Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 20/01/2025 của TAND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 11/2025/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 20/01/2025 của TAND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Mỹ Tú (TAND tỉnh Sóc Trăng) |
Số hiệu: | 11/2025/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 20/01/2025 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN MỸ TÚ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH SÓC TRĂNG
Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20-01-2025
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Duy Tân.
Ông Lê Hoàng Điệt.
- Thư ký phiên Tòa: Bà Trương Thị Anh Thư là thư ký Tòa án nhân
huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa: Bà
Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ
Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 240/2024/TLST-
HNGĐ, ngày 04 tháng 10 năm 2024 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 245/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng
12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lý Thị Thuý H;
Địa chỉ: Số 308/7/11 đường Trần Hưng Đạo, khóm T, Phường N, thành
phố S, tỉnh Sóc Trăng.(vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Lý Chấn N;
Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30 tháng 8 năm 2024 cũng như trong quá trình
giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lý Thị Thuý H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị Thuý H có tổ chức lễ cưới vào năm 2022
và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 10, thành phố Sóc Trăng,
tỉnh Sóc Trăng vào ngày 26 tháng 12 năm 2022 theo Giấy chứng kết hôn số
46/2022. Chị Hvà anh Nxác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không
2
ai ép buộc, anh chị tìm hiểu nhau một thời gian thì đi đến hôn nhận. Sau khi kết
hôn thì chị Hvà anh Nsống tại ấp Phú Tức, xã Phú Mỹ, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc
Trăng. Thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống với nhau rất vui vẻ và hạnh
phúc nhưng đến tháng 02 năm 2023 thì chị Hvà anh Nphát sinh nhiều mâu
thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính tình không
hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Từ khi xảy ra mâu thuẫn chị Hvà anh
Nđã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được. Chị Hnhận thấy
vợ chồng không hàn gắn được nên đã sống ly thân, khi sống ly thân từ tháng 02
năm 2023 đến nay thì anh chị không thường xuyên liên lạc cũng như không gặp
mặt nhau. Nay chị Hnhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên chị
Hyêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với anh Lý Chấn N.
Về con chung: Chị Lý Thị Thuý H tự khai trong thời gian chung sống, chị
H và anh N có 01 (một) người con chung tên Lý Gia H (nam, sinh ngày
23/8/2022), hiện nay cháu Huy đang sống với chị Hân. Sau khi ly hôn chị Hyêu
cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lý Gia H (nam, sinh ngày
23/8/2022) cho đến khi cháu Huy đủ 18 (mười tám) tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lý Thị Thuý H không yêu cầu anh Lý Chấn
N cấp dưỡng nuôi cháu Lý Gia H(nam, sinh ngày 23/8/2022) vì hiện nay chị Hcó
khả năng, điều kiện nuôi dưỡng cháu Huy.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lý Thị Thuý H tự khai không có,
không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đối với bị đơn anh Lý Chấn N: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội dung
đơn khởi kiện và các yêu cầu của nguyên đơn chị Lý Thị Thuý H tại Thông báo
thụ lý vụ án số: 416/TB-TLVA, ngày 04 tháng 10 năm 2024 và đã tống đạt hợp
lệ cho bị đơn anh Lý Chấn N, cũng như đã triệu tập hợp lệ anh Nđến dự phiên
họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần
nhưng anh Nđều không đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và hòa giải. Sau đó Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh Nnhưng anh
Nkhông gửi văn bản ghi ý kiến của anh Nđối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của
chị Lý Thị Thuý H.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú,
tỉnh Sóc Trăng trình bày ý kiến như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân
công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ
pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự,
việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được
đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu,
3
việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã
thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn chị Lý Thị Thuý H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn chị Lý Thị Thuý H vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt); Bị
đơn anh Lý Chấn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng cả hai lần đều
vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228
của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn: Tòa án nhân dân
huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng nhận được đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn chị Lý Thị Thuý H cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn chị Lý
Thị Thuý H nộp trực tiếp tại Tòa án. Ngay sau khi nhận được đơn khởi kiện và
các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án thực hiện thủ tục nhận, xử lý đơn khởi
kiện của nguyên đơn chị Lý Thị Thuý H và thụ lý vụ án đúng quy định tại Điều
191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lý Thị Thuý H yêu
cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa nguyên đơn chị Lý Thị
Thuý H và bị đơn anh Lý Chấn N, có nơi cư trú tại ấp Phú Tức, xã Phú Mỹ,
huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35
và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét
xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải
quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền
giải quyết vụ án.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị Thuý H và anh Lý Chấn N xác lập
quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đủ điều kiện
kết hôn. Do đó việc chị Lý Thị Thuý H và anh Lý Chấn N tiến đến hôn nhân và
được Ủy ban nhân dân Phường 10, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng cấp
Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 26 tháng 12 năm 2022 là hoàn toàn đúng
theo đúng quy định pháp luật cho nên được pháp luật công nhận đây là hôn
nhân hợp pháp và cần giải quyết hậu quả phát sinh từ cuộc hôn nhân này.
Trong quá trình chung sống theo chị Htrình bày do vợ chồng bất đồng quan
điểm sống, tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã và không
tìm được tiếng nói chung trong đời sống hôn nhân. Chị Hvà anh Nđã sống ly
thân từ tháng 02 năm 2023 đến nay, khi xảy ra mâu thuẫn chị Hđã nhiều lần hàn
gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được và vợ chồng tiếp tục xảy ra mâu
thuẫn. Hiện nay chị Hvà anh Nkhông còn chung sống với nhau như vợ chồng,
4
anh chị đều có công việc và cuộc sống riêng không ai quan tâm, chăm sóc cho
ai. Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết vụ án chị Hvẫn
cương quyết xin ly hôn với anh Lý Chấn N.
Hội đồng xét xử xét thấy theo quy định tại Khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014 “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn
trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công
việc trong gia đình”. Đối chiếu với quan hệ hôn nhân giữa chị Hvà anh Nthì
hiện nay, chị Hvà anh Nsống ly thân, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Do đó,
Hội đồng xét xử thấy rằng thực trạng mâu thuẫn giữa chị Hvà anh Nđã đến mức
trầm trọng, hiện nay anh chị không còn sống chung với nhau như vợ chồng, anh
chị không còn thương yêu và chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo
dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản
1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu
cầu của chị Lý Thị Thuý H.
[5] Về con chung: Xét yêu cầu của chị Lý Thị Thuý H yêu cầu được tiếp
tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lý Gia H(nam, sinh ngày 23/8/2022) cho
đến khi cháu Huy đủ 18 (mười tám) tuổi. Hội đồng xét xử thấy, khoản 2 Điều 81
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về
người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với
con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một
bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07
tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Nhận thấy, từ khi chị Hvà
anh Nsống ly thân cho đến nay thì cháu Huy đều do chị Htrực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng về tâm lý phát triển bình thường, được đi học đầy đủ.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng nhằm để đảm bảo sự
phát triển lành mạnh về thể chất, ổn định cuộc sống cũng như tâm sinh lý của
cháu Lý Gia Hnên việc giao cháu Huy cho chị Lý Thị Thuý H trực tiếp nuôi
dưỡng là phù hợp. Do đó, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn
nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Lý Gia H(nam,
sinh ngày 23/8/2022) cho chị Lý Thị Thuý H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho
đến khi cháu Huy đủ 18 (mười tám) tuổi. Anh Lý Chấn N được quyền thăm nom
con chung, không ai được cản trở anh Nthực hiện quyền này, theo quy định tại
Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình
năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng
nuôi con”. Đáng lẽ ra, anh Lý Chấn N là người không trực tiếp nuôi con thì phải
có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án chị
Hcho rằng hiện nay chị Hcó công việc làm ổn định, thu nhập hằng tháng của chị
Hđảm bảo nên chị Hcó khả năng, điều kiện để nuôi dưỡng các con chung nên
chị Htự nguyện không yêu cầu anh Ncấp dưỡng nuôi cháu Lý Gia H(nam, sinh
5
ngày 23/8/2022).
[7] Về tài sản chung: Chị Lý Thị Thuý H tự khai không có, nên Hội đồng
xét xử không đặt ra để xem xét.
[8] Về nợ chung: Chị Lý Thị Thuý H tự khai không có, nên Hội đồng xét
xử không đặt ra để xem xét.
[9] Xét đề nghị của Kiểm sát viên như đã nhận định nêu trên là có căn cứ
nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về án phí: Nguyên đơn chị Lý Thị Thuý H phải chịu 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4 Điều 147
của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4
Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều
273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia
đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024
hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về
hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lý Thị Thuý H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị Thuý H được ly hôn với anh Lý Chấn
N.
2. Về con chung:
2.1 Giao con chung tên Lý Gia H(nam, sinh ngày 23/8/2022) cho chị Lý
Thị Thuý H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Lý Gia H(nam, sinh ngày
23/8/2022) đủ 18 (mười tám) tuổi.
2.2 Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lý Thị Thuý H tự khai có khả năng, điều
kiện nuôi dưỡng cháu Lý Gia Htự nguyện không yêu cầu anh Lý Chấn N cấp
dưỡng nuôi cháu Lý Gia Hnên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
6
2.3 Sau khi ly hôn, anh Lý Chấn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con
chung tên Lý Gia H (nam, sinh ngày 23/8/2022), chị Lý Thị Thuý H cùng các
thành viên trong gia đình không được cản trở. Anh Lý Chấn N không được lạm
dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định tại Điều 82
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
3. Về tài sản chung: Chị Lý Thị Thuý H tự khai không có nên Hội đồng xét
xử không đặt ra xem xét.
4. Về nợ chung: Chị Lý Thị Thuý H tự khai không có nên Hội đồng xét xử
không đặt ra xem xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Lý Thị Thuý H phải chịu
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ
vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp
tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng theo Biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006494 ngày 04 tháng 10 năm 2024, chị Lý
Thị Thuý H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
5. Nguyên đơn; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai
để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện
kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người
phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành
án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự.
Nơi nhận
- Các đương sự;
- VKSND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng;
- Chi cục THADS huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng;
- TAND tỉnh Sóc Trăng (Phòng KTNV&THA);
- UBND Phường 10, thành phố Sóc Trăng, tỉnh
Sóc Trăng;
- Lưu hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thu Hồng
7
8
9
10
11
12
13
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Bản án số 04/2025/HNGĐ-PT ngày 13/03/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm