Bản án số 112/2026/HS-ST ngày 17/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 112/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 112/2026/HS-ST ngày 17/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình
Số hiệu: 112/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Đào Thị L và ĐF phạm tội mua bán trái phép chất ma túy....
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 112/2026/HS-ST Bản án số 112/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10- NINH BÌNH
Bản án số: 112/2026/HS-ST
Ngày: 17 - 8 - 2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- NINH BÌNH
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Văn Chỉnh
Ông Tống Thái Dương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hồng Chuyên- Thư ký viên Toà án nhân dân
khu vực 10 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10- Ninh Bình tham gia phiên
tòa: Ông Ngô Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 102/2026/TLST-HS ngày
10 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2026/QĐXXST-
HS ngày 05 tháng 8 năm 2026, đối với các bị cáo:
1. Đào Thị L, sinh năm 1975 tại xã G, tỉnh Ninh Bình; căn cước số: [đã mã
hóa]; nơi cư trú: xóm L, xã G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình
độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Đào Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị N (đã chết); có chồng Cao
Văn C và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 13-01-2026, chuyển
tạm giam ngày 22-01-2026 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3,
Công an tỉnh Ninh Bình; "có mặt".
2. Cao Văn Đ, sinh năm 1986 tại xã G1, tỉnh Ninh Bình; căn cước số: [đã mã
hóa]; nơi cư trú: thôn P, xã G1, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình
độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Cao Văn H và bà Mai Thị N; có vợ Trần Thị H và 02 con; tiền án,
tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24-8-2020 bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy,
tỉnh Nam Định xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy",
đã chấp hành xong và được xóa án tích; bị tạm giữ từ ngày 13-01-2026, chuyển tạm
giam ngày 22-01-2026 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3, Công
an tỉnh Ninh Bình; "có mặt".
2
3. Hoàng Văn T, sinh năm 1981 tại xã G2, tỉnh Ninh Bình; căn cước số: [đã
mã hóa]; nơi cư trú: thôn Q, xã G2, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do;
trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch:
Việt Nam; con ông Hoàng Văn V (đã chết) và bà Phạm Thị M; có vợ Vũ Thị C và
02 con;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 17-12-2015 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh
Nam Định xử phạt 29 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 31-12-
2015 bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 14 tháng tù về
tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt buộc chấp hành 43 tháng tù; chấp hành xong
ngày 30-9-2018. Ngày 05-02-2021 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh
Nam Định xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 19-4-
2022. Ngày 29-3-2023 bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt
09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 30-9-2023 (đã được xóa
án tích);
Bị tạm giữ từ ngày 13-01-2026, chuyển tạm giam ngày 22-01-2026 đến nay;
hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3, Công an tỉnh Ninh Bình; "có mặt".
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Cao Thị Hằng N, sinh năm
1999; nơi cư trú: Thôn P, xã G1, tỉnh Ninh Bình; "vắng mặt".
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Hoàng Văn T và Cao Văn Đ là bạn bè, đều là người sử dụng trái phép chất ma
túy. Khoảng 18 giờ ngày 12-01-2026, T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Masstel,
gắn sim số 034xxxxxxx gọi đến số điện thoại 093xxxxxxx của Đ, nhờ Đ mua hộ
4.000.000 đồng ma túy loại Heroine để sử dụng và hứa trả cho Đ 300.000 đồng tiền
công. Đ đồng ý, hẹn T đến khu vực gần Trường trung học phổ thông B thuộc xã G3,
tỉnh Ninh Bình để đưa tiền.
Khoảng 15 phút sau, T đến địa điểm đã hẹn, đưa cho Đ tổng số tiền 4.300.000
đồng, gồm 4.000.000 đồng tiền mua ma túy và 300.000 đồng tiền công. Đ nhận tiền,
bảo T chờ, sau đó sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đen, gắn sim
số 093xxxxxxx gọi đến số điện thoại 097xxxxxx1 của Đào Thị L hỏi mua 4.000.000
đồng Heroine. L đồng ý bán.
Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ - đen, biển kiểm soát
18B1-xxx.xx đến đoạn đường dong thuộc xóm L, xã G, tỉnh Ninh Bình gặp L. Tại
đây, Đ đưa cho L 4.000.000 đồng; L nhận tiền rồi đưa lại cho Đ 01 gói nhỏ, bên ngoài
gói bằng nilon màu đen, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Đ biết đó là
Heroine, nhận gói ma túy rồi điều khiển xe quay lại chỗ T đang chờ và giao toàn bộ
gói ma túy cho T. T mang gói ma túy về nhà, chia thành 05 phần, gói lại trong 05 gói
giấy màu trắng có dòng kẻ ngang và chữ viết, cất giấu trong túi quần đang mặc để sử
3
dụng dần. Phần ma túy vụn còn lại sau khi chia, T đã sử dụng hết bằng hình thức
chích.
Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 13-01-2026, khi T đang đi bộ tại đường dong thuộc
thôn Q, xã G2, tỉnh Ninh Bình thì Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về
ma túy Công an tỉnh Ninh Bình phát hiện T có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm
tra. Quá trình kiểm tra, Tổ công tác phát hiện trong túi quần T đang mặc có 05 gói
giấy màu trắng có dòng kẻ ngang và chữ viết, bên trong đều chứa chất bột dạng cục
màu trắng. T khai nhận đó là Heroine đã nhờ Cao Văn Đ mua hộ tối ngày 12-01-2026
với giá 4.000.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác lập biên bản bắt người
phạm tội quả tang, niêm phong 05 gói chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì ký
hiệu M1; đồng thời thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen gắn sim
số 091xxxxxxx và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel gắn sim số 034xxxxxxx.
Về vật chứng thu giữ:
- Đối với Hoàng Văn T: Ngoài 05 gói chất bột dạng cục màu trắng được niêm
phong ký hiệu M1 và 02 điện thoại di động nêu trên, Cơ quan điều tra còn thu giữ
mẫu nước tiểu của T trong chai nhựa, niêm phong ký hiệu N1.
- Đối với Cao Văn Đ: Thu giữ 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất
bột dạng cục màu trắng; Đ khai là Heroine cất giấu để sử dụng cho bản thân, được
niêm phong ký hiệu M2; số tiền 300.000 đồng là tiền công mua ma túy hộ Hoàng Văn
T; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 18B1-xxx.xx;
01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đen, gắn 02 sim số 093xxxxxxx và
038xxxxxxx; mẫu nước tiểu của Đ trong chai nhựa, niêm phong ký hiệu N2.
- Đối với Đào Thị L: Thu giữ trên người L 01 gói giấy màu trắng loại giấy ăn,
bên trong gồm 01 gói nilon màu hồng có 01 gói giấy màu trắng dòng kẻ ngang chứa
chất bột dạng cục màu trắng và 01 gói nilon màu trắng có 01 gói giấy màu trắng chứa
chất bột dạng cục màu trắng; L khai đều là Heroine cất giấu để bán kiếm lời, được
niêm phong ký hiệu M3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, gắn 02 sim số
097xxxxxx2 và 097xxxxxx1; mẫu nước tiểu của L trong chai nhựa, niêm phong ký
hiệu N3.
Tại nơi ở của Đào Thị L, Cơ quan điều tra thu giữ 01 túi xách màu đen, bên
trong có: 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 7 x 11 cm, trên bề mặt ghi chữ “5
trăm”, bên trong có 05 gói nilon màu đỏ và 01 gói nilon màu trắng, mỗi gói đều có 01
gói nhỏ bằng giấy màu trắng chứa chất bột dạng cục màu trắng; 01 túi nilon màu trắng
kích thước khoảng 7 x 11 cm, trên bề mặt ghi chữ “1 Triệu”, bên trong có 04 gói nilon
màu đỏ và 02 gói nilon màu xanh, mỗi gói đều có 01 gói nhỏ bằng giấy màu trắng
chứa chất bột dạng cục màu trắng; 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 7 x 11
cm, trên bề mặt ghi chữ “2 Triệu”, bên trong có 02 gói nilon màu đen và 01 gói nilon
màu trắng, mỗi gói đều có 01 gói nhỏ bằng giấy màu trắng chứa chất bột dạng cục
màu trắng. Toàn bộ các gói nhỏ nêu trên được niêm phong trong phong bì ký hiệu K.
Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 ví da màu đen trắng có chữ “OLAY”, bên
trong có số tiền 30.000.000 đồng.
4
Tại Kết luận giám định số 684/KL-KTHS ngày 20-01-2026 của Phòng Kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong 05 gói
giấy màu trắng được niêm phong ký hiệu M1 có tổng khối lượng 0,256 gam, là ma
túy loại Heroine.
Tại Kết luận giám định số 685/KL-KTHS ngày 19-01-2026 của Phòng Kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng có khối lượng
0,197 gam được niêm phong ký hiệu M2; chất bột dạng cục màu trắng có tổng khối
lượng 3,931 gam được niêm phong ký hiệu M3; chất bột dạng cục màu trắng có tổng
khối lượng 10,807 gam được niêm phong ký hiệu K đều là ma túy loại Heroine.
Tại Kết luận giám định số 686/KL-KTHS ngày 19-01-2026 của Phòng Kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Có tìm thấy Morphine và Codeine trong các
mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu N1 và N2; không tìm thấy thành phần các
chất ma túy thường gặp hoặc sản phẩm chuyển hóa của các chất ma túy thường gặp
trong mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu N3.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Đ khai số Heroine có khối lượng 0,197 gam
là phần còn lại sau khi Đ mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ vào
ngày 11-01-2026 tại khu vực cổng làng D, xã G1, tỉnh Ninh Bình để sử dụng. L khai
số Heroine bị thu giữ là số ma túy L mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi,
địa chỉ vào ngày 12-01-2026 tại khu vực ngã tư cầu D, xã G2, tỉnh Ninh Bình, mang
về chia nhỏ, cất giấu nhằm bán lại kiếm lời.
Cáo trạng số 64/CT-VKSNBH-KV ngày 08-7-2026 của Viện kiểm sát nhân
dân khu vực 10 - Ninh Bình đã truy tố: Bị cáo Đào Thị L về tội "Mua bán trái phép
chất ma túy" theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ
sung các năm 2017 và 2025; bị cáo Cao Văn Đ về các tội "Mua bán trái phép chất ma
túy" theo khoản 1 Điều 251 và "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1
Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung các năm 2017 và 2025; bị cáo
Hoàng Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249
Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung các năm 2017 và 2025.
Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi đã nêu;
không có ý kiến về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình tại phiên tòa giữ
nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Đào Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo
Cao Văn Đ phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép
chất ma túy”; bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm i khoản 2, khoản 6 Điều 251; điểm s
khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung các năm
2017 và 2025, xử phạt bị cáo Đào Thị L từ 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù, phạt bổ
sung từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Áp dụng khoản 1, khoản 6 Điều 251;
điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung các
năm 2017 và 2025, xử phạt bị cáo Cao Văn Đ từ 03 năm 09 tháng đến 04 năm tù về
5
tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000
đồng; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật
Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung các năm 2017 và 2025, xử phạt bị cáo Đ từ 03
năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tổng
hợp hình phạt chung của hai tội từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Áp dụng điểm c
khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa
đổi bổ sung các năm 2017 và 2025, xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 03 năm 06 tháng
đến 03 năm 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.
Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự
năm 2015, sửa đổi bổ sung các năm 2017 và 2025 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình
sự, tịch thu tiêu hủy 02 túi niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định và 01 túi
xách màu đen; tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu
Masstel của Hoàng Văn T, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đen của
Cao Văn Đ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung của Đào Thị L và số tiền
300.000 đồng thu giữ của Cao Văn Đ; truy thu của bị cáo Đào Thị L 4.000.000 đồng
là tiền bán ma túy để sung ngân sách Nhà nước. Trả lại chị Cao Thị Hằng N 01 xe
mô tô BKS 18B1-xxx.xx; trả lại bị cáo Hoàng Văn T 01 điện thoại di động nhãn
hiệu Oppo màu đen; trả lại bị cáo Đào Thị L 01 ví da và số tiền 30.000.000 đồng.
Các bị cáo không tự bào chữa, tranh luận. Trong lời nói sau cùng các bị cáo
đều tỏ rõ sự ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện
kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng
thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng,
các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực
hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
[2.1] Tại phiên tòa, các bị cáo Đào Thị L, Cao Văn Đ và Hoàng Văn T đều
khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với
biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, kết luận giám định và các
tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ
căn cứ xác định: Ngày 12-01-2026, Hoàng Văn T đưa cho Cao Văn Đ 4.300.000
đồng, trong đó 4.000.000 đồng để mua Heroine sử dụng và 300.000 đồng tiền công.
Đ liên hệ, mua của Đào Thị L 0,256 gam Heroine rồi giao cho T. T chia thành 05
gói cất giữ để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Ngoài ra, Đ còn cất giữ 0,197
gam Heroine để sử dụng; L cất giấu 14,738 gam Heroine nhằm bán kiếm lời. Tổng
khối lượng Heroine L phải chịu trách nhiệm hình sự là 14,994 gam.
6
[2.2] Điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định trường hợp “Heroine,
Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine hoặc MDMA có khối lượng từ 05 gam
đến dưới 30 gam” thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Đào Thị L đã bán và cất giấu
nhằm bán tổng cộng 14,994 gam Heroine, nên hành vi của bị cáo phạm tội “Mua
bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251
Bộ luật Hình sự.
[2.3] Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định người mua bán trái phép
chất ma túy thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. Cao Văn Đ nhận tiền, trực tiếp liên
hệ mua 0,256 gam Heroine của L rồi giao cho T và được trả 300.000 đồng tiền công
nên phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình
sự. Ngoài ra, Đ cất giữ 0,197 gam Heroine để sử dụng, thuộc trường hợp tàng trữ
Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam quy định tại điểm c khoản 1
Điều 249 Bộ luật Hình sự nên còn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2.4] Hoàng Văn T cất giữ 0,256 gam Heroine nhằm sử dụng cho bản thân,
thuộc trường hợp tàng trữ Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam nên
phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật
Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy
hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy,
gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù có
thời hạn theo Điều 38 Bộ luật Hình sự, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian
để giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đ
và bị cáo T từng bị kết án nhưng đã được xóa án tích. Các bị cáo không có tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản
1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về quyết định hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân
thân và các tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù đối với từng
bị cáo trong khung hình phạt tương ứng. Riêng bị cáo Cao Văn Đ phạm hai tội nên
sau khi quyết định hình phạt đối với từng tội, cần áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự
để tổng hợp hình phạt chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Đào Thị L và Cao Văn Đ thực hiện hành
vi mua bán trái phép chất ma túy nhằm thu lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là
phạt tiền. Đối với Hoàng Văn T, xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập và tài
sản ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[7] Về xử lý vật chứng:
[7.1] Số ma túy còn lại sau giám định được hoàn trả trong 02 túi niêm phong
là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 túi xách thu
giữ tại nơi ở của Đào Thị L, bị cáo sử dụng để cất giấu Heroine nhằm bán kiếm lời,
không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
7
[7.2] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel của Hoàng Văn T, 01
điện thoại di động của Cao Văn Đ và 01 điện thoại di động của Đào Thị L, các bị
cáo đã sử dụng để liên lạc thực hiện việc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung ngân
sách Nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen thu giữ của
Hoàng Văn T, không có căn cứ xác định liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại
cho bị cáo.
[7.3] Đối với xe mô tô biển kiểm soát 18B1-xxx.xx, Cao Văn Đ sử dụng làm
phương tiện đi mua ma túy, nhưng xe thuộc sở hữu của chị Cao Thị Hằng N; chị N
không biết Đ sử dụng xe vào việc phạm tội nên cần trả lại cho chị N.
[7.4] Đối với số tiền 300.000 đồng thu giữ của Cao Văn Đ là tiền công Hoàng
Văn T trả cho Đ để mua ma túy, là tiền do phạm tội mà có nên tịch thu sung ngân
sách Nhà nước.
[7.5] Đối với số tiền 4.000.000 đồng Đào Thị L thu được từ việc bán Heroine
cho Cao Văn Đ là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Khấu trừ số tiền này trong số 30.000.000 đồng đang thu giữ của bị cáo L; trả lại bị
cáo số tiền còn lại 26.000.000 đồng và 01 ví da do không liên quan đến hành vi phạm
tội.
[8] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Cao Văn Đ ngày 11-01-2026 và
người đàn ông bán ma túy cho Đào Thị L ngày 12-01-2026, các bị cáo không biết
tên, tuổi, địa chỉ, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, xử lý nên Hội đồng
xét xử không xem xét.
[9] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hoàng Văn T và Cao
Văn Đ, cơ quan có thẩm quyền đã xem xét, xử lý theo quy định nên Hội đồng xét xử
không đặt ra giải quyết.
[10] Về án phí: Các bị cáo Đào Thị L, Cao Văn Đ và Hoàng Văn T bị kết án
nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật
Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội.
[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 2, khoản 6 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều
38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung các năm 2017 và 2025; tuyên bố bị
cáo Đào Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Đào Thị L
10 (Mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13-01-2026; phạt bổ sung bị cáo Đào Thị
L 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
2. Căn cứ khoản 1, khoản 6 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ
luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung các năm 2017 và 2025; tuyên bố bị cáo Cao
Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Cao Văn Đ 03
8
(Ba) năm 09 (Chín) tháng tù; phạt bổ sung bị cáo Cao Văn Đ 5.000.000 đồng (Năm
triệu đồng).
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật
Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung các năm 2017 và 2025; tuyên bố bị cáo Cao Văn
Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Cao Văn Đ 03 (Ba) năm
03 (Ba) tháng tù.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung các năm 2017 và
2025, tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Cao Văn Đ phải chấp hành hình
phạt chung là 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13-01-2026.
3. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật
Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung các năm 2017 và 2025; tuyên bố bị cáo Hoàng
Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 03
(Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13-01-2026.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ
sung các năm 2017 và 2025; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 02 túi niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định của Phòng
Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình và 01 túi xách màu đen.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, gắn sim
số 034xxxxxxx thu giữ của Hoàng Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo,
gắn 02 sim số 093xxxxxxx và 038xxxxxxx thu giữ của Cao Văn Đ; 01 điện thoại di
động nhãn hiệu Samsung, gắn 02 sim số 097xxxxxx2 và 097xxxxxx1 thu giữ của
Đào Thị L.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) trong số tiền
30.000.000 đồng thu giữ của bị cáo Đào Thị L; trả lại cho bị cáo Đào Thị L số tiền
còn lại 26.000.000 đồng (Hai mươi sáu triệu đồng) và 01 ví da. (Số tiền 30.000.000
đồng đã nêu hiện được gửi tại tài khoản số 39490904400700000 tại Kho bạc Nhà
nước khu vực V).
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) thu giữ của
Cao Văn Đ, được bảo quản trong gói niêm phong theo Biên bản bàn giao ngày 07-
4-2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình và Phòng Giao dịch
số 4 - Kho bạc Nhà nước khu vực V.
Trả lại cho chị Cao Thị Hằng N 01 xe mô tô biển kiểm soát 18B1-xxx.xx.
Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, gắn
sim số 091xxxxxxx.
(Chi tiết vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng và tài liệu, đồ vật số
219/PNK ngày 03-4-2026 của Phòng Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư
pháp).
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; buộc
9
Đào Thị L, Cao Văn Đ và Hoàng Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí
hình sự sơ thẩm.
6. Về kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
7. Về thi hành án dân sự: Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy
định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các bị cáo;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- VKSND khu vực 10 - Ninh Bình;
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- TAND tỉnh Ninh Bình
- Cơ quan Cảnh sát điều tra CA tỉnh Ninh Bình;
- Trại tạm giam số 3, CA tỉnh Ninh Bình;
- Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Ngọc Duyên
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 112/2026/HS-ST Bản án số 112/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất