Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 06/05/2025 của TAND huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 06/2025/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 06/05/2025 của TAND huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Sa Pa (TAND tỉnh Lào Cai) |
Số hiệu: | 06/2025/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 06/05/2025 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Giàng Thị Pằng- Lý A Thào |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ S - TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 06/2025/HNGĐ – ST
Ngày: 06/5/2025
V/v Yêu cầu không công nhận quan hệ
vợ chồng, tranh chấp quyền nuôi con
chung”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ S – TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Ngọc Mạnh;
2. Ông Lý Láo Tả.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân
thị xã S, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai tham gia
phiên tòa: Ông Lã Chúc Cương - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã S, tỉnh Lào
Cai xét xử công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 07/2025/TLST- HNGĐ
ngày 25 tháng 3 năm 2025 về việc “Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ
chồng, tranh chấp quyền nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 06/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 giữa:
Nguyên đơn: Chị Giàng Thị P, sinh năm 1988
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 02, phường Cầu Mây, thị xã S, tỉnh
Lào Cai.
Nơi ở hiện nay: Thôn Thào Hồng Dến, xã Mường Hoa, thị xã S, tỉnh Lào
Cai. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị
Hạnh - Trợ giúp viên pháp lý. Địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh
Lào Cai. Có mặt
Bị đơn: Anh Lý A Th, sinh năm 1986
Địa chỉ: Tổ 02, phường Cầu Mây, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt, có
đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày và biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết
vụ án chị Giàng Thị P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Giàng Thị P và anh Lý A Th sau thời gian
ngắn tìm hiểu, yêu thương đã chung sống với nhau từ khoảng cuối năm 2004,
chị Pằng và anh Thào không đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, quá
trình chung sống anh chị hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn,
nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn do anh Lý A Th thường xuyên chửi bới, xúc
phạm, đánh đập chị Pằng. Đến khoảng cuối năm 2023 mâu thuẫn trầm trọng, do
mâu thuẫn không thể khắc phục và hoà giải được nên gia đình hai bên đã cùng
2
nhau lập biên bản thoả thuận ly hôn và nuôi con. Hiện nay chị Pằng chuyển về
nhà anh trai ruột tại thôn Thào Hồng Dến, xã Mường Hoa, thị xã S, tỉnh Lào Cai
sinh sống, từ khi chị Pằng bỏ về nhà anh trai sống anh chị không ai quan tâm ai,
không quan hệ gì về tình cảm cũng như kinh tế . Đến nay chị Pằng thấy rằng chị
và anh Lý A Th chung sống không hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng nên chị đề
nghị Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị với anh Lý
A Th.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống chị Pằng và anh Thào có 03
con chung là cháu Lý A Phổng, sinh ngày 12/4/2006, cháu Lý Thị Phếnh, sinh
ngày 12/4/2006 và cháu Lý A Sùng sinh ngày 01/01/2009. Đối với cháu Lý A
Phổng và cháu Lý Thị Phếnh hiện nay đã trên 18 tuổi nên không đề nghị Tòa án
giải quyết về việc nuôi con, còn đối với cháu Lý A Sùng từ khi chị Pằng và anh
Thào xảy ra mâu thuẫn cháu Sùng vẫn sinh sống cùng anh Thào. Chị Pằng đề
nghị Tòa án giải quyết giao cho anh Thào là người tiếp tục nuôi dưỡng cháu Lý
A Sùng sinh ngày 01/01/2009 đến khi cháu đủ 18 tuổi, chị Pằng không phải
đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Trong thời gian chung sống chị Pằng
và anh Thào không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Pằng xin chịu toàn bộ tiền án phí hôn nhân gia đình theo
quy định của pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị
Hạnh quá trình giải quyết vụ án trình bày: Nhất trí với ý kiến trình bày của
nguyên đơn chị Giàng Thị P, không có ý kiến gì bổ sung. Đề nghị Tòa án giải
quyết theo quy định pháp luật
Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lý A Th trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lý A Th xác nhận những lời trình bày của
chị Giàng Thị P về thời gian và quá trình chung sống, mâu thuẫn của anh chị là
đúng, trong thời gian anh và chị Pằng chung sống có xảy ra mâu thuẫn, nguyên
nhân của mâu thuẫn là do anh chị không tìm được tiếng nói chung trong cuộc
sống. Đến nay chị Pằng làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận
quan hệ vợ chồng giữa chị Pằng với anh Thào, anh Thào nhất trí đề nghị Tòa án
giải quyết theo quy định.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống anh chị có 03 con chung là
cháu Lý A Phổng, sinh ngày 12/4/2006, cháu Lý Thị Phếnh, sinh ngày
12/4/2006 và cháu Lý A Sùng sinh ngày 01/01/2009. Hiện nay cháu Lý A Phổng
và cháu Lý Thị Phếnh hiện nay đã trên 18 tuổi nên anh Thào không đề nghị Tòa
án giải quyết về việc nuôi con, còn đối với cháu Lý A Sùng khi anh Thào đề
nghị Toà giải quyết giao cháu Lý A Sùng cho anh Thào được trực tiếp nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu Sùng đủ 18 tuổi. Anh Thào không
yêu cầu chị Giàng Thị P phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Trong thời gian chung sống anh
Thào, chị Pằng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa chị Giàng Thị P và anh Lý A Th đều vắng mặt, có đơn xin
xét xử vắng mặt và giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện, cũng như ý kiến của
mình.

3
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã S phát biểu quan
điểm về việc tuân theo Pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của Pháp luật, việc
chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm
Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định của Pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 9, khoản 1 điều 14, điều 15, khoản
2 Điều 53, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, điều 35 Điều 147;
Khoản 1 Điều 227; 228; Điều 271; Khoản 1 Điều 273; Điều 238 Bộ luật tố tụng
dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Giàng Thị P,
quyết định không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Giàng Thị P và anh Lý
A Th.
- Về con chung: Giao cho anh Lý A Th được trực tiếp trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lý A Sùng sinh ngày 01/01/2009 đến khi cháu Sùng
đủ 18 tuổi, chị Giàng Thị P không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con
chung.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Các đương sự không đề nghị giải
quyết.
Tuyên án phí, quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Giàng Thị P có đơn đề nghị Tòa án nhân dân
thị xã S, tỉnh Lào Cai giải quyết không công nhận vợ chồng giữa chị với anh Lý
A Th. Anh Lý A Th cư trú tại: Tổ 02, phường Cầu Mây, thị xã S, tỉnh Lào Cai.
Theo quy định tại khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là
đúng thủ tục tố tụng.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Giàng Thị P và anh Lý A Th đều khai: Sau
thời gian tìm hiểu, yêu thương nên về chung sống với nhau từ năm 2004, chị Pằng
và anh Thào không đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Theo quy
định của Luất hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực, theo hướng dẫn tại
điểm b khoản 3 nghị Quyết số 35 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội khóa 10 về thi
hành Luật hôn nhân và gia đình. "Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ
ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001, mà có đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo
quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng lý kết hôn trong thời hạn 02 năm, kể
từ ngày Luật này có hiệu lực đến ngày 01/01/2003… Từ sau ngày 01/01/2003
mà họ không có đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận vợ chồng". Từ
năm 2004 đến nay chị Pằng và anh Thào không đăng ký kết hôn theo quy định
là vi phạm Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điều 9 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2014. Đến nay chị Pằng nhận thấy giữa chị và anh Thào
có nhiều mâu thuẫn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận vợ
chồng giữa chị và anh Lý A Th. Xét thấy yêu cầu của chị Pằng là có căn cứ chấp
nhận. Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Giàng Thị P

4
và anh Lý A Th theo quy định tại Khoản 4 Điều 3 của thông tư liên tịch số 01
ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và
Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị Giàng Thị P và anh Lý A Th có cháu Lý A Phổng,
sinh ngày 12/4/2006, cháu Lý Thị Phếnh, sinh ngày 12/4/2006 và cháu Lý A
Sùng sinh ngày 01/01/2009, cháu Lý A Phổng và Lý Thị Phếnh đến thời điểm
tòa án tiến hành hòa giải các cháu đã đủ 18 tuổi, đối với cháu Lý A Sùng từ năm
2023 từ khi chị Pằng bỏ nhà sang sống nhà anh trai, cháu Sùng vẫn sinh sống
cùng với anh Thào tại tổ 02, phường Cầu Mây,thị xã S. Chị Giàng Thị P, anh Lý
A Th và cháu Lý A Sùng đều có nguyện vọng đề nghị Tòa án giải quyết: Giao
cho anh Lý A Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lý
A Sùng đến khi cháu Sùng đủ 18 tuổi, chị Giàng Thị P không phải đóng góp tiền
cấp dưỡng nuôi con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy nguyện vọng của các đương sự, giao cho anh Lý A
Th được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lý A Sùng
đến khi cháu Sùng đủ 18 tuổi là phù hợp với điều 81 Luật hôn nhân và gia đình
nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận.
[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Giàng Thị P và anh Lý A Th
không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét
xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Giàng Thị P phải chịu tiền án phí Hôn
nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 12.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 28, điều 35 Điều 147; Khoản 1 Điều 227; 228; Điều 271;
Khoản 1 Điều 273; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, khoản 1
Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014. Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH14 ngày
30/12/2016. Tuyên xử vắng mặt chị Giàng Thị P và anh Lý A Th .
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Giàng Thị P.
Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Giàng Thị P và anh Lý A
Th.
2. Về con chung: Giao cho anh Lý A Th được trực tiếp trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lý A Sùng sinh ngày 01/01/2009 đến khi cháu
Sùng đủ 18 tuổi, tạm thời chị Giàng Thị P không phải đóng góp tiền cấp dưỡng
nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom
con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Giàng Thị P phải chịu 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân
gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng chị Pằng đã
nộp theo biên lai số 0001714 ngày 25/3/2025 của chi cục Thi hành án dân sự thị
xã S.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Giàng Thị P và anh Lý A Th được quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
5
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại
Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải
thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
-Người bảo vệ quyền và lợi ích;
- TAND tỉnh Lào Cai;
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND thị xã S;
- Chi cục THADS thị xã S;
- UBND phường Cầu Mây;
- Lưu: VT, HSKS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Kim Dung
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 29/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 29/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 22/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 21/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 16/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 15/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 15/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm