Bản án số 81/2026/HS-PT ngày 08/04/2026 của TAND TP. Hải Phòng về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 81/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 81/2026/HS-PT ngày 08/04/2026 của TAND TP. Hải Phòng về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tội danh: 260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 81/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/04/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyễn Văn Ph phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 81/2026/HS-PT
Ngày 08-4-2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Duy Khoa
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Bích Diệp
Bà Bùi Thị Thu Hằng
- Thư phiên a: Nguyễn Thị Tươi - Thư Toà án nhân dân thành
phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
toà: Ông Trần Việt Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ số 47/2026/TLPT-HS
ngày 04 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Văn P do kháng cáo của bị
cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2026/HS-ST ngày 20 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
- Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Văn P, sinh ngày 05 tháng 3 năm 1986 tại
Bắc Ninh; nơi trú: Tổ dân phố Y, phường N, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lái
xe; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc
tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P1 (đã chết) Thị H; vợ
Nguyễn Thị H1 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm
2017; tiền án, tiền s: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi
trú từ ngày 10/8/2025; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Tuấn A - Luật sư Công ty L thuộc
Đoàn Luật tỉnh B; vắng mặt (có đơn t chối tham gia bào chữa cho bị cáo tại
giai đoạn xét xử phúc thẩm).
- Bị hại: Vũ Thị T (đã chết);
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1976
(chồng T); nơi trú: Thôn V, K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn
xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty Cổ phần T2; trụ
sở: Số B, tC, khu C, phường V, tỉnh Bắc Ninh. Người đại diện hợp pháp: Ông
2
Hoàng Tiến T1, sinh năm 1986; nơi cư trú : Khu phố H, phường P, tỉnh Bắc Ninh;
chức vụ: Giám đốc điều hành; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 11 giờ ngày 14/6/2025, trên đường Q thuộc địa phận tổ dân phố
C, phường A, thành phố Hải Phòng xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ giữa ô
tô tải biển kiểm soát (BKS) 99H-028.66 do bị cáo Nguyễn Văn P điều khiển với xe
mô tô BKS 34B4-077.10 do bà Thị T điều khiển. Hậu quả, bà T bị thương được
đưa đi cấp cứu đến 14 giờ 10 phút cùng ngày thì tử vong, xe mô tô 34B4-077.10 bị
hư hỏng. Sau khi xảy ra tai nạn P đã đến Cơ quan Công an trình diện và khai báo.
Kết quả khám nghiệm hiện trường, xác định: Hiện trường vụ tai nạn giao
thông tại Quốc lộ A, thuộc địa phận tổ dân phố C, phường A. Đoạn đường đang
sửa chữa nền, mặt đường; chiều đường H (cũ) đi Hải Phòng đang trải nhựa apphan;
hai đầu chiều đường đều biển báo hiệu “Công trường đang thi công 5km/h”.
Lấy mép đường bên phải chiều đường H đi Hải Dương (cũ) làm mép đường chuẩn,
hiện trường ghi nhận: 01 dấu vết trượt xước dài 5,7 mét không liên tục trên mặt
đường, điểm đầu và điểm cuối dấu vết lần lượt cách mép đường chuẩn 0,43 mét
0,26 mét; dấu vết nhựa vỡ kích thước 1,5 mét x1,2 mét trên mặt đường, điểm gần
nhất của dấu vết nằm trên mép đường chuẩn.
Khám nghiệm phương tiện: Xe ô BKS 99H-028.66, mặt ngoài bánh xe
phía ngoài của hàng bánh phía sau bên phải (bên phụ) vết trượt xước, rách cao
su màu đen, bám dính tạp chất màu đen và màu bạc (dạng sơn) theo chiều từ ngoài
vào tâm bánh ngược chiều quay tiến của bánh xe. Xe BKS 34B4-077.10,
cụm đèn phía sau bị dập vỡ phức tạp để lộ các chi tiết bên trong, ốp nhựa bảo vệ
liền kề phía ngoài bị dập vỡ, bề mặt trượt xước mất sơn màu đen màu bạc, bám
dính tạp chất màu đen (dạng cao su) theo chiều từ phải sang trái ...
Kết quả xét nghiệm ngày 14/6/2025 của Bệnh viện H2: Nguyễn Văn P
nồng độ cồn trong máu <8,11mg/dL (chỉ số bình thường), âm tính với các chất ma
túy.
Kết luận giám định tử thi số 1687/KL-KTHS ngày 30/6/2025 của Phòng K
Công an thành phố H, kết luận: Khám nghiệm tử thi Thị T xác định gãy
xương cột sống thắt lưng, vỡ xương và dập nát tạng trong khung chậu. Các thương
tích trên đặc điểm hình thành do vật tày tác động theo chế va đập, chèn ép,
cọ xát. Nguyên nhân chết của nạn nhân do đa chấn thương.
Kết luận giám định số 1706/KL-KTHS ngày 26/6/2025 của Phòng K Công
an thành phố H, kết luận: Dấu vết trượt xước mất bụi đất (màu nâu) và cao su (màu
đen), bám dính tạp chất màu đen màu bạc (dạng sơn) theo chiều từ ngoài vào
tâm... ở má ngoài bánh xe phía ngoài hàng bánh lốp phía sau bên phải (bên phụ) xe
ô BKS 99H-028.66 phù hp vi du vết vỡ khuyết, bung bật nhựa, bề mặt trượt
xước mất sơn (màu đen màu bạc), bám dính tạp chất màu nâu (dạng bụi đất)
3
màu đen (dạng cao su) theo chiều từ phải sang trái phía bên phải cụm đèn tín
hiệu phía sau ốp nhựa bảo vệ liền kề trên xe BKS 34B4-077.10. Dấu vết
trên hai phương tiện ... đặc điểm giống với đặc điểm của dấu vết được hình
thành khi xe mô tô BKS 34B4-077.10 ở trạng thái đổ nghiêng bên trái va chạm với
xe ô BKS 99H-028.66; không đủ sở xác định tốc độ của xe ô BKS 99H-
028.66 và xe mô tô BKS 34B4-077.10 tại thời điểm xảy ra va chạm.
Kết luận giám định số 1692/KT-KTHS ngày 04/7/2025 của Phòng K Công
an thành phố H, kết luận: 01 tập tin video phần mở rộng “MP4” dung lượng
15MB được lưu trong 01 USB nhãn hiệu Kingston 32GB đã qua sử dụng không
tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.
Kết luận định giá thiệt hại tài sản số 101/KL-HĐĐGTS ngày 20/6/2025 của
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô
BKS 34B4-077.10 là 2.616.000 đồng.
Quá trình điều tra, người đại diện hợp của Công ty Cổ phần T2 trình bày:
Công ty không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự, xe ô BKS 99H-028.66
của Công ty không bị hư hỏng, Công ty đã nhận lại chiếc xe này và toàn bộ giấy tờ
kèm theo.
Vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô BKS 34B4-077.10 và giấy tờ
xe cho đại diện gia đình bị hại; trả lại xe ô BKS 99H-028.66 giấy tờ xe cho
Công ty Cổ phần T2; 01 giấy phép lái xe ô hạng C số 270139002914 cấp cho
Nguyễn Văn P, chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Hải Phòng quản lý.
Bản án hình sự thẩm số 06/2026/HS-ST ngày 20 tháng 01 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng đã căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm
b, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên bbị cáo
Nguyễn Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, xử
phạt bị cáo Nguyễn Văn P 15 (Mười lăm) tháng , thời hạn chấp hành án phạt
tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Ngoài ra Bản án còn tuyên về về xử lý vật
chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo Bản án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn P kháng cáo đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung
Bản án thẩm. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho
bị cáo được hưởng án treo.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Toà án cấp thẩm xét xbị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Vi phạm quy
định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật
Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tòa án cấp thẩm đã xem xét tính chất, mức đcủa hành vi phạm tội, các
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P
15 tháng căn cứ. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm
tài liệu chứng cứ mới thể hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình, có nơi cư
4
trú rõ ràng, đã nộp đủ án phí hình sự sơ thẩm, gia đình bị hại tiếp tục có đơn xin
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo 03 con nhỏ đều dưới 15 tuổi,
đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51
của Bộ luật Hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều
355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo
của bị cáo, sửa bản án thẩm giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được
hưởng án treo.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ngày 20/01/2026, Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng
xét xử sơ thẩm vụ án, tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn P có mặt. Ngày 23/01/2026,
bị cáo nộp đơn kháng cáovẫn trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại khoản
1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh khung nh phạt: T án cấp thẩm xét x bị cáo
Nguyễn Văn P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo
điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp thẩm
đã căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân cũng như các tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt 15 tháng
căn cứ. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bcáo cung cấp thêm tài liệu chứng cứ
mới thể hiện bị cáo lao động chính trong gia đình, nơi trú ràng, đã
nộp đủ án phí hình sự sơ thẩm, gia đình bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự cho bị o, bị o 03 con nhỏ đều dưới 15 tuổi, đây các tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật
Hình sự nên thể xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, khoan hồng cho bị
cáo, cho bị cáo cải tạo ngoài hội, tạo điều kiện đbị cáo cải tạo, tu dưỡng trở
thành công dân ích cho hội. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo
của bị cáo, sửa bản án thẩm giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được
hưởng án treo.
[4] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị
kháng nghị đã hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem
xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
5
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn P; sửa Bản án
thẩm.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 65; điểm b, r, s khoản 1 và khoản 2
Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 15 (Mười lăm) tháng nhưng cho hưởng án
treo, thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn P cho Ủy ban nhân dân phường N, tỉnh Bắc Ninh
giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo trách nhiệm phối
hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Văn P thay đổi nơi trú thì phải thực
hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
“Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính
đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo
tạm vắng theo quy định của pháp luật về trú. Thời gian vắng mặt tại nơi trú
mỗi lần không quá 60 ngày tổng số thời gian vắng mặt tại nơi trú không
được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều
trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế
đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi trú phải đơn xin phép
được sđồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Ủy
ban nhân dân cấp phải trả lời bằng văn bản và nêu do. Người được hưởng
án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm
trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp
xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo
vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải
thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài
liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi trú
hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.”
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên tTòa án thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Huỷ bỏ biện
pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Văn P.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
6
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Văn P không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2026/HS-ST ngày
20 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng hiệu lực
pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Người đại diện hợp pháp của bị hại;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- VKSND KV2 - Hải Phòng;
- TAND KV2 - Hải Phòng;
- Cơ quan CSĐT Công an TP Hải Phòng;
- Cơ quan THAHS Công an TP Hải Phòng;
- Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an TP Hải Phòng;
- Phòng THADS KV2 - Hải Phòng;
- UBND phường Nhân Hòa, tỉnh Bắc Ninh;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Duy Khoa
7
Tải về
Bản án số 81/2026/HS-PT Bản án số 81/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 81/2026/HS-PT Bản án số 81/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất