Bản án số 100/2025/DS-ST ngày 26/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 100/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 100/2025/DS-ST ngày 26/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ
Số hiệu: 100/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 9 – CẦN THƠ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 100/2025/DS - ST.
Ngày: 26 - 9 - 2025.
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Nguyễn Thanh Rực;
2. Trần Thị Thanh Nhanh.
- Thư phiên tòa: Lê Thị Nghi Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9
Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Bà Lê Hồng N- Kiểmt viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh
Sóc Trăng xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 04/2025/TLST-DS,
ngày 14 tháng 7 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xsố: 129/2025/QĐXXST- DS ngày 18 tháng 8 năm 2025,
giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S (Gọi tắt là S1); địa chỉ: 2 N,
phường X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Gia T - Nhân viên công ty TNHH MTV
Q khai thác tài sản Ngân hàng Thương mại Cổ phần S2; địa chỉ: Số B N,
phường X, Thành phố Hồ Chí Minh người đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn “Giấy ủy quyền số 8938/2024/UQ-TGĐ ngày 05/12/2024” (Vắng mặt).
Bị đơn: Huỳnh Thị Thùy L, sinh năm 1993; địa chỉ: Ấp C, A, Thành
phố Cần Thơ (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 06/12/2024 cũng như các lời khai trong quá trình
giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn S1 ông Trần Gia
T trình bày:
Vào ngày 11 tháng 10 năm 2017, S1 và bà Huỳnh Thị Thùy L đã ký kết hợp
đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng
Bản điều khoản Điều kiện phát hành và sdụng thẻ tín dụng của S1 - các tài
liệu này được gọi chung là Hợp đồng).
2
Căn cứ vào thu nhập của Huỳnh Thị Thùy L, S1 đã đồng ý cấp thẻ tín
dụng với hạn mức sử dụng 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), số thẻ
512341 - 8361, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất áp dụng 2,15%/tháng. Sau
khi được cấp thẻ tín dụng Huỳnh Thị Thùy L đã thực hiện các giao dịch với
tổng số tiền 111.302.594 đồng (Một trăm mười một triệu ba trăm lhai nghìn
m trăm chín mươi bốn đồng).
Trong quá trình sdụng thẻ, từ ngày ch hoạt thẻ cho đến nay Huỳnh
Thị Thùy L chỉ thanh toán cho S1 số tiền là 115.606.009 đồng (Một trăm mười lăm
triệu sáu trăm lẻ sáu nghìn không trăm lẻ chín đồng) (Thứ tự thanh toán căn cứ
theo Điều 20 của bản điều khoản điều kiện phát hành sdụng thẻ tín dụng của
S1). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng Huỳnh Thị Thùy L vẫn không
thiện chí trả nợ. Do Huỳnh Thị Thùy L phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của
Bản điều khoản điều kiện phát hành sdụng thẻ tín dụng của S1) nên ngày 01
tháng 02 năm 2023, S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ chuyển toàn bộ dư nợ
còn thiếu sang nợ quá hạn (Theo quy định tại Điều 23 của bản điều khoản điều
kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S1). Tính đến ngày 26 tháng 9 năm 2025,
Huỳnh Thị Thùy L n nợ S1 tổng cộng số tiền: 38.895.645 đồng, trong đó nợ
gốc 16.621.242 đồng và lãi quá hạn 22.274.403 đồng.
Mặc dù S1 đã nhiều lần yêu cầu bà Huỳnh Thị Thùy L có trách nhiệm thanh
toán, tuy nhiên bà L vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho S1, đã vi phạm
các điều khoản đã quy định tại hợp đồng đã ký kết.
Tại bản tkhai 26/9/2025 đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 26/9/2025,
người đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc Huỳnh Thị Thùy L trả ngay cho S1 toàn bộ nợ gốc lãi phát sinh
tạm tính đến 26 tháng 9 năm 2025 với tổng số tiền: 38.895.645 đồng, trong đó nợ
gốc 16.621.242 đồng và lãi quá hạn 22.274.403 đồng và lãi tiếp tục được tính kể từ
ngày 27 tháng 9 năm 2025 theo mức lãi suất hai bên đã tại giấy đề nghị cấp thẻ
tín dụng kiêm hợp đồng ngày 11 tháng 10 năm 2017 cho đến khi Huỳnh Thị
Thùy L thanh toán xong các khoản nợ cho S1.
- Đối với bị đơn Huỳnh Thị Thùy L: Sau khi Tòa án thụ vụ án, đã tiến
hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bà Huỳnh Thị Thùy L nhưng không thể thực
hiện được thủ tục cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp cho L được L đã bỏ
địa phương đi không thông báo cho Tòa án nguyên đơn biết việc đã thay đổi
địa chỉ nơi trú địa chỉ nơi trú mới. Nên căn cứ vào khoản 3 Điều 70,
khoản 1 Điều 72, khoản 3 Điều 177 Điều 179 của Bộ luật ttụng dân sựTòa án
đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản ttụng cho Huỳnh Thị Thùy L
theo đúng quy định của pháp luật. Huỳnh Thị Thùy L đã được triệu tập hợp lệ
để tham gia tố tụng tại phiên tòa thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt
không có lý do.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 Cần Thơ tham
gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
3
Về tố tụng: Việc Tòa án thụ ván đúng thẩm quyền. Xác định đúng
quan hệ tranh chấp. Từ khi thụ vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán,
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm
a khoản 1 Điều 35; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91, Điều 95 của Luật các
tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2,
Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 này 30/12/2016 của Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Điều 26 Luật thi hành án dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ ván đã được xem
xét tại phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên
đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trách nhiệm thanh toán nợ gốc, tiền lãi phát sinh
chưa thanh toán cho nguyên đơn theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm
Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và Điều kiện phát
hành sử dụng thẻ tín dụng của S1. Do đó, Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ
tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn có địa chỉ cư trú
tại: Ấp C, A, thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân Khu vực 9 Cần Thơ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1
Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn là ông Trần Gia T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt đơn
đề nghị xét xvắng mặt; bị đơn Huỳnh Thị Thùy L từ khi Tòa án thụ vụ án
đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn Huỳnh Thị Thùy L nhưng
không thể thực hiện được thủ tục cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp được
Huỳnh Thị Thùy L đã bỏ địa phương đi không thông báo cho Tòa án nguyên
đơn biết việc đã thay đổi địa chỉ nơi trú địa chỉ nơi trú mới. Căn cứ vào
khoản 3 Điều 70, khoản 1 Điều 72, khoản 3 Điều 177 Điều 179 của Bộ luật tố
tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho
Huỳnh Thị Thùy L. Căn cứ vào điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều
228 khoản 3 Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định
xét xử vắng mặt đối với ông Trần Gia T và bà Huỳnh Thị Thùy L.
[3]. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn Huỳnh Thị Thùy
L phải trách nhiệm trả cho S1 nợ còn thiếu của hợp đồng sử dụng thẻ tín
dụng xác lập ngày 11 tháng 10 năm 2017 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng
kiêm hợp đồng Bản điều khoản Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng
của S1, số thẻ 512341 - 8361 với stiền gốc là 16.621.242 đồng, Hội đồng xét xử
xét thấy: Để chứng minh cho yêu cầu của mình nguyên đơn cung cấp cho Tòa án
chứng cứ giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng giữa người cấp thS1
chủ thẻ chính được cấp là Huỳnh Thị Thùy L xác lập ngày 11/10/2017
chữ của bđơn Huỳnh Thị Thùy L mục chủ thẻ chính cùng các giấy tờ
4
khác liên quan. Xét thấy, về hình thức, nội dung các văn bản này p hợp
theo quy định pháp luật. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã
thông báo các tài liệu, chứng cứ mà bên nguyên đơn cung cấp và thông báo kết quả
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho L nhưng
L không ý kiến phản đối gì. Căn cứ bản sao do Ngân hàng cung cấp ngày
26/9/2025 của S1 cho thấy bà L đã giao dịch bằng thẻ tín dụng số 512341 - 8361 từ
ngày 31/10/2017 đến ngày 26/9/2025. Ngày 01/02/2023, S1 đã chấm dứt quyền sử
dụng thẻ đối với bà L do bà L vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tại Điều 23 của điều khoản
điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng quy định “Việc
không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ cho đến kỳ phát hành thông
báo tiếp theo stạo nên svi phạm theo hợp đồng. Trong trường hợp này, toàn bộ
tổng dư nợ sẽ trở nên đến hạn ngay lập tức và chủ thẻ phải thanh toán”.
Do đó, Hội đồng xét xử khẳng định L đã vay nhận đủ của nguyên đơn
số tiền được cấp theo hạn mức thẻ tín dụng cấp ngày 11/10/2017 với số tiền
15.000.000đồng (Mười lăm triệu đồng) lãi suất trong hạn 2,15%/tháng căn
cứ. Sau khi được cấp thẻ tín dụng Huỳnh Thị Thùy L đã thực hiện các giao dịch
với tổng số tiền 111.302.594 đồng (Một trăm mười một triệu ba trăm lẻ hai
nghìn năm trăm chín mươi bốn đồng). Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích
hoạt thẻ cho đến nay Huỳnh Thị Thùy L chỉ thanh toán cho S1 được số tiền
115.606.009 đồng (Một trăm mười lăm triệu sáu trăm lẻ sáu nghìn không trăm l
chín đồng) (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của bản điều khoản điều
kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S1). S1 đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở
nhưng bà L vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà L đã phạm nghĩa vụ thanh toán đã
quy định tại Điều 2 của Bản điều khoản điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín
dụng của S1 nên ngày 01 tháng 02 năm 2023 S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và
chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của bản
điều khoản điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S1. Do đó, việc
nguyên đơn yêu cầu L nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền gốc 16.621.242
đồng phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng
năm 2010; Điều 280, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân snăm 2015 nên Hội đồng
xét xử chấp nhận.
[4]. Về lãi suất: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn nghĩa vụ thanh toán lãi quá
hạn tạm tính từ ngày 01/02/2023 đến ngày 26/9/2025 22.274.403 đồng. Đối với
yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo Điều 22 Điều
23 của Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S1 áp dụng
tính lãi quá hạn khi vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với loại thẻ tín dụng quốc tế mà bà
L đang sdụng “áp dụng lãi suất nợ qhạn 150% của lãi suất được công bố
áp dụng tại thời điểm hiện tại”, như vậy theo thoả thuận L phải chịu lãi suất
4,149%/tháng (150% x 2.766%/tháng). Xét thấy, mức lãi suất của hợp đồng trên là
phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm
2010; khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 nên bị đơn phải nghĩa vụ trả
lãi cho nguyên đơn theo giao kết. Do đó, việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả
tiếp nợ gốc lãi theo giao kết trong từng hợp đồng đã vi phạm hợp đồng cho
vay mà các bên đã ký kết, bị đơn là người có lỗi và là người vi phạm hợp đồng nên
5
phải chịu mọi hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Do đó, bà L
phải nghĩa v thanh toán cho S1 số tiền lãi quá hạn đến ngày 26/9/2025 là
22.274.403 đồng.
[5]. Như vậy, bđơn Huỳnh Thị Thùy L nghĩa vụ hoàn trả cho S1
nợ của các hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, số thẻ số thẻ 512341 - 8361 tính đến
ngày 26/9/2025 với tổng số tiền 38.895.645 đồng, trong đó nợ gốc 16.621.242
đồng lãi quá hạn 22.274.403 đồng lãi tiếp tục được tính kể từ ngày 27 tháng
9 năm 2025 theo mức lãi suất hai bên đã tại giấy đnghị cấp thẻ tín dụng kiêm
hợp đồng ngày 11 tháng 10 năm 2017 cho đến khi Huỳnh Thị Thùy L thanh
toán xong các khoản nợ cho S1.
[6]. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự thẩm theo quy định tại
khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Nguyên đơn không phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[7]. Như đã phân tích nêu trên xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu
vực 9 – Cần Thơ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91, Điều 95 của Luật các t
chức tín dụng năm 2010; 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự; khoản 2, Điều 26
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 này 30/12/2016 của Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26
Luật thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ
phần S2:
1. Buộc bị đơn Huỳnh Thị Thùy L nghĩa vtrả cho nguyên đơn Ngân
hàng Thương mại Cổ phần S2 dư nợ tính đến ngày 26/9/2025 với tổng số tiền
38.895.645 đồng (Ba mươi tám triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn sáu trăm bốn
mươi lăm đồng), trong đó nợ gốc 16.621.242 đồng (Mười sáu triệu sáu trăm hai
mươi mốt nghìn hai trăm bốn mươi hai đồng) lãi quá hạn 22.274.403 đồng (Hai
mươi hai triệu hai trăm bảy mươi bốn nghìn bốn trăm lẻ ba đồng). Kể từ ngày 27
tháng 9 năm 2025, L còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc
chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại giấy đề nghị cấp thẻ
tín dụng kiêm hợp đồng ngày 10 tháng 11 năm 2017 cho đến khi Huỳnh Thị
Thùy L thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S2.
2. Về án phí: Bđơn Huỳnh Thị Thùy L phải chịu 1.944.782 đồng (Một
triệu chín trăm bốn mươi bốn nghìn bảy trăm tám mươi hai đồng) án phí dân sự
thẩm. Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S2 không phải chịu án phí dân
6
sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S2 số tiền tạm ứng án
phí đã nộp 796.541 đồng (B trăm chín mươi sáu nghìn năm trăm bốn mươi mốt
đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phía Tòa án số 0059419, ngày
26/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành Phố Hồ Chí Minh (Nay
là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 – Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa quyền
kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản
án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a 9 của Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND Khu vực 9 – Cần Thơ; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- T.H.A DS Tp Cần Thơ;
- TAND Tp Cần Thơ (PGĐ, KT,TT&THA;
- Lưu (HS, VP).
Lê Hoàng Bảo
Tải về
Bản án số 100/2025/DS-ST Bản án số 100/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 100/2025/DS-ST Bản án số 100/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất