Bản án số 606/2026/DS-PT ngày 29/04/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 606/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 606/2026/DS-PT ngày 29/04/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 606/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: TS
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
Bản án số: 606/2026/DS-PT
Ngày: 29/4/2026
“V/v Tranh chấp hợp đồng thuê đất;
đòi bồi thường thiệt hại tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Lê Thị Bích Tuyền
Các Thẩm phán:Bà Trịnh Thị Phúc
Ông Trần Trọng Nhân
- Thư phiên tòa: Ông Trần Phước Hậu - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Tho - Kiểm sát viên.
Ngày 23, 29 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
xét xphúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 34/2026/TLPT-DS ngày 02
tháng 02 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê đất; Đòi bồi thường thiệt
hại tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 133/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 211/2026/QĐ-PT ngày
02 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Phan Văn T, sinh năm 1954.
2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1954.
Nơi cư trú: ấp D, xã T, tỉnh Tây Ninh;
Người đại diện hợp pháp của ông Phan Văn T: Nguyễn Thị N, sinh năm
1954; Nơi cư trú: ấp D, xã T, tỉnh Tây Ninh.
1.1. Ông Võ Thanh M, sinh năm 1978.
1.2. Phan Thị Diệu H, sinh năm 1977.
Nơi cư trú: ấp H, xã H, tỉnh Tây Ninh.
2
Người đại diện theo ủy quyền của ông M, bà H: Ông Khắc Đ, sinh năm
1977; Địa chỉ: C N, Phường L, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1950;
2. Bà Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1982;
Cùng nơi cư trú: ấp K, xã H, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1979;
Nơi cư trú: ấp K, xã H, tỉnh Tây Ninh;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1979. Nơi trú: ấp K, H, tỉnh Tây
Ninh;
2. Ông Phan Văn T1, sinh năm 1979. Nơi trú: Ấp D, N, tỉnh Tây
Ninh;
3. Ông Phan Văn C, sinh năm 1981. Nơi trú: Ấp D, N, tỉnh Tây Ninh;
4. Bà Phan Thị N1, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Ấp D, xã N, tỉnh Tây Ninh;
5. Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1976. Nơi trú: Ấp D, N, tỉnh Tây
Ninh;
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn S.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 07/6/2022 của nguyên đơn ông T N, cùng
các lời trình bày như sau:
Ngày 03/09/2018, ông Phan Văn T, Nguyễn Thị N, ông Thanh M,
Phan Thị Diệu H (là bên cho thuê đất) kết với ông Nguyễn Văn S và
Nguyễn Ngọc L (là bên đi thuê đất) hợp đồng cho thuê đất đào ao nuôi cá có nội
dung như sau:
Bên ông S con gái L đồng ý thuê khu đất với tổng diện tích
43.000m
2
theo giấy chứng nhận QSD đất Số: Đ550068 do Ủy ban nhân dân huyện
T cấp ngày 29/3/2004 do Nguyễn Thị N đứng tên tại thửa đất số: 05, 06, 34,
182, tờ bản đồ số: 01, 04 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) đất số:
AL376182; AL376183; AL376184; AL376185 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp
ngày 27/5/2008 cho ông Thanh M Phan Thị Diệu H đứng tên tại thửa
đất số: 04, 31, 180, 223, tờ bản đồ số: 01 04. Tất cả các thửa đất trên tọa lạc
tại: ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã T, tỉnh Tây Ninh).
Thời gian thuê đất là 05 năm, kể từ ngày 15/08/2018 đến ngày 15/08/2023,
với giá thuê đất 40.000.000 đồng/1ha x 4.3 ha =172.000.000 đồng/năm.Tiền
ứng san lấp mặt bằng mỗi m 50.000.000 đồng/năm. Tổng cng tiền ứng san lấp
của Hợp đồng 250.000.000 đồng. Mỗi năm bên thuê phải chi trả (172.000.000
(tiền thuê) + 50.000.000 (tiền ứng san lấp) 222.000.000 đồng/01 năm.
3
Nếu đến hết hạn Hợp đồng bên đi thuê sang lấp mặt bằng trả lại như
hiện trạng ban đầu thì bên cho thuê đất sẽ hoàn trả lại 250.000.000đ cho bên thuê
đất tương đương 50.000.000 đồng/năm. Ngược lại, nếu bên đi thuê bỏ ngang
không san lấp lại ao thì bên cho thuê sẽ dùng số tiền 250.000.000 đồng đã tạm thu
để đảm bảo cho việc thuê mướn xe cơ giới san lấp lại mặt bằng.
Mùa vụ 15/08/2018 đến 15/08/2019 bên đi thuê chỉ trả 172.000.000 đồng.
Không trả tiền ứng san lấp mặt bằng 50.000.000 đồng. Mùa vụ 15/08/2019 đến
15/08/2020 bên đi thuê chỉ trả 150.000.000 đồng. Không trả tiền ứng san lấp mặt
bằng 50.000.000 đồng. Tổng 2 mùa vụ (02 năm) bên đi thuê chỉ trả 322.000.000
đồng. Còn lại 22.000.000 đồng của mùa vụ 15/08/2019 đến 15/08/2020 tiền
ứng san lấp mỗi năm 50.000.000 đồng, hai năm là 100.000.000 đồng. Tổng cộng
122.000.000 đồng bên thuê chưa chi trả.
Đến ngày 15/08/2020 là kỳ hạn trả 172.000.000 đồng và 50.000.000 đồng
tiền ứng san lấp mặt bằng của mùa vụ 15/08/2020 đến 15/08/2021 bên thuê hoàn
toàn không trả tiền cho bên cho thuê đất. Đến ngày 10/09/2020, N làm đơn gửi
tổ hòa giải ấp giải quyết tranh chấp thì bên ông S đã thực hiện chi trả 22.000.000
đồng và yêu cầu thêm ông thời gian 04 tháng để thu hoạch hết phần cây trồng, ao
đang canh tác sẽ trả 172.000.000 đồng tiền thuê đất của vụ 15/08/2020 đến
15/08/2021 150.000.000 đồng tiền ứng san lấp mặt bằng đã nđể tiếp tục canh
tác. Tuy nhiên, sau khi thu hoạch toàn bộ hoa lợi trên ao thì ông S, L bỏ ao
không san lấp, bên cho thuê đất (ông T, N, ông M, H) phải thuê xe Kobe
của anh Nguyễn Văn V san lấp ao trả lại hiện trạng ban đầu với số tiền
172.000.000 đồng, giá san lấp cụ thể 40.000.000 đồng/1 ha. Đối với tiền thuê
đất năm thứ ba và tiền san lấp bên thuê chưa thanh toán.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông S L
nghĩa vụ trả cho ông T, N, ông M, H số tiền thuê đất 172.000.00
tiền lãi là 34.400.000đ. Đồng thời ông T, bà N, ông M, bà H yêu cầu ông S và bà
L trả tiền san lấp mặt bằng với số tiền là 172.000.000đ và tiền lãi là 13.760.000đ.
Tổng cộng số tiền cả gốc lãi là 392.160.000đ (Ba trăm chín mươi hai triệu một
trăm sáu mươi nghìn đồng).
Bị đơn ông S, L do người đại diện ủy quyền lời trình bày: Ngày
03/09/2018, ông S chị L (là con của ông S) thuê quyền sử dụng đất của gia
đình ông T, N diện tích 43.000m
2
, đất tọa lạc tại ấp D, T, huyện T, tỉnh Long
An với giá 172.000.000 đồng/năm, thời hạn thuê 05 năm (tính t15/08/2018
đến ngày 15/08/2023), tiền thuê đất được thanh toán vào 15/08 hàng năm, hợp
đồng thuê đất do ông S và L đại diện kết với gia đình N. Bị đơn thực
hiện nghĩa vụ thanh toán tiền thuê đất cho nguyên đơn được 02 năm. Theo thỏa
thuận, khi hết hạn hợp đồng thuê đất bđơn mới chịu trách nhiệm san lấp trả lại
mặt bằng cho nguyên đơn như ban đầu. Sau khi hợp đồng thuê đất ngày
03/09/2018, bị đơn đã chi tiền để cải tạo đất thuê xe Kobe đào ao nuôi với
tổng chi phí 450.000.000 đồng. Do ông S lớn tuổi nên giao cho con
Nguyễn Thị Kim H1 trực tiếp quản nuôi cá. Trong thời gian cho thuê đất,
4
nguyên đơn nhiều lần gây khó khăn, cản trở phía ông S canh tác đất và làm thiệt
hại tài sản. Cụ thể như sau:
Ngày 25/06/2020, nguyên đơn tự ý cho kobe vào đắp đập chắn ngang cống
thoát nước từ các ao cá của bị đơn để chứa bùn, làm bế tắc đường cấp thoát nước
dẫn vào các ao nuôi cá, gây khó khăn cho chăn nuôi. Đồng thời Kobe cuốc đất
làm hư hỏng đường trải đá dùng để vận chuyển thức ăn và cá khi thu hoạch.
Ngày 18/09/2020, bà N kiện bđơn đòi tiền thuê đất của năm thứ 3. Phía b
đơn cam kết tới vụ lúa Đ 2020-2021 sẽ thanh toán cho nguyên đơn. Ngày
12/03/2021, trong lúc phía bị đơn bán để có đủ tiền thuê đất của năm thứ 3 cho
N nhưng nguyên đơn bơm nước làm ướt đường, gây trơn trượt làm cho thương
lái không thể vận chuyển được nên thương lái đã hủy việc thu mua của bị
đơn. Do không bán được cá nên bị đơn không đủ tiền để thanh toán tiền thuê
đất nên tạm thanh toán trước cho nguyên đơn 120.000.000 đồng nhưng nguyên
đơn không đồng ý. Ngày 06/04/2021, bà H1 nhận thấy ao nguy bị thiệt
hại do ô nhiễm nguồn nước nên làm đơn gửi đến ban ấp D, T a giải nhưng
không thành. Đơn được chuyển về xã T giải quyết. Ngày 11/05/2021, cá trong ao
bắt đầu chết và nổi trên mặt nước. Ngày 14/05/2021, do cá chết quá nhiều,H1
trình báo đến ban quản ấp 4 T trực tiếp đến lập biên bản xác minh vviệc
ao cá nuôi bị chết hàng loạt, xác định là do bị ô nhiễm nguồn nước. Thiệt hại hơn
1.000kg cá trắm cỏ (loại 12con/kg).
Ngày 22/05/2021, do không thể thoát nước trong ao cá ra bằng đường cống
nên bà H1 đã sử dụng mô tơ để bơm nước ra. Nguồn điện sử dụng là ca bà T2
hộ dân sinh sống gần đó (không phải nguồn điện của nguyên đơn). Ông Phan Văn
C cố ý ngắt điện không cho bơm nước (ngắt điện 03 lần). Đồng thời, nguyên đơn
cũng rào đường không cho phía bị đơn vào ao cá. Đến tối hôm ấy, bơm
nước của gia đình bị đơn cũng bị tháo mất. Bà Kim H1 có trình báo đến Công an
xã T nhưng không có ai đến xác minh hiện trường.
Ngày 27/05/2021, bị đơn nhận được giấy mời đến Ủy ban H, N yêu
cầu bị đơn thực hiện đúng theo hợp đồng. Do bị đơn bị bà N nhiều lần gây cản
trở, khó khăn trong việc nuôi nên chưa đủ số tiền 172.000.000đ để trả cho
bà N. Bị đơn có xin thêm thời gian để bán cá rồi trả đủ đtiếp tục canh tác nhưng
N không đồng ý. Sau khi nghe cán bộ ban hòa giải giải thích, bị đơn yêu cầu
chuyển đơn đến Tòa án huyện nhờ giải quyết nhưng nguyên đơn đã tự ý rút đơn,
tuyên bố về tự giải quyết.
Ngày 13/06/2021, nguyên đơn tự ý cho kobe vào phá bờ ao, phá hủy cây
trồng, cây giống trên bờ ao và toàn bộ cá nuôi trong ao số 03, 04 bị tràn trực tiếp
ra sông. Kim H1 cản sau đó báo Công an T. Ông Huỳnh Văn P (Công
an xã) đến hiện trường nhưng không lập biên bản. Ông P mời Kim H1
ngày 14/6/2021 đến Trụ sCông an T để ký cam kết trả tiền thuê đất cho
nguyên đơn nhưng H1 không đồng ý tài sản đã bị phá hủy không được
lập biên bản.
5
Đến ngày 15/06/2021, ông Nguyễn N2 P, T đến lập biên bản về
việc N cho K vào phá bờ ao làm thiệt hại tài sản của bị đơn vào ngày 13/6/2021.
Tài sản thiệt hại bao gồm:
- 10 gốc ổi Ruby 02 năm tuổi đang cho trái 200.000đ/cây = 2.000.000đ
- 1.500 nhánh i giống 10.000đ/nhánh = 15.000.000đ
- 160 thùng ổi Ruby trồng trong thùng nhựa (Chậu nhựa mỏng size13)
100.000đ/thùng = 16.000.000đ
- 01 cái mô tơ bơm nước 1,5HP = 1.000.000đ
- 02 ống nước cỡ 90cm 85.000đ/ống = 170.000đ
- 05 ống nước cỡ 60cm 50.000đ/ống = 250.000đ
- 02 ống nhựa 250cm 270.000đ/ống = 540.000đ
- 100kg lúa giống = 900.000đ
- 03 cây mít 2,5 năm tuổi 200.000đ/cây = 600.000đ
- Hơn 1.000kg cá trắm cỏ (cá nuôi được 06 tháng) với giá 52.000 đồng/kg
đang sống trong ao nhưng bị kobe p bờ thông tràn trực tiếp ra sông ngày
13/6/2021 = 52.000.000đ.
Ngày 10/08/2021, nguyên đơn tiếp tục rào đường không cho bị đơn vận
chuyển thức ăn vào ao cá còn lại. Ngày 13/08/2021, bà N đến trại canh cá của gia
đình bị đơn đòi tiền. Do thời gian này đang là dịch bệnh Covid nên chưa thể bán
cá để trả tiền cho bà N vậy hai bên xảy ra tranh cãi. Ông C cùng bà N1 (con bà
N) xông vào đánh bà H1 sau đó có đến trình báo Công an xã T nhưng chưa được
giải quyết.
Ngày 21/08/2021, con của ông S là bà Nguyễn Thị Ngọc P1 có đến nhà bà
N thông báo cho nguyên đơn đã đủ tiền, yêu cầu nguyên đơn công chứng hợp
đồng để bị đơn thanh toán tiền thuê đất nhưng nguyên đơn không phản hồi. Ngày
23/08/2021, nguyên đơn cố tình lấy lại đất, tự ý cho K vào san lấp toàn bộ các ao
cá, cây giống cây ăn trái trên bờ ao của bị đơn mà không có bất cứ thông báo
nào dù thời hạn thuê đất chưa hết đã gây thiệt hại toàn bội sản của bị đơn, trong
đó các ống cống thoát nước từ các ao cá còn âm dưới đất, Kim H1 nhờ người
đào lấy lên nhưng N không đồng ý. Đang thực hiện chỉ thị 16 của Thủ tướng
Chính Phủ về cách ly hội nên khi máy Kobe phá vườn cây ao cá Kim Hoàng
đang quản lý ao cá không trình báo với chính quyền nên không ai lập biên bản
nhưng có quay vi-deo bằng điện thoại.
Đến ngày 25/8/2021, Kim H1 cùng với những người dân vào nhặt cây
trồng còn sót lại thì bị bà N báo cho ông Nguyễn Bá N2ông Lê Văn T3 chứng
kiến để bắt do hành vi tụ tập đông người.
Tổng thiệt hại lần bị ban phá bờ và cây trồng vào ngày 23/8/2021 bao gồm:
- 299 cây mít Thái siêu sớm 03 năm tuổi – 200.000đ/cây = 59.800.000đ
- 950 cây ổi giống Ruby 200.000đ/cây = 190.000.000đ
6
- 246 cây cà na Thái nhân giống – 100.000đ/cây = 24.600.000đ
- 250 Cây ổi Nhoàng Trân châu ruột đỏ 100.000đ/cây = 25.000.000đ
- Cây làm giàn ổi – 10.000.000đ
- Khoai mì củ - 10.000.000đ
- 20.000 hom ổi giống – 20.000.000đ
- Toàn bộ hệ thống ống cống còn đặt dưới ao 30.000.000đ
Tổng thiệt vào ngày 13/6/2021 ngày 23/8/2021 thiệt hại ước tính khoảng
457.860.000 đồng
Bị đơn không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn với lý do:
- Đối với yêu cầu trả tiền thuê đất: chưa đến thời hạn thanh toán tiền
thuê đất nhưng nguyên đơn nhiều lần gây cản trở ncho K đắp đập, phá bờ, hủy
hoại cây trồng, san lấp mặt bằng gây thiệt hại cho bị đơn nên xác định là nguyên
đơn đã vi phạm hợp đồng thuê đất ngày 03/09/2018.
- Về chi phí san lấp mặt bằng: Theo hợp đồng thuê đất ngày 03/9/2018 có
ghi khi hết hạn thuê đất thì bị đơn mới chịu trách nhiệm san lấp đất lại cho phía
nguyên đơn. Tuy nhiên, vì thời hạn cho thuê chưa hết mà phía nguyên đơn đã tự
ý san lấp mặt bằng nên bị đơn không phải chịu khoản phí này.
Do đó, bị đơn ông Nguyễn Văn S và chị Nguyễn Ngọc L không đồng ý yêu
cầu khởi kiện ca nguyên đơn.
Ngoài ra, bị đơn yêu cầu phản tố: Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông
Phan Văn T, bà Nguyễn Thị N, anh Võ Thanh M, chị Phan Thị Diệu H nghĩa
vụ liên đới bồi thường thiệt hại tài sản cho ông Nguyễn Văn S chị Nguyễn
Ngọc L số tiền 457.860.000 (bốn trăm năm mươi bảy triệu tám trăm sáu mươi
nghìn) đồng.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có lời trình bày:
1. Nguyễn Thị Kim H1 trình bày: Ông S chị L có ký hợp đồng thuê
đất của nguyên đơn để nuôi cá. Chị H1 là người phụ giúp cho ông S chị L trong
việc nuôi cá, trồng cây, quản vườn ao. Bà H1 xác định tài sản trên đất thuê là
của ông S và chị L.
Về diễn biến sự việc thuê đất, nuôi cá, trồng cây, tranh chấp về hợp đồng
quá trình tranh chấp dẫn đến thiệt hại tài sản trên đất thuê, H1 thống nhất
với trình bày của ông S và chị L.
Kim H1 xác định bà không yêu cầu độc lập trong vụ án. Trong q
trình Tòa án giải quyết vụ án, Kim H1 đã gửi đơn tố giác N đến quan
Cảnh sát điều tra Công an huyện T về việc N múc bờ ao nuôi của bà H1 làm
trong ao thoát ra ngoài kênh, vùi lấp cây trồng thiết bị nuôi yêu cầu
Cơ quan CSĐT Công an huyện T xử lý theo quy định.
Trong thời gian Tòa án chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, Kim H1 văn bản
trình bày ý kiến bị thiệt hại tài sản lớn do hành vi đơn phương chấm dứt hợp
7
đồng, san lấp đất lấy lại đất ca nguyên đơn nên bản thân bà Kim H1 tiếp tục yêu
cầu Cơ quan CSĐT giải quyết, bà không yêu cầu độc lập trong vụ án.
2. Ông Phan Văn C: Không có văn bản trình bày ý kiến.
3. Ông Phan Văn T1: Không có văn bản trình bày ý kiến
4. Ông Nguyễn Văn V trình bày tại Bản tự khai ngày 07/01/2025 như sau:
Vào cuối tháng 9/2021 gia đình ông T, N thuê K của ông V để san lấp 03
ha đất do ông S, bà bà L thuê đào ao nuôi cá trước đó giá 40.000.000 đồng/1 ha.
Tổng cộng số 172.000.000 đồng, ông T bà N đã trả cho ông V. Lúc ông V
đưa K vào san lấp ao thì tình trạng ao bỏ không hơn một năm, không còn cá;
trên bờ chỉ có c mọc, không có cây trồng. Thời gian sang lấp 20 ngày mới xong.
Ông V cam kết lời khai của ông hoàn toàn sự thật. sai trái ông hoàn toàn
chịu trách nhiệm trước pháp luật.
6. Bà Nguyễn Ngọc N3: Không có văn bản trình bày ý kiến.
Những người làm chứng có lời trình bày:
1. Ông Nguyễn N2 trình bày tại c biên bản lấy lời khai ngày 08/11/2022
và ngày 22/8/2025 như sau: Ông Nguyn Bá N4 có công tác ti y ban nhân dân
T chc v phó p, kiêm Công an viên ph trách p 4, T t năm 2015 đến
nay. Ông N2 biết H1 nhà H, huyn T, tnh Long An đến ấp thuê đt
ca bà Nguyn Th N đê nuôi cá, sau đó giữa hai bên có xy ra tranh chp v hp
đồng nên ông tham gia gii quyết. C th ông N4 tham gia gii quyết v vn
đề như sau:
Ngày 15/6/2021, bà Kim H1 đến nhà ca ông N2 trình báo s vic bà N thuê
máy xúc đất (K) múc ao làm thit hi tài sn ca H1 vào ngày 13/6/2021 nh
ông N2 đến xác minh. Ông N2 đến ch ao nuôi cá ca bà Kim H1 để xem xét
thì thy b bao phía trong ao b múc thông tới đáy ao 03 v trí thông 03 ao
vi nhau (còn lại 01 ao) thông ra đường ơng chung của Kim H1 vi
N, ông N2 thấy nước rút cn còn mt s ít cá, đất múc lên đ v trí bà H1 trng i,
mít. Do đất vùi lp nên tôi ghi nhn mt s tài sn thit hi theo li khai ca
H1. Khi lp biên bn ch ông N2 Kim H1 ký không người chng kiến,
đã lâu nên ông N2 không nhtài sản nhưng lp biên bn có cung cp cho
bà Kim H1. Trong lúc nói chuyn bà Kim H1 có nói trước đó có anh P phó công
an xuống nhưng không lp biên bn gì (ông N2 không biết anh P xung gii
quyết v việc gì). Sau đó thì ông N2 v do bn công vic nên quên không có báo
li vi công an xã T, ch có trao đổi ming với trưởng p (Lê Văn Đ1), không có
xác minh hay x lý gì tiếp theo.
Trước đó (năm 2020 và 2021) ban hòa giải p có t chc hòa gii gia bà N
Kim H1 trong vic tranh chp hợp đng thuê ao (có biên bản) được s
thng nht ca hai bên.
Ông N2 nm tình hình biết được hin ao c N đã thuê K san lp toàn b
và ly lại đ làm rung, Kim H1 cũng không có trình báo gì nên c nghĩ rằng
hai bên đã thỏa thuận được vi nhau nên không yêu cu gii quyết na.
8
Biên bản hòa giải ngày 21/4/2021 là do ông N2 lập, đúng là chữ ký của ông
N2. Nội dung ông N2 lập biên bản về việc bà N lấp đường thoát nước của ông S
bà Kim H1 nên ảnh hưởng đến thoát nước và đường vận chuyển thức ăn cá của
ông S và Kim H1. Ông N2 đến đất để xác minh và có thấy ông T, bà N có
bơm bùn lên đắp dẫn đến việc chặng đường nước làm cho nước không ra vào được
làm ô nhiễm nước nuôi cá. Ngày 21/5/2021 ông N2 lập biên bản vviệc
Kim H1 trình báo trong ao nuôi chết hàng loạt do ô nhiễm nguồn nước, về
nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước thì không biết.
2. Ông Huỳnh Văn P trình bày tại bản tường trình ngày ngày 20 tháng 09
năm 2022 nsau: Vào ngày 25/05/2021 bà Kim H1 đến Công an xã T gặp
ông trình báo vụ mất trộm 01 (một) mô điện trị giá khoảng một triệu mấy
H1 nghi ngờ ông Phạm Văn C1 sinh năm 1981, HKTT tại ấp D, T, huyện
T, tỉnh Long An (con trai bà Nguyễn Thị N) sinh lấy trộm mô tơ của bà Kim H1
vì lý do trước đây có xích mích về hợp đồng thuê đất giữa cha của bà Kim H1 và
N chưa đưa tiền thuê đất. Sau đó xuống hiện trường vụ việc xác minh thì
không ai biết cái mô tơ của bà Kim H1 mất và cũng không ai có nghi vấn gì. Tài
sản bị mất trị giá nhỏ nên Công an xã lập hồ sơ để theo dõi và điều tra xử . Theo
như lời trình bày củaKim H1, được biết cha của bà Kim H1 có hợp đồng th
đất với bà N để nuôi cá với diện tích là 04 héc-ta đất, năm nào thì trả tiền thế đất
nhưng Kim H1 đứng ra để nuôi cá mà tới hạn không trả tiền nên giữa 2 bên có
mâu thuẫn và đã được Ban quản lý ấp 4, xã T hòa giải hai lần. Kim H1 xin hẹn
để lên rồi trả tiền nhưng gì do không lên được nên không trả tiền.
vậy, N đòi lấy đất lại để canh tác. Ông P giải thích cho Kim H1 biết
đó là hợp đồng dân sự thì hai bên tự thỏa thuận với nhau.
Còn vụ việc thứ hai theo ntrình bày của Kim H1 không . Ngày
13, 14/06/2021, ông P không có gặp bà Kim H1 và cũng không có ai trình báo v
việc với ông P. Đến khi ông P cùng với tổ hòa giải của xuống ấp D, T,
huyện T, tỉnh Long An để hòa giải vdân sgiữa cha Kim H1 N. Nội
dung hòa giải thì được biết là cha của bà Kim H1 có thuê đất của bà N để nuôi cá.
Tới thời hạn trả tiền Kim H1 không trả tiền thì bên N lấy đất lại để
canh tác. N thuê K để múc cống 01 hầm không nuôi để thoát nước
san lấp. Kim H1 báo ông Nguyễn N2 (phó ấp 4) về vụ việc trên. Ông N2
trình bày tiếp nhận tới hiện trường lập biên bản vụ việc và được
Kim Hoàng cung C2 múc cống hầm đất không nuôi bị cây ổi
cây mít (đã lập biên bản). Sau đó ông N2 báo cáo lên Ủy ban nhân dân xã X1 để
hòa giải. Cuộc hòa giải ông P đi theo thì được biết Kim Hoàng X đlên hầm
cá, rồi trả tiền thuê đất. Bà Kim H1 yêu cầu đền my cây ổi và cây mít do K múc
cống hư thì bên Bà N đồng ý và yêu cầu bên bà Kim H1 lên cá xong trả tiền đầy
đủ, nếu không trả tiền thì sẽ lấy đất lại để canh tác. Bên Bà Kim H1 không đồng
ý thỏa thuận trên vì cho rằng hợp đồng thuê đất tới 05 năm mà hiện tại mới thuê
03 năm nên không đồng ý với thỏa thuận. Tổ hòa giải xã chỉ ra trong hợp đồng
nêu là năm nào thì trả tiền thuê đất năm đó, tính đầu năm hiện tại tới
cuối năm Kim H1 không trả tiền thuê đất tiền san lấp mặt bằng theo như
hợp đồng. Qua vụ việc hòa giải không thành trên thì được biết bà Kim H1 lên
9
ở hầm đất rồi mà không có trả tiền cho bà N. Bà N đã tự san lắp hầm và canh tác
tới nay, do nợ tiền 01 năm thuê đất nên các bên tranh chấp.
Tại Bản án dân sự thẩm số 133/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh đã căn cứ khoản 3, khoản 6 Điều 26;
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 5, 147, Điều 217, 218,
227, 228, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 116, 117, 288, 385, 422, 428, 502,
468 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận mt phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan n
T, bà Nguyễn Thị N, anh Lê Thanh M1, chị Phan Thị Diệu H: Buộc bị đơn là ông
Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Ngọc L nghĩa vụ liên đới trả cho ông Phan Văn
T, Nguyễn Thị N, anh Thanh M1, chị Phan Thị Diệu H số tiền thuê đất
100.333.333 (một trăm triệu ba trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba) đồng.
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Phan
Văn T, Nguyễn Thị N, anh Lê Thanh M1, chPhan Thị Diệu H về việc yêu cầu
bị đơn ông Nguyễn Văn S Nguyễn Ngọc L trả
số tiền chi phí san lấp trả lại hiện trạng đất là 172.000.000 đồng.
Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn S Nguyễn
Ngọc L về việc yêu cầu nguyên đơn ông Phan Văn T, Nguyễn Thị N, ông
Thanh M1, Phan Thị Diệu H bồi thường thiệt hại tài sản với số tiền
457.860.000 (bốn trăm năm mươi bảy nghìn tám trăm sáu mươi) đồng.
Ngoài ra, án thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo; quyền và nghĩa vụ của
các đương sự ở giai đoạn thi hành án, chi phí tố tụng.
Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.
Ngày 15/10/2025 bị đơn ông Nguyễn Văn S kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
bị đơn xác định giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Bị đơn do bà Kim H1 đại diện ủy quyền có lời trình bày: Yêu cầu hủy bản
án vì hồ sơ hiện cơ quan điều tra đang thụ lý và giai đoạn tạm đình chỉ liên quan
đến hành vi hủy hoại tài sản của bên thuê. Bị đơn thừa nhận bên thuê đất có hành
vi vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của bên thuê
và phát sinh thiệt hại về tài sản. Tuy nhiên, cấpthẩm chưa làm rõ đánh giá
đầy đủ, chưa đối chất. Nguyên đơn có hành vi làm ảnh hưởng đến thu hoạch hoa
lợi. Nhiều lần bị đơn đề nghị thanh toán trước số tiền 120.000.000 đồng nhưng
nguyên đơn không chấp nhận. Đến ngày 21/8/2021 bị đơn bán chuẩn bị
172.000.000 đồng để thực hiện nghĩa vụ, do hợp đồng chưa được chứng thực nên
phía bị đơn chưa thực hiện nghĩa vụ của bên thuê đất. Các nội dung liên quan đến
10
lời trình bày của ông Lê Bá N5 chưa được đối chất làm rõ. Nguyên đơn đã có tác
động lên tài sản của bên thuê khi chưa có thỏa thuận chấm dứt hợp đồng thuê đất.
Nguyên đơn vắng mặt, người liên quan ông M1, H do ông Khắc Đ
đại diện ủy quyền lời trình bày: Hợp đồng thuê đã thực hiện trả tiền thuê 02
năm, tuy nhiên việc trả chưa đầy đủ, đến m thứ 03 bên thuê đặt vấn đkhông
chứng thực hợp đồng nguyên nhân không trả tiếp tiền thuê đất không phù
hợp. bản chất của hợp đồng đã thực hiện việc công chứng hay không, không
làm ảnh hưởng đến những điều kiện thỏa thuận trong hợp đồng thuê đất giữa các
bên. Ngày 18/9/2020 hai bên hòa giải, bị đơn thừa nhận còn nợ 22.000.000 đồng
phải trả 172.000.000 đồng của vụ năm 20202021. Ông S nghĩa vụ thu
hoạch cây trái trong thời hạn 04 tháng do vi phạm hợp đồng (đến tháng 8 năm
2020); tuy nhiên ông S vẫn không thu hoạch. Chính quyền địa phương xác minh
thời điểm ngày 25/8/2021 có nội dung bên thuê đất trễ hạn trả tiền 12 tháng. Bên
thđất đến cuối năm thứ 3 vẫn vi phạm thời hạn trả tiền. Nguyên đơn đã chi phí
san lấp mặt bằng đồng ý một phần đất không tính tiền thuê do nguyên đơn
có lợi cho bên thuê.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm:
Cấp phúc thẩm thực hiện đúng pháp luật về tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến
khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên
tòa các đương sthực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình. Bị đơn ông S kháng
cáo đúng quy định tại các Điều 273, Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều
kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về yêu cầu kháng cáo: Ông S kháng cáo yêu cầu hủy bản án quan
điều tra đang thụ lý giải quyết đối với hành vi hủy hoại tài sản của bên thuê. Tuy
nhiên, cơ quan điều tra đã tạm đình chỉ liên quan đến yêu cầu giám định, yêu cầu
bồi thường của bị đơn đã rút yêu cầu và cấp sơ thẩm đã đình chỉ. Cấp sơ thẩm chỉ
giải quyết các yêu cầu của nguyên đơn liên quan đến số tiền thuê đất chưa trả do
đó yêu cầu hủy bản án không căn cứ chấp nhận. Các bên thống nhất xác lập
hợp đồng thuê đất, hợp đồng không chứng thực nhưng các bên đã thực hiện
thanh toán tiền thuê trong 02 năm, hợp đồng thỏa thuận không trái quy định của
pháp luật nên có hiệu lức thi hành. Các bên thỏa thuận thời hạn thuê, trả tiền thuê.
Bị đơn xác định vi phạm thời hạn trả tiền thuê tuy nhiên do phía nguyên đơn
tác động làm ảnh hưởng đến thu hoạch cá, nguồn thu cho việc trả tiền thuê đất.
do, bị đơn đưa ra để chậm việc trả tiền thuê đất cho nguyên đơn không được
chấp nhận nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn căn cứ chấp nhận. Do đó,
yêu cầu kháng cáo của bị đơn không có căn cứ chấp nhận.
Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông S. Căn cứ khoản 1 Điều
308 Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 133/2025/DS-
ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
11
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn S được thực hiện trong thời hạn luật định,
đúng hình thức, nội dung theo quy định tại các Điều 272, 273 và 278 Bộ luật Tố
tụng dân sự, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông S, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và hiệu lực hợp đồng: Căn cứ các tài
liệu, chứng cứ trong hvụ án lời trình bày của các đương sự tại phiên
tòa, đủ sở xác định giữa nguyên đơn bị đơn giao kết hợp đồng thuê
quyền sử dụng đất ngày 03/9/2018. Nội dung hợp đồng thể hiện rõ diện tích thuê,
thời hạn thuê, giá thuê, phương thức thanh toán nghĩa vụ của các n. Hợp
đồng được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không
trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự.
[2.2] Về nghĩa vụ thanh toán tiền thuê đất: Theo thỏa thuận trong hợp đồng,
bị đơn nghĩa vụ thanh toán tiền thuê đất hàng năm. Tuy nhiên, bị đơn đã không
thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán theo cam kết. Cụ thể, sau khi thanh toán
không đầy đủ tiền thuê của các năm đầu, đến kthanh toán tiếp theo bị đơn không
tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đã được nguyên đơn nhiều lần yêu cầu và được hòa
giải tại địa phương. Bị đơn cho rằng nguyên đơn có hành vi cản trở việc sử dụng
đất, gây thiệt hại dẫn đến việc không khả năng thanh toán tiền thuê đất. Tuy
nhiên, lý do trên không được xem là căn cứ để xem như bđơn không vi phạm về
thời hạn thanh toán tiền thuê đất theo thỏa thuận hợp đồng hai bên đã xác lập. Do
đó, việc Tòa án cấp thẩm buộc bị đơn phải thanh toán một phần tiền thuê đất
cho nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
[2.3] Về yêu cầu không chấp nhận nghĩa vụ thanh toán tiền thuê đất của bị
đơn: Bị đơn cho rằng chưa đến hạn thanh toán nguyên đơn đã vi phạm hợp
đồng trước nên không phải trả tiền thuê đất. Tuy nhiên, theo nội dung hợp đồng
và tài liệu trong hồ sơ, nghĩa vụ thanh toán tiền thuê đất được xác định theo từng
kỳ và bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ này trước khi phát sinh các tranh chấp gay gắt
giữa các bên. Mặt khác, bđơn không thực hiện quyền yêu cầu chấm dứt hợp đồng
theo đúng trình tự luật định mà vẫn tiếp tục sử dng đất trong một thời gian nhất
định. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận lập luận của bị đơn về việc không phải
thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền thuê đất.
[2.4] Về các thiệt hại tài sản mà bị đơn có yêu cầu phản tố, tuy nhiên đã tự
nguyện rút yêu cầu và cấp sơ thẩm đã đình chỉ giải quyết. Nguyên đơn khởi kiện
tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 03/9/2018, cụ thể bị đơn vi
phạm về nghĩa vụ trả tiền thuê đất. Bị đơn có yêu cầu Cơ quan điều tra giải quyết
hành vi hủy hoại tài sản của nguyên đơn, đây là 02 hành vi khác nhau nên bị đơn
yêu cầu hủy bản án sơ thẩm với lý do chờ Cơ quan điều tra giải quyết là không
căn cứ chấp nhận.
[3] Từ những nhận định trên, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông
S. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm s133/2025/DS-ST, ngày 30/9/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 2 Tây Ninh. Lời đề nghị của Kiểm sát nhân dân tỉnh
T có căn cứ được chấp nhận.
12
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn S người cao tuổi được
miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 B luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn S.
1. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 133/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn S được miễn án phí.
3. Án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay sau khi tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 2 – Tây Ninh ;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, án văn.
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Bích Tuyền
Tải về
Bản án số 606/2026/DS-PT Bản án số 606/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 606/2026/DS-PT Bản án số 606/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất