Bản án số 105/2026/HS-ST ngày 21/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 105/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 105/2026/HS-ST ngày 21/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 105/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: BA số 105, ngày 21/8/2026
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 105/2026/HS-ST Bản án số 105/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 105/2026/HS-ST Bản án số 105/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – ĐỒNG THÁP
Bản án số: 105/2026/HS-ST
Ngày 21 - 8 -2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Trí Viễn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Hùng Em;
2. Ông Nguyễn Hữu Lê .
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Hửu Có, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11
- Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Đồng Tháp tham gia
phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2026, tại Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 140/2026/TLST-HS ngày
30/7/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2026/QĐXXST-HS
ngày 07/8/2026, đối với bị cáo:
Nguyễn Tô P, sinh năm 2000 tại Đồng Tháp; cư trú: tổ A, khóm H,
phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (nay là khóm T, phường C, tỉnh Đồng
Tháp); Nghề nghiệp: tài xế; Trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn
N, sinh năm 1978 và bà Tô Thị H, sinh năm 1976; Tiền án, tiền sự, nhân thân:
không; Tạm giữ: không, tạm giam: 10/5/2026 tại Phân trại tạm giam T, Công an
tỉnh Đ, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Thụy V, sinh năm
1984, địa chỉ: khóm A, phường M, tỉnh Đồng Tháp (nay là khu phố M, phường
M, tỉnh Đồng Tháp), vắng mặt; Nguyễn An Đ, sinh năm 2001, địa chỉ: khóm H,
phường C, tỉnh Đồng Tháp (nay là khu phố H, phường C, tỉnh Đồng Tháp),
vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng: Nguyễn Hồng B, sinh
năm 1952, địa chỉ: ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 22 giờ 20 phút, ngày 25/11/2022, lực lượng Công an tuần tra đến
đoạn đường nông thôn thuộc ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp thì phát hiện 02 xe mô
tô do 02 đối tượng nam thanh niên điều khiển có chở các bao và túi nylon, nghi
vấn là thuốc lá điều nhập lậu, nên ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra, các đối tượng
không chấp hành, điều khiển xe bỏ chạy đến khu vực trước cửa nhà của ông
Nguyễn Hồng B bỏ xe và tẩu thoát.
Lực lượng công an tiến hành kiểm tra và tạm giữ: 01 xe mô tô biển số
66B1- 774.47, loại xe Exciter, màu đỏ đen, trên xe có chở 01 bao tải và 04 túi
nylon màu đen, bên trong có 950 bao thuốc lá hiệu JET, 490 bao thuốc lá hiệu
HERO; 01 xe mô tô biển số 66F1-962.78, loại xe Exciter, màu xanh trắng, trên
xe có chở 02 bao tải và 02 túi nylon màu đen, bên trong có 1.460 thuốc lá hiệu
JET.
Tiếp tục kiểm tra xung quanh hiện trường, lực lượng còn phát hiện: Trước
sân nhà của ông Nguyễn Hồng B có 01 xe ô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe
CITY, biển số 66A-078.83 bên trong cốp xe có chứa 2.490 bao thuốc lá, gồm:
1.490 bao hiệu JET, 500 bao hiệu SCOTT, 500 bao hiệu HERO; Phía sau nhà có
02 bao nylon bên trong chứa 850 bao thuốc lá gồm: 450 bao hiệu SCOTT, 400
bao hiệu HERO.
* Kết quả điều tra đã chứng minh được như sau: Do cần tiền tiêu xài cá
nhân nên Nguyễn Tô P được một người tên C (không rõ họ, tên, địa chỉ) thuê
vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu để lấy tiền công.
Đến khoảng 14 giờ ngày 25/11/2022, người tên C gọi điện thoại thuê P vận
chuyển thuốc lá điếu nhập lậu đi giao ở tỉnh Vĩnh Long với tiền công 500.000
đồng, P đồng ý. Sau đó, P liên hệ với bạn là Nguyễn An Đ, nhờ thuê giúp một
xe ô tô tự lái. Đ đồng ý và thuê xe ô tô biển số 66A-078.83 của bà Nguyễn Thị
Thụy V với giá 500.000 đồng. Sau khi nhận xe, P điều khiển đến khu vực thuộc
ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp, tự đậu trước sân nhà của ông Nguyễn Hồng B, đến
khoảng 22 giờ cùng ngày, có hai người đàn ông điều khiển hai xe mô tô (không
rõ biển kiểm soát, nhân thân, lai lịch) đến giao cho P 2.490 bao thuốc lá, P cất
toàn bộ số thuốc lá này vào cốp sau xe ô tô. Đến khoảng 22 giờ 20 phút cùng
ngày, khi chuẩn bị điều khiển xe ô tô rời khỏi hiện trường thì lực lượng công an
đến kiểm tra, nên P bỏ xe, nhảy xuống sông tẩu thoát, rồi bỏ trốn khỏi địa
phương. Đến ngày 08/5/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ truy
tìm được Nguyễn Tô P.
- Tài liệu, đồ vật thu giữ và xử lý gồm:
+ 01 xe ô tô biển số 66A-078.87, nhãn hiệu HONDA, số loại CITY 1.5V,
màu sơn trắng, xe đã qua sử dụng. Xe ô tô này do bà Nguyễn Thị Thùy V1 đứng
3
tên trong Giấy chứng nhận đăng ký xe. Trong giai đoạn điều tra đã trao trả xe ô
tô cho bà Nguyễn Thị Thùy V1 xong.
+ 01 xe mô tô biển số 66B1- 774.47, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Exciter,
màu sơn đỏ đen, số máy 1S9A019476, số khung RLCE1S9A0BY019472. Kết
luận giám định: Số khung, số máy trước và sau giám định không thay đổi. Kết
quả tra cứu chủ xe mô tô này là Phan Minh D, sinh ngày 14/4/2004, địa chỉ ấp
B, xã B, tỉnh Đồng Tháp. Trong suốt quá trình điều tra cho đến nay, Phan Minh
D không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm
người, nhưng không có kết quả.
+ 01 xe mô tô biển số 66F1-962.78, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Exciter,
màu sơn trắng xanh, số máy 1S9A006869, số khung RLCE1S9A0BY006870.
Kết luận giám định: Số khung, số máy trước và sau giám định không thay đổi.
Kết quả tra cứu chủ xe mô tô này là Nguyễn Hữu K, sinh ngày 09/10/1989, địa
chỉ ấp C, xã P, tỉnh Đồng Tháp. Trong suốt quá trình điều tra cho đến nay,
Nguyễn Hữu K không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định
truy tìm người, nhưng không có kết quả.
+ 6.240 bao thuốc lá điếu nhập lậu, gồm: 3.900 bao nhãn hiệu JET, 1.390
bao nhãn hiệu HERO, 950 bao nhãn hiệu SCOTT. Trong đó: thu giữ 2.490 bao
thuốc lá điếu nhập lậu thu trên xe ô tô biển số 66A-078.87; thu giữ 1.440 bao
trên xe mô tô biển số 66B1-774.47; thu giữ 1.460 bao trên xe mô tô biển số
66F1-962.78 và 850 bao phát hiện phía sau nhà ông Nguyễn Hồng B.
- Công văn số 118/CVTĐ-2026, ngày 27/5/2026 của H2, xác nhận: 2.490
bao thuốc lá điếu có các nhãn hiệu: Jet (1.490 bao); Scott (500 bao) và H1 (500
bao) là thuốc lá điếu nhập lậu.
- Bản Cáo trạng số: 144/CT-VKSKV11 ngày 29/7/2026 của Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 11, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố: Nguyễn Tô P về tội “Vận
chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên
tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 191, Điều 38, các điểm i, s khoản 1 Điều 51
Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Tô P: 01 năm – 01 năm 06 tháng tù. Không áp
dụng hình phạt bổ sung.
+ Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 2.490 bao thuốc lá (nhãn hiệu:
Jet (1.490 bao); Scott (500 bao) và H1 (500 bao).
- Ngoài số thuốc lá do Nguyễn Tô P trực tiếp tiếp nhận và quản lý, lực
lượng Công an còn thu giữ 1.440 bao thuốc lá điếu nhập lậu trên xe mô tô biển
kiểm soát 66B1-774.47; 1.460 bao thuốc lá điếu nhập lậu trên xe mô tô biển
kiểm soát 66F1-962.78 và 850 bao thuốc lá điếu nhập lậu phát hiện phía sau nhà
ông Nguyễn Hồng B. Số lượng thuốc lá điếu nhập lậu này phát hiện tại từng vị
4
trí riêng biệt, đều chưa đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều
191 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra chưa có căn cứ xác định số thuốc lá này
thuộc quyền quản lý, chiếm hữu hoặc do Nguyễn Tô P vận chuyển; chưa xác
định được chủ sở hữu hoặc người quản lý số thuốc lá nêu trên; đồng thời chưa
xác định được người điều khiển hai xe mô tô và người tên C. Vì vậy, không có
căn cứ quy kết trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Tô P về số thuốc lá này. Đề
nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, truy tìm đối tượng có liên quan, khi có
đủ căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật. Trường hợp sau khi đã áp dụng đầy
đủ các biện pháp xác minh mà vẫn không xác định được người vi phạm thì xử lý
tang vật theo quy định của pháp luật.
- Đối với ông Nguyễn Hồng B là chủ nhà nơi P đậu xe ô tô trước sân và
phát hiện thêm thuốc lá điếu nhập lậu tại khu vực phía sau nhà ông B. Tuy
nhiên, quá trình điều tra xác định từ ngày 25/11/2022 đến ngày 02/12/2022, ông
B đi đám tang tại huyện T, không có mặt tại nhà; thời điểm xảy ra vụ việc nhà
đóng cửa, không có người trông coi. Ông B khai không biết việc các đối tượng
đưa phương tiện và thuốc lá đến khu vực nhà mình, không quen biết Nguyễn Tô
P và không có quyền quản lý, chiếm hữu đối với số thuốc lá bị thu giữ. Không
có tài liệu nào chứng minh ông B biết, giúp sức, chứa chấp hoặc có sự bàn bạc,
thống nhất với các đối tượng trong việc vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu. Do
đó, không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông B.
- Lời nói sau cùng của bị cáo, thừa nhận hành vi và thống nhất tội danh đã
truy tố, xin xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện
kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về
thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình
điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết
định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi,
quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã
thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng
như nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Xét lời nhận tội của bị cáo đã phù hợp lời khai cùng các chứng cứ khác có
trong hồ sơ vụ án.
Điều 191 của Bộ luật Hình sự (đã được sửa đổi, bổ sung) quy định:
“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp
sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244,
5
246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt
tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03
năm:
...
b) Thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến 3.000 bao;
...”
Như vậy, ngày 25/11/2022, tại ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo Nguyễn
Tô P có hành vi vận chuyển thuê thuốc lá điếu nhập lậu, số lượng 2.490 bao
thuốc hiệu Jet, H1 và S. Nên đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Vận chuyển
hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản
lý kinh tế. Do đó, nên cần xử phạt bằng cách cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã
hội để được giáo dục từ bỏ con đường phạm tội, trở thành người có ích cho xã
hội và cũng nhằm răn đe cho những ai có ý thức xấu xa như bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 4 của Điều 191 Bộ luật
Hình sự quy định, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo kinh tế khó khăn. Nên Hội đồng xét xử quyết định
không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Không
[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn
năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên cần áp dụng
các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, để xem xét giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự cho bị cáo.
[7] Xử lý vật chứng:
- Vật chứng đã trả trong quá trình điều tra, tại phiên toà không tranh chấp,
nên Hội đồng xét xử không xử lý.
- 2.490 bao thuốc lá hiệu Jet, H1 và S, là hàng cấm, nên cần tịch thu tiêu
huỷ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Đối với 02 xe mô tô biển số 66B1- 774.47, 66F1-962.78 và 3.750 bao
thuốc lá hiệu Jet, H1, S, là vật không liên quan đến vụ án, nên tiếp tục giao Cơ
quan điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Đồng
Tháp tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.
[9] Về án phí trong vụ án hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135,
khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án, để buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
6
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 191; Điều 38; các điểm i, s khoản 1
Điều 51 của Bộ luật Hình sự (đã được sửa đổi, bổ sung).
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tô P phạm tội "Vận chuyển hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tô P: 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 10/5/2026).
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng
Hình sự (đã được sửa đổi, bổ sung).
+ Tịch thu tiêu huỷ: 2.490 bao thuốc lá điếu nhập lậu, gồm: 1.490 bao nhãn
hiệu Jet, 500 bao nhãn hiệu Hero, 500 bao nhãn hiệu Scott.
+ Tiếp tục giao: 01 xe mô tô biển số 66B1- 774.47, loại xe Exciter, màu đỏ
đen; 01 xe mô tô biển số 66F1-962.78, loại xe Exciter, màu xanh trắng và 3.750
bao thuốc lá hiệu Jet, H1, S cho Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Đ để xác minh,
xử lý theo quy định.
(Các vật chứng hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đang quản
lý).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng
Hình sự; Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Tô P nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà
thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đồng Tháp;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- VKSND KV 11 – Đồng Tháp;
- Công an tỉnh Đồng Tháp;
- Cơ quan THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Bị cáo
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Trí Viễn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 105/2026/HS-ST Bản án số 105/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 105/2026/HS-ST Bản án số 105/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất