Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 15/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 11/2025/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 15/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng |
| Số hiệu: | 11/2025/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 15/08/2025 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chị Võ Thị T yêu cầu được ly hôn với anh NGuyễn Như H, tranh chấp nuôi con |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST
Ngày 15-8-2025.
“V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Nhi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Châu và ông Lê Khải.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Bun, cán bộ Tòa
án nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng tham gia
phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thùy Dung- Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 9 –
Lâm Đồng tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và
gia đình thụ lý số 73/2025/TLST – HNGĐ, ngày 19 tháng 6 năm 2025, về việc
“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 05/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 31/7/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị T, sinh năm 1989 – Có mặt.
Địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông (nay Thôn P, xã Q, tỉnh
Lâm Đồng).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Như H, sinh năm 1985 – Có mặt.
Địa chỉ: Thôn Phú T, xã Quảng P, huyện K, tỉnh Đắk Nông (nay Thôn P,
xã Q, tỉnh Lâm Đồng).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề 18/6/2025 quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà
nguyên đơn bà Võ Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị T và ông Nguyễn Như H kết hôn trên
tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Q, tỉnh Lâm
Đồng (xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông) vào năm 2009. Ông bà chung sống hạnh
phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan
điểm sống, không có sự quan tâm, chia sẻ, thấu hiểu. Mặc dù ông bà còn chung
sống cùng một nhà nhưng việc ai nấy làm, không quan tâm hỏi han nhau, không

2
tìm cách hàn gắn tình cảm, xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy
bà T yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Như H.
- Về yêu cầu nuôi con chung: Bà T và ông H có 02 con chung là Nguyễn
Võ Bảo T, sinh ngày 17/9/2010 và Nguyễn Võ Bảo D, sinh ngày 15/6/2019. Bà
T có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con chung Nguyễn Võ Bảo D, sinh ngày 15/6/2019 đến tuổi trưởng thành, bà T
không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Giao con chung Nguyễn Võ Bảo T, sinh
ngày 17/9/2010 cho ông Nguyễn Như H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
- Về yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn ông Nguyễn Như H trình
bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông H công nhận mối quan hệ hôn nhân của ông H
và bà T đúng như lời trình bày của bà T. Ông bà chung sống hạnh phúc đến gần
cuối năm 2024 thì ông H phát hiện bà T có quan hệ yêu đương với người khác,
ông H nhiều lần khuyên bảo, nhắc nhở nhưng bà T không thay đổi, hiện nay
vẫn tiếp tục duy trì. Xét thấy quan hệ hôn nhân của ông H và bà T không có khả
năng hàn gắn vì vậy ông H đồng ý ly hôn với bà T.
- Về yêu cầu nuôi con chung: Ông H có nguyện vọng được trực tiếp trông
nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Nguyễn Võ Bảo T, sinh
ngày 17/9/2010 và Nguyễn Võ Bảo D, sinh ngày 15/6/2019 đến tuổi trưởng
thành. Ông H không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
- Về yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung: Ông H không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng phát biểu ý kiến
về việc tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự và việc giải quyết vụ án:
Về tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ
lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn; Bị đơn
chấp hành tốt quá trình tham gia tố tụng.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên xử bà Võ Thị T được ly hôn ông Nguyễn
Như H
Về yêu cầu nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Võ Bảo T, sinh ngày
17/9/2010 cho ông Nguyễn Như H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục đến tuổi trưởng thành; Giao con chung Nguyễn Võ Bảo D, sinh ngày
15/6/2019 cho bà Võ Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục đến tuổi trưởng thành.

3
Về cấp dưỡng nuôi con: bà T và ông H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con
nên không xem xét giải quyết.
Tài sản chung, nợ chung: bà T và ông H không yêu cầu giải quyết nên
không xem xét.
Về án phí: Buộc bà Võ Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn
theo quy định của pháp luật.
Các chứng cứ tài liệu gồm: bản chính giấy chứng nhận kết hôn; bản sao
giấy khai sinh của con chung Nguyễn Võ Bảo T, Nguyễn Võ Bảo D; biên bản
ghi nhận ý kiến của con chung Nguyễn Võ Bảo T; bản sao giấy chứng nhận
Quyền sử dụng đất số CL 920220, số CL 920221, số CL 920222 đều mang tên
ông Nguyễn Như H và bà Võ Thị T; bản sao giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh
doanh mang tên Nguyễn Như H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả
thẩm tra công khai các tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Võ Thị T
khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, yêu cầu nuôi con chung khi ly hôn
nên quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn
ông Nguyễn Như H trú tại Thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông (nay thôn P,
xã Q, tỉnh Lâm Đồng). Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk
Nông (nay là Toà án nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng) thụ lý, giải quyết đúng
thẩm quyền và đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35;
điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn bản
chính số 01/2008, Quyển số 07, đăng ký kết hôn ngày 07/5/2009 tại Uỷ ban
nhân dân xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông (nay Ủy ban nhân dân Q, tỉnh Lâm
Đồng) thì hôn nhân giữa bà Võ Thị T và ông Nguyễn Như H là hôn nhân hợp
pháp quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Theo trình bày của bà T và ông H, cũng như kết quả xác minh tình trạng
hôn nhân của bà T và ông H thể hiện trong cuộc sống vợ chồng ông H và bà T
có mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, ông H cho rằng bà T có tình cảm yêu
đương người khác đã được ông H khuyên nhủ nhiều lần không nghe. Hội đồng
xét xử xét thấy, vợ chồng chung sống để có được hạnh phúc gia đình phải dựa
trên sự yêu thương, tôn trọng, phải chung sống với nhau để cùng nhau quan
tâm, chăm sóc lẫn nhau, phải có sự hòa hợp, chia sẻ với nhau mọi vấn đề trong
cuộc sống. Do bất đồng quan điểm sống, ông bà không tìm được tiếng nói
chung, không có sự chia sẻ, quan tâm, thấu hiểu, yêu thương, tin tưởng nhau
nên cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Mặc dù ông H và bà T còn chung
sống với nhau trong một nhà nhưng không ai quan tâm ai, mạnh ai người đó
sống khiến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, xa cách, bà T cương quyết
4
ly hôn, ông H đồng ý ly hôn với bà T. Điều này cho thấy hôn nhân giữa bà T và
ông H không thể hàn gắn được, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể
kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử cần ghi nhận
sự tự nguyện thuận tình ly hôn của bà T và ông H là phù hợp với quy định tại Điều
55 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2]. Về yêu cầu con chung: Quá trình giải quyết vụ án bà T và ông H
không thỏa thuận được với nhau về vấn đề nuôi con chung. Bà T có nguyện
vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung
Nguyễn Võ Bảo D, sinh ngày 15/6/2019 đến tuổi trưởng thành, bà T không yêu
cầu cấp dưỡng nuôi con. Giao con chung Nguyễn Võ Bảo T, sinh ngày
17/9/2010 cho ông Nguyễn Như H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục đến tuổi trưởng thành. Tuy nhiên ông H không đồng ý mà có nguyện
vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung đến
tuổi trưởng thành.
Về tài liệu chứng cứ, chứng minh: Ông H và bà T đều cung cấp cho Tòa án
03 bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 920220, số CL 920221 và
số CL 920222 mang tên ông Nguyễn Như H và bà Nguyễn Thị T, bản sao giấy
chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh mang tên Nguyễn Như H để chứng minh
điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Ông H cho rằng bà T ngoại tình nên không có tư cách nuôi con. Xét thấy,
các con chung của ông H, bà T chưa thành niên, cần người trực tiếp trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Cháu Nguyễn Võ Bảo
D, sinh ngày 15/6/2019 còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Đây là quyền
cũng là nghĩa vụ trách nhiệm của người bố, người mẹ không phụ thuộc vào việc
bố mẹ có tài sản gì để nuôi con hay không, bà T cũng không thuộc trường hợp
phải hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên, vì vậy việc giao
con chung cho ông H và bà T mỗi người nuôi dưỡng một cháu là phù hợp với
điều kiện, hoàn cảnh của cả hai người, phù hợp với nguyện vọng của cháu
Nguyễn Võ Bảo T tại biên bản ghi nhận ý kiến của con chưa thành niên thì cháu
Nguyễn Võ Bảo T, sinh ngày 17/9/2010 có nguyện vọng được ở với ông H.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình thì “2. Vợ, chồng
thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền mỗi bên sau khi ly hôn
đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con
cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ
đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con...”.
Từ những căn cứ nêu trên, áp dụng Điều 58; 81; 82; 83 và 84 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử cần giao con chung Nguyễn Võ
Bảo T, sinh ngày 17/9/2010 cho ông Nguyễn Như H trực tiếp trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Giao con chung
Nguyễn Võ Bảo D, sinh ngày 15/6/2019 cho bà Võ Thị T trực tiếp trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T, ông H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi
con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5
Sau khi ly hôn ông H, bà T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con
chung không ai được ngăn cản. Trong trường hợp các đương sự lạm dụng việc
thăm nom để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục con thì có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.
Hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp
dưỡng nuôi con chung khi cần thiết.
[2.3]. Về yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu
cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm
Đồng là có cơ sở nên cần chấp nhận.
[4] Về án phí: Bà Võ Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo
khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 55; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị T.
a. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị T được ly hôn ông Nguyễn Như H.
b. Về yêu cầu nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Võ Bảo T, sinh
ngày 17/9/2010 cho ông Nguyễn Như H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Giao con chung Nguyễn Võ
Bảo D, sinh ngày 15/6/2019 cho bà Võ Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Bà Võ Thị T và ông
Nguyễn Như H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn bà Võ Thị T và ông Nguyễn Như H có các quyền, nghĩa vụ
sau:
- Quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chưa
thành niên theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình.
- Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con theo quy định tại
Điều 82 Luật hôn nhân gia đình.
- Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực
tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
6
- Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật
hôn nhân gia đình.
- Quyền yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại
Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình.
c. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
2. Về án phí: Bà Võ Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)
án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm
ứng án phí theo biên lai số 0008366, ngày 18/6/2025 tại Chi cục Thi hành án
dân sự huyện K (Nay là phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 – Lâm Đồng).
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn có mặt có quyền kháng cáo
bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì
người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành
án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu yêu cầu thi
hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm
2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014”.
Nơi nhận :
- TAND tỉnh Lâm Đồng;
- VKSND khu vực 9 (02 bản);
- Phòng THADS khu vực 9;
- UBND xã Q, tỉnh Lâm Đồng;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Thị Nhi
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm