nay ông Q, X đang tranh chấp với ông T1, Thu. phần đất này
không lối đi vào phía trong nên vào khoảng trước năm 2003, vợ chồng bà H
nhận chuyển nhượng thêm của ông S, L 01 hàng phê (khoảng 1,6m chiều
ngang đường N x dài khoảng 30m) để làm đường đi.
5
Ngoài phần đất nêu trên thì vợ chồng H con trai Phạm Hải Đ
nhận chuyển nhượng thêm của ông S, bà L 4,6m chiều ngang đường N, nên diện
tích đất hiện đang sử dụng là 8,2m chiều ngang đường N.
Hiện tại ông T3bà H đã tặng cho anh Đ toàn bộ phần đất mà bà H được
cấp vào năm 1993, anh Đ đang sử dụng ổn định toàn bộ phần đất nêu trên, không
có tranh chấp với ai, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của anh Duy S1: Năm 1998 anh S1 nhận chuyển nhượng
của ông Trần Đình Q Cao Thị X một đất cạnh phía Bắc liền kề với
ông Hoàng Đình T1 và bà Chu Thị T2. Phần đất này đã làm thủ tục sang tên theo
quy định của pháp luật, nên anh S1 đã được Nhà nước cấp quyền sử dụng đất, gia
đình anh S1 đã sử dụng đất ổn định không tranh chấp với ai. Đối với việc
tranh chấp đất giữa vợ chồng ông Q và vợ chồng ông T1 thì anh S1 chỉ nghe nói
giữa hai hộ ông Q, X ông T1 T2 chuyển nhượng đất cho nhau, diện
tích đất cụ thể bao nhiêu thì anh S1 không biết chính xác, anh S1 cũng chỉ nghe
nói trước đây 01 hàng rào giữa phần đất của T2 ông T3, cho hay bán như
thế nào thì không rõ. Anh S1 không có ý kiến gì, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án
theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của anh Trần Xuân L1: Vào khoảng giữa tháng 11/2020 anh L1
vào giấy sang nhượng đất vườn đã được ban tự quản thôn 1 xác nhận vào
ngày 28/3/1998 với tư cách là người làm chứng. Mục đích anh L1 vào giấy này
để hai bên thực hiện việc sang tên quyền sử dụng đất theo quy định của pháp
luật, chứ anh L1 không chứng kiến việc các bên chuyển nhượng đất cho nhau.
tại thời điểm năm 1996, khi hai bên chuyển nhượng đất cho nhau thì anh L1 mới
10 tuổi, năm 1998 khi hai bêt viết giấy tay với nhau thì anh L1 mới 12 tuổi nên
không biết sự việc.
Tại bản án số: 18/2022/DS-ST ngày 10/03/2022 của Tòa án nhân dân
huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứo các Điều 26, 35, 91, 92, 144, 147, 157, 165, 188, 200, 202, 227
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 690, 705 của Bộ luật Dân sự năm 1995; khoản 3 Điều
155 và các Điều 500, 501, 502, 503 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ vào Điều 73 Luật Đất đai năm 1993 và các Điều 167, 179, 188 của
Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1, 2, 5 Điều 26 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án plệ phí Tòa án;
Căn cứ o điểm b.2 tiểu mục 2.3 mục 2 phần II của Nghị quyết số:
6
02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao;
Tuyên bố:
1. Chấp nhận u cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Đình Q. Buộc ông
Hoàng Đình T1 và bà Chu Thị T2 phải trả cho ông Trần Đình Q và bà Cao Thị X
số tiền 184.800.000 đồng (tương đương giá trị của 1,32m chiều ngang đường N
theo giá đất thị trường tại địa phương tại thời điểm giải quyết 140.000.000
đồng/1m). Ông Hoàng Đình T1 và bà Chu Thị T2 được quyền sử dụng phần diện
tích đất 70,9m
2
(1,32 m x 53,7m chiều dài).
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Hoàng Đình T1 và Chu Thị T2.
Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào năm 1996 giữa ông
Trần Đình Q và bà Cao Thị X đối với ông Hoàng Đình T1 và bà Chu Thị T2 vào
năm 1996 đối với phần diện tích 6m chiều ngang đường N x 53,7m chiều dài =
322,5m
2
.
Buộc ông Trần Đình Q bà Cao ThX phải tiến hành các thủ tục sang tên
theo quy định của pháp luật cho ông Hoàng Đình T1 Chu Thị T2 đối với
tổng diện tích đất là 393,4m
2
(70,9m
2
+ 322,5m
2
) thuộc thửa đất số 13, tờ bản đồ
số 20 theo trích lục bản đồ địa chính ngày 16/6/2020 của Chi nhánh n phòng
đăng đất đai huyện H thuộc một phần thửa đất thửa số 150, tbản đồ số 16, có
diện tích 2460m
2
. Tọa lạc tại Tdân phố 1, thị trấn E, huyện H, tỉnh Đắk Lắk
được Nhà Nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0442475 cho h
ông Trần Đình Q o ngày 19/11/1994, có vị trí tứ cận như sau:
Phía Đông giáp đất bà H, ông T3 (nay đã tặng cho ông Đ);
Phía Tây giáp đường N;
Phía Nam giáp đất ông Thơ (nay là đất bà T2 V);
Phía Bắc giáp đất ông S1.
Các đương strách nhiệm đến quan Nhà nước thẩm quyền để
hoàn tất thủ tục chuyển nhượng, đăng và xin cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng 393,4 m
2
đất nói trên theo quy định của pháp luật. Do nguyên đơn bị đơn
đều lỗi dẫn đến việc các bên không thực hiện được hợp đồng theo quy định của
pháp luật, nên nguyên đơn và bị đơn, mỗi bên phải chịu ½ các chi pphát sinh
từ việc thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của
pháp luật.
Trong trường hợp các đương sự không hợp tác với nhau để hoàn tất thủ tục
chuyển nhượng, đăng và xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần
diện tích 393,4m
2
đất theo quy định của pháp luật, thì bị đơn được quyền đơn
phương hoàn tất thủ tục chuyển nhượng, đăng xin cấp giấy chứng nhận
7
quyền sử dụng đối với phần diện tích đất 393,4m
2
nói trên theo quy định của pháp
luật, khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, a án cấp thẩm n tuyên v chi p tố tụng, án p và quyn
kháng o cho c đương stheo quy định của pháp luật.
Ny 21/03/2022, bị đơn bà Chu Thị T2 kháng cáo một phần nội dung của
bản án số 18/2022/DS-ST ngày 10/03/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ea
H’Leo, tỉnh Đắk Lắk về nội dung buộc gia đình bà phải trả cho ông Q phần giá
trị diện tích; 1,32m x 42m = 55,44m
2
. đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét
lại để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà.
Theo Quyết định kháng nghị số 126/QĐKNPT-VKS-DS ngày 23/03/2022
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đăk Lăk. Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đăk Lăk đề nghị Tòa án
cấp phúc thẩm sửa Bản án số 18/2022/DS-ST ngày 10 tháng 03 năm 2022 của Toà
án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đăk Lăk theo hướng bác toàn bộ nội dung
đơn kháng cáo của nguyên đơn.
Tại phiên a, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Cao Thị X
vẫn giữ nguyên nội dung đơn khi kiện, bị đơn Chu Thị T2 vẫn giữ nguyên nội
dung đơn kng o.
Tại phn a, đại diện Viện kiểm t nhân n tỉnh Đk Lắk vẫn giữ nguyên
Quyết định kháng nghị số 126/KNPT-VKS-DS ngày 23/03/2022 ca Vin trưởng
Viện kiểm t nn n huyn Ea H’Leo, tỉnh Đăk k phát biểu quan đim:
Vt tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, thẩm phán, Hội đồng xét
x, c đương sđã chấp hành đúng quy đnh ca B lut t tụng dân s.
Vnội dung:
i liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ vụ án thể hiện: Ngày
28/3/1998, ông Trần Đình Q viết Giấy sang nhượng đất vườnnội dung: Chuyển
nhượng cho ông Hoàng Đình T1 01 lô đất vườn 6m x 42m = 250m
2
, có xác nhận
của Ban tự quản thôn 01 ông Đức M. Tại thời điểm chuyển nhượng ông Q
lập 02 giấy sang nhượng viết tay nội dung như nhau, hai bên chưa lập hợp đồng
công chứng, chứng thực theo quy định. Ông Q, X đã giao đất cho ông T1, T2
quản lý sử dụng ổn định từ năm 1996 đến năm 2020 thì xảy ra tranh chấp khi các
bên thực hiện việc sang tên, ông Q cho rằng ông T1, T2 sử dụng dư so với diện
tích đất chuyển nhượng 1,32m chiều ngang mặt đường.
Căn cứ theo biên bản thẩm định tài sản của Tòa án trích lục bản đồ địa
chính xác định: Thửa đất số 13, tờ bản đồ số 20, diện tích 383,4m
2
cạnh chiều
ngang giáp mặt đường là 7,32m, 1,32m so với diện tích chuyển nhượng trong
hợp đồng giữac bên. Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, bị đơn ông T1, bà T2
8
cho rằng diện tích dư là do o năm 2003 có nhận chuyển nhượng của ông Phạm
n T3 - chủ đất liền kề thêm 1m ngang mặt đường. Khi chuyển nhượng các bên
không lập giấy tờ chứng minh. Tại biên bản ghi lời khai tại Trại tạm giam G ngày
10/2/2022 thì ông phạm Văn T3 trình bày: Ông T3 có chuyển nhượng cho ông T1
T2 01m đất chiều ngang với giá 500.000 đồng, hai bên chỉ i miệng và
không có chứng cứ về việc chuyển nhượng. Nguồn gốc đất chuyển nhượng là ông
T3 mua của ông S, bà L 09 hàng cà phê và khai hoang thêm 1000m
2
. Ông S, bà L
cũng thừa nhận việc có chuyển nhượng 09 hàng cà phê cho ông T3. Như vậy, lời
trình bày của ông T1, T2 phù hợp với lời trình bày của ông T3.
Sau khi ông Q, ông T1 T2 lập hợp đồng chuyển nhượng (viết tay), ông
Q giao đất cho ông T1, bà T2 quản lý sử dụng từ năm 1996 đến nay. Tại biên bản
phiên tòa thẩm, nguyên đơn thừa nhận ông Q người bàn giao đất trên thực tế.
Đến năm 2012, ông T1, bà T2 xây nhà kiên cố trên đất. Năm 2020 ông Q mới có
đơn khởi kiện đối với diện tích 1.32m chiều ngang mặt đường về phái giáp với đất
của ông Đ. Ông Q cũng xác định: Ông chuyển nhượng đất cho ông S1 từ ranh giới
cuối cùng của thửa đất 150, giáp ông S2 và không chừa lại mét đất nào.
Như vậy, Sau khic bên lập hợp đồng chuyển nhượng, ông Q đã tiến hành
giao đất cho ông T1, bà T2 trên thực địa vàc bên không tranh chấp về mốc giới
sử dụng. Mặc khác, tại biên bản xác minh ngày 04/11/2021 tại Chi nhánh văn
phòng đăng đất đai huyện H nội dung: Qua lồng ghép bản đồ địa chính năm
1994 bằng phương pháp đo thước tỉ lệ trên bản đồ giấy thì cạnh phía Tây (mặt
đường N) của thửa đất số 150, tờ bản đồ số 16 được UBND huyện H cấp
GCNQSDĐ cho gia đình ông Q chiều dài khoảng 46m; còn theo bản đồ đo đạc
năm 2007 thì thửa đất số 150, tbản đồ số 16 được tách thành 03 thửa gồm: Thửa
số 8 diện tích 1520m
2
, chiều dài cạnh phía Tây 34,48m trên bản đồ không
thể hiện ai đăng ký. Thửa s9 diện tích 293,5m
2
cạnh phí Tây dài 6,37m do
ông Duy S1 đăng ký. Thửa đất số 13 diện tích 383,4m
2
cạnh phía Tây
dài 7,33m do ông Hoàng Đình T1 đăng ký. Như vậy, tổng chiều dài cạnh phía Tây
03 thửa đất nói trên tổng chiều dài cạnh phía Tây khoảng 48,17m; Do đó không
đủ sđkhẳng định phần diện tích 393,4m
2
của ông Hoàng Đình T1 thuộc
quyền sử dụng đất thuộc thửa 150 tờ bản đồ số 16 năm 1994.
Mặc dù các bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất không tuân thủ về hình
thức hợp đồng nhưng trên thực tế đã nhận tiền bàn giao đất cho nhau quản
sử dụng ổn định từ năm 1996 đến nay, bị đơn đã xây nhà kiên cố trên dất, không
có tranh chấp về mốc giới sử dụng nên nguyên đơn cho rằng bị đơn lấn chiếm đất
yêu cầu trả 1,32m đất chiều ngang bị đơn lấn chiếm, sdụng so với diện
tích chuyển nhượng ban đầu là không có cơ sở chấp nhận. Án sơ thẩm chấp nhận
9
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cho rằng do bị đơn đã xây nhà kiên cố nên
không thể buộc bị đơn tháo dỡ tài sản để trả đất, nên buộc ông T1 T2 trả
cho ông Q, bà X giá trị đất tranh chấp tại thời điểm hiện tại là 184.800.000 đồng
không đúng, cần sửa bản án theo hướng không chấp nhận đơn khởi kiện của
nguyên đơn về yêu cầu trả đất.
Đnghị HĐXX căn c khon 2 Điu 308, Điu 309 Bluật Ttụng dân sự:
Chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn bà Chu Thị T2.
Chấp nhn Quyết định kng ngh số 126/QĐKNPT-VKS-DS ngày 23/03/2022
của Vin trưng Viện kim sát nn n huyn Ea HLeo, tnh Đăk Lăk.
Sửa bản án thẩm số 18/2022/DSST ngày 10/3/2022 của Tòa án nhân
dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk theo hướng phân tích nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn c vào c tài liu trong hsơ ván đã được thm tra tại phiên a, căn
c vào kết quả tranh luận tại phn a tn cơ s xem xét đy đ c i liệu chứng cứ,
lời trình bày ca c đương sự, ý kiến ca Kim sát viên, XX nhận đnh:
[1] Xét kháng cáo của bị đơn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Ea H’leo:
- Quá trình giải quyết ván, nguyên đơn bị đơn đều thừa nhận vào năm
1996, nguyên đơn ông Trần Đình Q chuyển nhượng cho bị đơn ông Hoàng
Đình T1, Chu Thị T2 một thửa đất chiều rộng 6m, chiều dài hết đất, thuộc
thửa đất số 150, tờ bản đsố 16, diện tích 2460m
2
theo Giấy chứng nhận Q sử
dụng đất số D0442475 do UBND huyện H cấp ngày 19/11/1994, có tứ cận:
Phía Đông giáp đất bà H, ông T3 (nay là ông Đ);
Phía Tây giáp đường N;
Phía Bắc giáp đất ông S1;
Phía Nam giáp đất ông Thơ (nay là đất bà T2 V).
Sau đó, hai bên cùng lập “Giấy sang nhượng đất vườn” với nội dung
chuyển nhượng đất diện tích 250m
2
, chiều rộng 6m, chiều dài 42m được
Ban tự quản Thôn M, K xác nhận ngày 28/3/1998. Hai bên đã giao đất
nhận tiền đầy đủ. Ông Q đã cắm mốc bàn giao đất trên thực địa cho ông T1
Thu. Bị đơn ông Hoàng Đình T1, bà Chu Thị T2 sử dụng làm nhà tnăm
1996, đến năm 2012 thì xây nhà cấp 4, năm 2020 thì nâng cấp thành nhà ở kiên
cố. Hiện trạng sdụng đất của nguyên đơn bị đơn ổn định từ đó đến nay,
không tranh chấp với ai.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày rằng sau khi chuyển
nhượng cho ông T1 T2, năm 1998, ông Q X tiếp tục chuyển nhượng đất
cho ông S1 thửa đất tiếp giáp đất đã chuyển nhượng cho ông T1 T2, chiều
10
rộng 6m, chiều dài 50m. Ranh giới đất giữa ông T1 bà T2 với ông S1 là ổn định,
không tranh chấp.
Đến năm 2013, khi tiến hành đo đạc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho ông S1 thì nguyên đơn phát hiện thửa đất của ông T1 T2 chiều rộng
7,32m, lớn hơn 1,32m so với diện tích trước đây các bên chuyển nhượng cho
nhau.
[1.2] Tại Biên bản xem xét, thẩm định tài sản tại chỗ ngày 04/6/2021 của
Tòa án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk (BL 50-51) thể hiện: Diện tích
đất tranh chấp vị trí: Phía Đông giáp đất còn lại của ông T1 cạnh dài 1,32m;
Phía Tây giáp đường N cạnh dài 1,32m; Phía Nam giáp đất ông Đ cạnh dài 42m;
phía Bắc giáp đất còn lại của ông T1 cạnh dài 42m. Như vậy, diện tích các bên
tranh chấp nằm ở vị trí giáp đất của ông Đ (trước đây là đất ông T3 bà H), không
phải phía giáp đất ông S1.
[1.3] Tại Biên bản xác minh ngày 04/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện
Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk (BL 108-109) thể hiện: Qua lồng ghép bản đồ địa chính
năm 1994 (bản đgiấy) bằng phương pháp đo thước tỉ lệ trên bản đồ giấy thì
cạnh phía Tây của thửa đất số 150, tờ bản đồ số 16 chiều dài khoảng 46m.
Còn theo bản đồ đo đạc năm 2007 thì thửa đất số 150, tờ bản đsố 16 năm 1994,
hiện nay được tách khoảng 03 thửa gồm: thửa đất số 8, diện tích 1520m
2
; thửa
đất số 9, diện tích 293,5m
2
do ông Lê Duy S1 đăng ký; thửa đất số 13, diện tích
393,4m
2
do ông Hoàng Đình T1 đăng ký. Tổng chiều dài cạnh phía tây của 03
thửa khoảng 48,17m. Do đó, không đủ sở đ khẳng định phần diện tích
393,4m
2
của ông Hoàng Đình T1 thuộc quyền sử dụng đất số D 0442475 thuộc
thửa đất số 150, tờ bản đồ số 16 năm 1994.
[1.4] Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 343274 do Sở Tài
nguyên Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp cho ông Phạm Hải Đ đối với thửa
đất số 17, tờ bản đồ s20, diện tích 768m
2
thể hiện thửa đất này giáp thửa đất
ông T1 T2 đang sử dụng, một phần giáp đường N chiều rộng 3,64m.
Ông Phạm Văn T3 thừa nhận ông chuyển nhượng cho ông T1 T2 1m đất
chiều ngang, chiều dài từ ngoài cổng đường lớn chạy thẳng xuống rẫy nhà ông
Nguyễn T4 T5; nguồn gốc do ông mua của ông S L 09 hàng
phê.
[2] Như vậy, tại thời điểm chuyển nhượng, các bên đã tiến hành tự đo đạc
giao đất trên thực địa, thửa đất Phía Đông giáp đất H, ông T3, không
phải giáp với phần đất còn lại của nguyên đơn. Bị đơn ông T1 T2 đã sử
dụng ổn định, không tranh chấp từ đó đến khi ông Sơn đo đạc cấp Giấy chứng
nhận quyền sdụng đất thì nguyên đơn tranh chấp với phần diện tích lớn hơn
11
trong giấy sang nhượng. Qua lồng ghép bản đồ địa chính năm 1994m 2007
thì không đủ sở để khẳng định phần diện tích 393,4m
2
của ông Hoàng Đình T1
thuộc quyền sử dụng đất số D 0442475 thuộc thửa đất số 150, tờ bản đồ số 16 năm
1994. Đồng thời, ông Phạm Văn T3 cũng thừa nhận đã chuyển nhượng cho ông
T1 T2 1m đất chiều ngang. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho rằng
bị đơn lấn chiếm 1,32m chiều ngang đấtkhông có cơ sở để chấp nhận.
Tòa án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không
sở. Do đó, HĐXX xét thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị đơn một
phần Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo.
[3] Về chi phí tố tụng: Tòa án cấp thẩm xác định mỗi bên phải chịu ½
chi phí thẩm định và định gtài sản phù hợp. Được trừ vào stiền nguyên đơn
đã nộp tạm ứng 2.000.000 đồng, nên cần buộc bị đơn phải hoàn trả cho nguyên
đơn 1.000.000 đồng chi phí thẩm định và định giá tài sản.
[4] Về án phí dân sự thẩm: Do bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự thẩm. Tuy nhiên, nguyên đơn ông Trần
Đình Q là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn Chu Thị T2 ông Hoàng Đình T1 không phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm. Được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm
Chu Thị T2 đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk
Lắk, theo biên lai số: AA/2017/0000350, ngày 26/7/2021. Bị đơn còn phải nộp số
tiền 8.940.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Về án phí dân sphúc thẩm: Do đưc chấp nhn kng cáo nên Chu
Thị T2 không phi chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Chấp nhận đơn kháng cáo của bà Chu Thị T2;
Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghsố 126/QĐKNPT-VKS-DS ngày
23/03/2022 của Viện trưởng Viện kiểm t nhân n huyện Ea H’Leo, tỉnh Đăk k.
Sửa bản án dân sthm s: 18/2022/DS-ST ngày 10/03/2022 của Tòa
án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk.
[2]. Căn cứ vào các Điều 26, 35, 91, 92, 144, 147, 157, 165, 188, 200, 202,
227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 690, 705 của Bộ luật Dân sự năm 1995; khoản 3 Điều
155 và các Điều 500, 501, 502, 503 Bộ luật Dân sự 2015;
12
Căn cứ vào Điều 73 Luật Đất đai năm 1993 và các Điều 167, 179, 188 của
Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1, 2, 5 Điều 26 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sdụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào điểm b.2 tiểu mục 2.3 mục 2 phần II của Nghị quyết số:
02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao;
Tuyên bố:
1. Bác u cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Đình Q về việc buộc ông
Hoàng Đình T1 và bà Chu Thị T2 phải trả cho ông Trần Đình Q và bà Cao Thị X
diện tích đất dôi 55,44m
2
(rộng 1,32m x dài 42m), tại Tổ dân phố M, thị trấn
E, huyện H, tỉnh Đắk Lắk.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Hoàng Đình T1 và Chu Thị T2.
Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào năm 1996 giữa ông
Trần Đình Q và bà Cao Thị X đối với ông Hoàng Đình T1 và bà Chu Thị T2 vào
năm 1996 đối với phần diện tích 6m chiều ngang đường N x 53,7m chiều dài =
322,5m
2
.
Buộc ông Trần Đình Q bà Cao ThX phải tiến hành các thủ tục sang tên
theo quy định của pháp luật cho ông Hoàng Đình T1 Chu Thị T2 đối với
tổng diện tích đất là 393,4m
2
(70,9m
2
+ 322,5m
2
) thuộc thửa đất số 13, tờ bản đồ
số 20 theo trích lục bản đồ địa chính ngày 16/6/2020 của Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai huyện H thuộc một phần thửa đất thửa số 150, tbản đồ số 16, có
diện tích 2460m
2
. Tọa lạc tại Tổ dân phố M, thtrấn E, huyện H, tỉnh Đắk Lắk
được Nhà Nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0442475 cho h
ông Trần Đình Q o ngày 19/11/1994, có vị trí tứ cận như sau:
Phía Đông giáp đất bà H, ông T3 (nay đã tặng cho ông Đ);
Phía Tây giáp đường N;
Phía Nam giáp đất ông Thơ (nay là đất bà T2 V);
Phía Bắc giáp đất ông S1.
Các đương strách nhiệm đến quan Nhà nước thẩm quyền để
hoàn tất thủ tục chuyển nhượng, đăng và xin cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng 393,4 m
2
đất nói trên theo quy định của pháp luật. Do nguyên đơn và bị đơn
đều lỗi dẫn đến việc các bên không thực hiện được hợp đồng theo quy định của
pháp luật, nên nguyên đơn và bị đơn, mỗi bên phải chịu ½ các chi pphát sinh
từ việc thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của
pháp luật.
13
Trong trường hợp các đương sự không hợp tác với nhau đhoàn tất thủ tục
chuyển nhượng, đăng và xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần
diện tích 393,4m
2
đất theo quy định của pháp luật, thì bị đơn được quyền đơn
phương hoàn tất thủ tục chuyển nhượng, đăng xin cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đối với phần diện tích đất 393,4m
2
nói trên theo quy định của pháp
luật, khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[3]. Về chi p tố tụng: Chi phí xemt thẩm định tại chỗ định giái sản
tranh chấp là 2.000.000 đồng (Do ông Q đã nộp tại Tòa án chi pxong).
Ông Trần Đình Q phải chịu 1.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại
chỗ, được trừ vào số tiền tạm ứng mà ông Q đã nộp.
Ông Hoàng Đình T1 Chu Thị T2 phải chịu 1.000.000 đồng chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ. Do ông Trần Đình Q đã nộp tạm ứng 2.000.000 đồng,
nên ông Hoàng Đình T1 bà Chu Thị T2 phải hoàn trả số tiền 1.000.000 đồng
cho ông Trần Đình Q.
[4]. Về án phí:
[4.1]. Về án phí DSST:
Nguyên đơn ông Trần Đình Q được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn ông Hoàng Đình T1 và bà Chu Thị T2 được nhận lại 300.000 đồng
tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm do bà Chu Thị T2 đã nộp tại Chi cục thi hành
án dân sự huyện H, tỉnh Đắk Lắk, theo biên lai số: AA/2017/0000350, ngày
26/7/2021.
[4.2].Về án phí DSPT:
Chu Thị T2 không phải chịu án phí DSPT. Được nhận lại số tiền 300.000
đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0010945 ngày
01/4/2022 tại Chi cục thi hành án huyện H, tỉnh Đăk Lăk.
Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDCC Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND huyện Ea H’Leo;
- Chi cục THADS huyện H;
- Đương sự;
- Cổng thông tin điện tử TA;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Văn Chung
Tải về
Bản án số 115/2022/DS-PT Bản án số 115/2022/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất