Bản án số 101/2024/DS-ST ngày 13/11/2024 của TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 101/2024/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 101/2024/DS-ST ngày 13/11/2024 của TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Nhơn Trạch (TAND tỉnh Đồng Nai)
Số hiệu: 101/2024/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/11/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ông Lê Tiến Đ yêu cầu bà Trương Thị D trả lại số tiền nhận chuyển nhượng QSD đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN N Độc lập – Tự do Hạnh phúc
TỈNH Đ
Bản án số: 101/2024/DS-ST
Ngày: 13 - 11 - 2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH Đ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai
Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Kim Xuyến
Ông Hoài Đức Huệ
Thư ký phiên tòa: Quân Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Thị
Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ
thẩm công khai vụ án thụ số: 60/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2024
về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đấttheo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 1706/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2024 giữa
các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Tiến Đ, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Ấp V, xã A, huyện N, tỉnh Đ.
2. Bị đơn: Bà Trương Thị D, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Ấp V, xã A, huyện N, tỉnh Đ.
( Các đương sự có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Lê Tiến Đ trình bày:
Ngày 18/9/2016 ông ký hợp đồng đặt cọc với bà Trương Thị D, thỏa thuận
nhận chuyển nhượng diện tích đất 2.612m
2
thửa số 61 tờ bản đồ số 94 A,
huyện N, tỉnh Đ với giá 875.000.000 đồng, ông đã đặt cọc cho D nhận
275.000.000 đồng. D nói thửa đất trên mua của ông T (cháu ruột) nhưng
chưa sang tên và hứa khi làm thủ tục thì ông T sẽ trực tiếp ký chuyển nhượng cho
ông Đ. Sau khi ký hợp đồng đặt cọc, ông và bà D với ông T chưa hoàn tất thủ tục
2
chuyển nhượng vì diện tích đất trên bị cấp lộn thửa cho người khác, phải chờ tách
thửa lại cho ông T xong mới ký chuyển nhượng cho ông Đ được. Ngoài ra, khi ký
hợp đồng đặt cọc bà D thỏa thuận sẽ chừa con đường 03m làm lối đi chung ngang
qua phần đất phía ngoài của ông T. Hai bên thỏa thuận khi nào ra công chứng
sang tên người mua thì sẽ chồng đủ tiền. Đến ngày 23/7/2017, ông Đ giao tiếp
cho bà D 100.000.000 đồng thời gian sau giao thêm 32.000.000 đồng để làm
hàng rào. Tổng cộng ông Đ đã giao cho bà D 407.000.000 đồng.
Ngày 02/7/2017, ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà D
yêu cầu ông Đ ký hợp đồng chuyển nhượng để trả đủ số tiền còn lại cho bà nhưng
ông không đồng ý vì muốn D ông T trách nhiệm tách con đường 03m
thành đường công cộng chứ không phải là lối đi chung.
Để thực hiện tách con đường đi 03m, hai bên làm đơn gửi UBND A,
khi được mời lên làm việc thì các bên thỏa thuận ông Đ và bà D sẽ hỗ trợ cho ông
T 30.000.000 đồng (ông Đ 20.000.000 đồng, D 10.000.000 đồng) để ông T
tách con đường đi 03m. Tuy nhiên khi ông T làm đơn yêu cầu tách đường nộp
UBND huyện N thì không được chấp nhận. D gọi điện thoại cho ông Đ để
thực hiện hợp đồng nhưng thời điểm đó ông đang miền y, ông nói D
đợi ông về làm thủ tục tách con đường. Sau đó D chuyển nhượng thửa 61 tờ
bản đồ số 94 nêu trên cho Huyền nhờ ông T ký thủ tục sang tên bà H
không báo cho ông Đ.
Ông Đ đã khởi kiện yêu cầu D, ông T tiếp tục thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng đối với diện tích đất 2.612m
2
thửa 61 tờ bản đồ số 94 xã A, huyện
N, tỉnh Đ; Yêu cầu tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa bà Trương Thị D, ông Nguyễn Văn T với Trịnh Thị Thanh H hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trịnh Thị Thanh H với ông Thái
Văn Nh đối với diện tích đất 2.612m
2
nêu trên. Vụ án được Tòa án nhân dân
huyện N thụ lý số 339/2020/LTST-DS ngày 03/11/2020.
Ngày 05/12/2022, tại bản án dân sự thẩm số 58/2022/DS-ST, Tòa án
nhân dân huyện N không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
Ngày 07/12/2022, ông Đ kháng cáo. Tại bản án số 168/2023/DS-PT ngày
02/8/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Đ không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
Do trước đây ông chưa yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng, nên nay
ông yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng đặt cọc ngày 18/9/2016 giữa ông (Tiến Đ)
với Trương Thị D, buộc D trả lại cho ông tổng số tiền 400.000.000 đồng
(khi khởi kiện ông yêu cầu D trả 407.000.000 đồng, nhưng tại phiên tòa D
khai số tiền 7.000.000 đồng bà giao cho ông T nên ông Đ chỉ yêu cầu D trả lại
400.000.000 đồng).
Ông Đ không tranh chấp số tiền 7.000.000 đồng với ông T, không yêu cầu
giải quyết trong vụ án này.
Ông Đ rút yêu cầu về việc buộc bà D bồi thường số tiền 407.000.000 đồng.
3
Việc thỏa thuận đặt cọc ngày 18/9/2016 và cả việc giao tiền giữa ông Đ với
D đều do nhân ông thực hiện, không liên quan đến vông (bà Nguyễn Thị
Thanh C). Số tiền ông Đ giao cho D 407.000.000 đồng tiền riêng của ông,
không phải tài sản chung vợ chồng nên ông Đ đề nghTòa án không đưa C
vào tham gia tố tụng với cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ
án này.
Ông Đ chỉ khởi kiện D, yêu cầu một mình D trả lại tiền, còn ông T,
bà Huyền và ông Nhựt không liên quan gì trong vụ án này.
* Bị đơn Trương Thị D trình bày:
thừa nhận vào ngày 18/9/2016 hợp đồng đặt cọc, thỏa thuận
chuyển nhượng cho ông Lê Tiến Đ diện tích đất 2.612m
2
thửa số 61 tờ bản đồ số
94 A, huyện N, tỉnh Đ với giá 875.000.000 đồng, ông Đ đã đặt cọc cho D
nhận 275.000.000 đồng. Diện tích đất u trên bà mua của ông Nguyễn Văn T
(cháu ruột bà) nhưng chưa sang tên. Khi lập hợp đồng đặt cọc, hai bên thỏa
thuận khi nào ông T làm xong giấy chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng
thì ông Đ phải trả đủ số tiền còn lại. Trong thời gian chờ ông T làm thủ tục cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ngày 23/01/2017, ông Đ giao tiếp cho
100.000.000 đồng. Một thời gian sau ông Đ đưa thêm 25.000.000 đồng. Tổng
cộng bà nhận của ông Đ 400.000.000 đồng, còn 7.000.000 đồng là ông Đ đưa cho
ông T.
Đến ngày 02/11/2017, ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
yêu cầu ông Đ hợp đồng sang tên giao đủ tiền cho thì ông Đ yêu
cầu ông T thỏa thuận chừa lối đi chung 03m, sau đó lại yêu cầu tách con
đường 03m ra khỏi sổ để làm đường đi vào đất.
đã làm đơn khiếu nại gửi UBND A đề nghị mđường đi vào đất.
Khi được mời giải quyết thì tại UBND xã, ông Đ thỏa thuận mua lại con
đường 03m của ông T với giá 30.000.000 đồng (bà chịu 20.000.000 đồng, ông Đ
chịu 10.000.000 đồng), nhưng sau khi ông T nộp hồ lên UBND huyện thì
không được chấp nhận.
Sau đó nhiều lần yêu cầu ông Đ hợp đồng giao tiền đủ cho
nhưng ông Đ cứ hứa hẹn mà không thực hiện nên bà mới chuyển nhượng đất cho
người khác.
Nay ông Đ yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc ngày 18/9/2016 giữa với
ông Đ, bà đồng ý. đồng ý trả lại cho ông Đ 400.000.000 đồng đã nhận nhưng
hiện nay tiền bà đã chi xài hết nên sẽ trả dần.
không tranh chấp với ông T, H, ông Nh nên không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Đ phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
phiên tòa những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ
khi thụ cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã thực hiện đúng
theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đ thụ lý
4
vụ án đúng thẩm quyền; xác định quan hệ tranh chấp đúng và đầy đủ; xác định tư
cách của đương sự, thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật.
- Về đường lối giải quyết vụ án: Xét thấy khi ký hợp đồng đặt cọc ngày
18/9/2016, Trương Thị D chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối
với thửa đất số 61 tờ bản đồ 94 xã A nên việc bà Trương Thị D thỏa thuận chuyển
nhượng đất cho ông Lê Tiến Đ là vi phạm quy định tại Điều 167,168 Luật đất đai
năm 2013, giao dịch giữa ông Đ D hiệu ngay từ thời điểm xác lập. Do
giao dịch hiệu nên căn cứ Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015 thì các bên khôi
phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những đã nhận. Cả ông Đ
D đều có lỗi ngang nhau nên không phát sinh trách nhiệm bồi thường.
Tại phiên tòa, ông Đ rút yêu cầu về việc buộc Trương Thị D phải bồi
thường số tiền 407.000.000 đồng. Việc rút đơn của ông Đ tự nguyện, phù hợp
quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên đề nghị Hội đồng xét
xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đ về việc buộc bà D bồi thường.
Căn cứ các điều 131, 328, 357, 468 Bộ luật dân s2015, đề nghị Hội đồng
xét xchấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Tiến Đ về
việc buộc bà D trả lại số tiền 400.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật cách đương
sự:
+ Thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Tiến Đ yêu cầu hủy hợp đồng đặt
cọc, buộc Trương Thị D trả lại tổng số tiền ông Đ đã giao cho bà D. Do thửa
đất thỏa thuận chuyển nhượng tọa lạc tại xã A nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26,
Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện N thẩm
quyền giải quyết vụ án.
+ Quan hệ pháp luật được xác định là:“Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”.
+ Tư cách đương sự: Căn cứ Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định
nguyên đơn là ông Tiến Đ, bị đơn là Trương Thị D.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Tại phiên tòa, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc
buộc bị đơn bồi thường số tiền 407.000.000 đồng, chỉ buộc D trả số tiền
400.000.000 đồng nên căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng
xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định.
[2.2]. Xét yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc:
Ông Tiến Đ Trương Thị D đều thừa nhận vào ny 18/9/2016
thỏa thuận hợp đồng đặt cọc, nội dung D chuyển nhượng cho ông Đ diện
tích đất 2.612m
2
thửa số 61 tờ bản đồ số 94 A, huyện N, tỉnh Đ với giá
5
875.000.000 đồng, ông đã đặt cọc cho D nhận 275.000.000 đồng, sau đó giao
thêm 02 lần tiền. Tổng cộng bà D đã nhận từ ông Đ 400.000.000 đồng.
Xét thấy: thửa đất số 61 tờ bản đ số 94 A do D nhận chuyn
nhượng từ ông Nguyễn Văn T nhưng chưa làm thủ tục chuyển quyền, thời điểm
thỏa thuận đặt cọc chuyển nhượng cho ông Đ thì bà D chưa được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất nên giao dịch trên vi phạm quy định tại các điều
167, 168 Luật đất đai năm 2013. Từ đó xác định được giao dịch đặt cọc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa bà D ông Đ vô hiệu ngay từ thời điểm xác lập.
Căn cứ Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015 thì các bên khôi phục lại tình trạng ban
đầu, hoàn trả cho nhau những đã nhận. Nay ông Đ yêu cầu hủy hợp đồng đặt
cọc ngày 18/9/2016 là phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
[2.3]. Xét yêu cầu trả lại số tiền 400.000.000 đồng:
Do giao dịch hiệu nên D phải trả lại cho ông Đ số tiền cọc đã nhận.
Ngoài ra bà D và ông Đ đều thừa nhận sau khi đặt cọc ông Đ có giao thêm cho
D 02 lần tiền. Như đã nhận định trên, cần buộc D phải trả lại toàn bộ số tiền
400.000.000 đồng đã nhận cho ông Đ là phù hợp.
[3]. Ông Đ không tranh chấp số tiền 7.000.000 đồng với ông T nên không
xem xét.
[4]. Về chi phí tố tụng: Trương Thị D phải chịu toàn bộ 800.000 đồng
chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Do ông Đ đã nộp tạm ứng số tiền trên nên cần
buộc bà D phải trả lại cho ông Đ.
[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên ông Tiến Đ không phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm.
Trương Thị D thuộc đối tượng người cao tuổi đã có đơn đề nghị nên
được miễn án phí theo quy định.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về đường lối giải
quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, 35, 39, 147, 227, 244, 266, 273 của Bộ luật tố
tụng dân sự;
Áp dụng các điều 118, 123, 131, 328 Bộ luật dân sự năm 2015; các điều
167, 168, 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Tiến Đ về việc buộc Trương
Thị D phải bồi thường số tiền 407.000.000 đồng.
6
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Lê Tiến Đ về việc tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với bà Trương Thị D.
Xử: Tuyên hủy hợp đồng đặt cọc ngày 18/9/2016 giữa bà Trương Thị D
và ông Lê Tiến Đ đối với thửa đất số 61 tờ bản đồ 94 xã A, huyện N.
Buộc Trương Thị D phải trả cho ông Tiến Đ số tiền 400.000.000
đồng (Bốn trăm triệu đồng).
Kể từ ngày đơn thi hành án của người được thi hành án đối với các
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả
các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi nh tương ứng với thời gian chưa thi nh án với mức lãi
suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
3. Về chi phí tố tụng: Trương Thị D phải chịu 800.000 đồng chi phí
xem xét thẩm định tại chỗ (trả lại cho ông Lê Tiến Đ số tiền này).
4. Về án phí: Trả lại cho ông Tiến Đ số tiền 18.210.000 đồng tạm ứng
án phí đã nộp theo biên lai thu số 0017307 ngày 06/02/2024 của Chi cục Thi hành
án dân sự huyện N, tỉnh Đ.
Trương Thị D được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân squyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Báo cho ông Tiến Đ, Trương Thị D biết được quyền kháng cáo bản
án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- Viện kiểm sát cùng cấp;
- Tòa án tỉnh; Thi hành án;
- Lưu hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN T
Nguyễn Thị Mai
Tải về
Bản án số 101/2024/DS-ST Bản án số 101/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 101/2024/DS-ST Bản án số 101/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất