Bản án số 106/2026/HS-ST ngày 21/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 106/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 106/2026/HS-ST ngày 21/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 106/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: BA Số 106, ngày 21/8/2026
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 106/2026/HS-ST Bản án số 106/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 106/2026/HS-ST Bản án số 106/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP
Bản án số: 106/2026/HS-ST
Ngày 21 – 8 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Trí Viễn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Hùng Em;
Ông Nguyễn Hữu Lê .
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Hửu Có, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11
- Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Đồng Tháp tham gia
phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng
Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 144/2026/TLST-HS
ngày 05/8/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2026/QĐXXST-
HS ngày 07/8/2026, đối với bị cáo:
Lâm Vương L, sinh năm 1993; nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: tổ A,
ấp M, xã M, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 03/12;
dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Lâm Hoàng Ú, sinh năm 1976 (chết) và bà Nguyễn Út M, sinh năm 1974; có vợ;
tiền án, tiền sự, nhân thân: không; tạm giữ, tạm giam: không, có mặt.
- Bị hại: Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1991, địa chỉ: ấp A, xã P, tỉnh Đồng
Tháp, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Thị Hoàng P, sinh năm
1996, địa chỉ: ấp M, xã M, tỉnh Đồng Tháp, có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng: Lê Thị V, sinh năm
1987, địa chỉ: ấp A, xã P, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 03 giờ ngày 07/4/2026, bị cáo Lâm Vương L điều khiển xe mô
tô biển số 66F1-670.11 từ nhà tại ấp M, xã M đi đến ấp B, xã P để vác lúa thuê.
2
Khi đến nơi, do mệt trong người nên bị cáo điều khiển xe về nhà. Trên đường
về, L nảy sinh ý định tìm tài sản cướp giật để bán lấy tiền tiêu xài. Khi điều
khiển xe đến quán ăn của chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1991, ngụ ấp A, xã
P, thấy điện thoại chị H đang để trên bàn bán thức ăn sáng nên bị cáo L dừng xe
đậu sát bàn, ngồi trên xe giả vờ mua 02 hộp cơm. Khi chị H đưa 02 hộp cơm thì
L nhanh chóng dùng tay phải giật lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO
Reno 14, màu hồng của chị H, rồi tăng ga tẩu thoát về hướng xã P, chị H truy hô
và đuổi theo được 01 đoạn thì bị vấp té nên không đuổi kịp. Sau đó, đến Công
an xã P trình báo sự việc.
Sau khi tiếp nhận vụ việc, Công an xã P tiến hành truy xét theo các dấu vết.
Đến khoảng 20 giờ ngày 08/4/2026, mời Lâm Vương L về làm việc, tại Cơ quan
điều tra, L thừa nhận hành vi phạm tội và tự nguyện giao nộp lại điện thoại đã
cướp giật của chị H.
- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 463/KL-HĐĐGTS ngày 29/4/2026
của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự xã P, kết luận:
01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 14, màu hồng; 01 sim Vietel giá trị:
6.163.334 đồng.
- Bản Cáo trạng số: 145/CT-VKSKV11, ngày 09/8/2026 của Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 11, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố Lâm Vương L phạm tội “Cướp
giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa,
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2
Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo L: 03 - 04 năm tù, không áp dụng
hình phạt bổ sung.
+ Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo khoác vải dù, màu xám; 01 áo
khoác vải thun màu đen; 01 áo thun dài tay, màu xanh; 01 quần thể dục vải thun
màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu trắng.
- Lời nói sau cùng của bị cáo, thừa nhận hành vi và thống nhất tội danh đã
truy tố, xin xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên;
Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng
về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi,
3
quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các
hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng
như nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Xét lời nhận tội của bị cáo đã phù hợp lời khai cùng các chứng cứ khác có
trong hồ sơ vụ án.
Điều 171 của Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào cướp giật tài sản
của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03
năm đến 10 năm:
…
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến
100.000.000 đồng”.
Như vậy, ngày 07/4/2026, tại ấp A, xã P, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo L lợi dụng
sở hở của chị H trong lúc mua bán cơm, nhanh chóng giật lấy điện thoại, rồi tẩu
thoát, nên đủ cơ sở kết luận bị cáo L đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy
định tại Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo sử dụng xe mô tô là thủ đoạn nguy
hiểm để thực hiện chiếm đoạt tài sản trị giá 6.163.334 đồng, nên cần áp dụng
điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo.
Hành vi của bị cáo là hết sức nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quan hệ
sở hữu, gây thiệt hại đến tài sản của người khác, gây hoang mang dư luận và làm
mất trật tự trị an địa phương một cách nghiêm trọng.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Không
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại
xin giảm nhẹ hình phạt, gia đình khó khăn. Do đó, cần áp dụng điểm s khoản 1,
khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, để xem xét giảm trách nhiệm hình sự cho
bị cáo.
[5] Từ hành vi và hậu quả trên, nghĩ nên buộc bị cáo chịu hình phạt bằng
cách cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo được cải tạo,
học tập, suy ngẫm lại hành vi của mình, trở thành một công dân tốt. Có như thế
mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và cũng nhằm răn đe, giáo dục,
phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình
sự quy định, thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy
4
nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho
thấy bị cáo làm thuê, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế còn khó
khăn, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt
tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không
xem xét giải quyết.
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Hình sự để
xem xét, xử lý như sau:
+ Các vật chứng đã được trả, tại phiên toà không phát sinh tranh chấp, nên
Hội đồng xét xử không xử lý.
+ Đối với 01 áo khoác vải dù, màu xám; 01 áo khoác vải thun màu đen; 01
áo thun dài tay, màu xanh; 01 quần thể dục vải thun màu đen; 01 mũ bảo hiểm
màu trắng, là tài sản cá nhân của bị cáo, nên cần giao trả.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Đồng
Tháp tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.
[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng
Hình sự và áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí Tòa án, để buộc bị cáo L chịu
200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2
Điều 51 của Bộ luật Hình sự (đã được sửa đổi, bổ sung).
Tuyên bố: Bị cáo Lâm Vương L phạm tội "Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lâm Vương L: 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình
sự (đã được sửa đổi, bổ sung).
+ Trả lại cho bị cáo Lâm Vương L: 01 áo khoác vải dù màu xám; 01 áo
khoác vải thun màu đen, có mũ trùm đầu; 01 áo thun tay dài màu xanh, phía
trước bên trái và phía sau lưng có in dòng chữ “CỬA HÀNG VẬT TƯ NÔNG
NGHIỆP BA THÀNH ĐC: ẤP MỸ TÂY, MỸ QUÍ, H.THÁP MƯỜI, ĐT
0989.379.360; 01 quần thể dục dài bằng vải thun màu đen, hai bên ống quần có
viền màu xanh; 01 mũ bảo hiểm màu trắng có in chữ “TT” màu đỏ.
(Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đang quản lý).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng
Hình sự; Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
5
Bị cáo Lâm Vương L nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên toà
thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đồng Tháp;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- VKSND KV 11 – Đồng Tháp;
- Công an tỉnh Đồng Tháp;
- Cơ quan THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Bị cáo
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Trí Viễn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 106/2026/HS-ST Bản án số 106/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 106/2026/HS-ST Bản án số 106/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất