Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TAND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 06/2024/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TAND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Cao Lộc (TAND tỉnh Lạng Sơn) |
Số hiệu: | 06/2024/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 29/05/2024 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Chị Linh Thị M và anh Lý Văn S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn ngày 03/5/2013 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh Lý Văn S dính vào tệ nạn ma túy và năm 2022 anh phải đi cai nghiện. Sau khi hết thời gian cai nghiện trở về thì mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn, tháng 12/2023 vợ chồng sống ly thân. Nay cả hai bên đều nhất trí ly hôn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LỘC
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 06/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29-5-2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nông Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Tô Thị Lợi
Bà Nguyễn Bích Hằng.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Tùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham
gia phiên tòa: Bà Mã Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh
Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số:
08/2024/TLST- HNGĐ, ngày 27 tháng 3 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về
nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày
13 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Linh Thị M, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Thôn N, xã X,
huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Lý Văn S, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Thôn K, xã X, huyện
C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Linh Thị M vắng mặt có đơn yêu cầu Tòa án
xét xử vắng mặt. Theo đơn xin ly hôn đề ngày 29/02/2024, nộp tại Tòa án ngày
04/3/2024, bản tự khai ngày 28/3/2024 chị Linh Thị M trình bày: Chị và anh Lý
Văn S kết hôn năm 2013 trên cơ sở tự nguyện được tổ chức cưới hỏi theo phong
tục tập quán và cùng nhau đi đăng ký kết hôn vào ngày 03/5/2013 tại Ủy ban nhân
dân xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được
thời gian đầu, đến năm 2014 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân anh
Lý Văn S dính vào tệ nạn xã hội, chị đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh Lý Văn
S không thay đổi cho đến giữa năm 2022 thì anh Lý Văn S phải đi cai nghiện bắt
buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn nên vợ chồng chị đã không còn
chung sống từ thời điểm đó đến nay và hiện tại chị cũng đã chuyển về nhà mẹ đẻ
2
tại thôn N, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn sinh sống. Nay chị xác định tình cảm
giữa chị và anh Lý Văn S không còn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được
ly hôn với anh Lý Văn S.
Về con chung: Chị và anh Lý Văn S có 02 con chung là cháu Lý Thành D,
sinh ngày 06/11/2012 và cháu Lý Thiên P, sinh ngày 24/01/2016, hiện các con
đang sống cùng anh Lý Văn S. Trong đơn ly hôn chị yêu cầu anh Lý Văn S sẽ là
người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung cho đến
khi các con đủ 18 tuổi, chị có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi các con là 2.000.000
đồng/tháng cho cả 02 con đến khi các con đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, nếu anh Lý Văn
S không nhất trí nuôi dưỡng các con thì chị sẽ có trách nhiệm nuôi dưỡng các con
chị không yêu cầu anh Lý Văn S phải cấp dưỡng nuôi con cho chị.
Về tài sản chung, nợ chung và cho vay chung: Không có.
Tại phiên tòa bị đơn anh Lý Văn S vắng mặt có yêu cầu Tòa án xét xử vắng
mặt. Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/4/2024 anh Lý Văn S trình bày: Anh và chị
Linh Thị M có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Lạng
Sơn vào ngày 03/5/2013 và được hai bên gia đình tổ chức hôn lễ kết hôn theo
phong tục tập quán. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến năm
2014 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn lý do anh dính vào tệ nạn ma túy và năm
2022 anh phải đi cai nghiện. Sau khi hết thời gian cai nghiện trở về thì mâu thuẫn
vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn, tháng 12/2023 vợ chồng sống ly thân. Nay
chị Linh Thị M xác định tình cảm vợ chồng không còn, xin ly hôn anh, anh nhất
trí ly hôn.
Về con chung: Chị Linh Thị M và anh Lý Văn S có 02 con chung là cháu
Lý Thành D, sinh ngày 06/11/2012 và cháu Lý Thiên P, sinh ngày 24/01/2016,
hiện các con đang sống cùng với anh Lý Văn S. Khi ly hôn, anh nhất trí sẽ là
người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung cho đến
khi các con đủ 18 tuổi, chị Linh Thị M có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi các con là
2.000.000 đồng/tháng cho cả 02 con đến khi các con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung và cho vay chung: Không có.
Ý kiến của con chung chưa thành niên cháu Lý Thành D và cháu Lý Thiên
P trình bày tại các bản tự khai: Hiện nay các cháu đang ở cùng bố là anh Lý Văn
S, nếu bố mẹ ly hôn 02 cháu Lý Thành D và cháu Lý Thiên P đều có nguyện vọng
được ở cùng với bố là anh Lý Văn S.
Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên nên Tòa án tiến hành thu
thập tài liệu chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo
quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại Công văn số 34/UBND
ngày 16/5/2024, Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn cho biết chị Linh
Thị M và anh Lý Văn S kết hôn vào năm 2013 và chung sống với nhau tại thôn
K, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Ngày 12/4/2022 anh Lý Văn S bị xử lý hành
chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đến ngày 12/12/2023, chấp hành xong và
được về nhà. Trong thời gian anh Lý Văn S cai nghiện thì chị Linh Thị M vẫn ở
nhà anh Lý Văn S nuôi hai con cho đến khi anh Lý Văn S chấp hành cai nghiện
xong về thì vợ chồng có mâu thuẫn, chị Linh Thị M cho rằng anh Lý Văn S nghiện
3
ma túy nên không thể sống chung với nhau được nữa; Chị Linh Thị M và anh Lý
Văn S có 02 người con chung là cháu Lý Thành D, sinh ngày 06/11/2012 và cháu
Lý Thiên P, sinh ngày 24/01/2016. Chị Linh Thị M và anh Lý Văn S đều làm
ruộng, không có tài sản chung nào.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân
theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; người
tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và quan điểm giải quyết vụ án
như sau: Về thẩm quyền thụ lý vụ án; xác định mối quan hệ tranh chấp; xác định
tư cách của những người tham gia tố tụng; thông báo thụ lý vụ án; việc giao nộp
chứng cứ; việc thu thập chứng cứ lấy lời khai của đương sự; việc tống đạt các văn
bản tố tụng; việc thông báo, thành phần, trình tự về phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thời hạn chuẩn bị xét xử; thời hạn
gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu và gửi các văn bản tố tụng cho Viện kiểm
sát được thực hiện đúng theo các Điều 28, 35, 68, 96, 97, 98, 177, 179, 195, 196,
220, 238, 239 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc tuân theo pháp luật Tố tụng
của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng
quy định về việc viết bản tự khai và cung cấp tài liệu, chứng cứ theo quy định; bị
đơn chưa thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản
1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và
gia đình; điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4, 6 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản
1 Điều 228 của Bộ luật tố Tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27
Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Linh
Thị M, cho chị Linh Thị M ly hôn với anh Lý Văn S. Về con chung: Chị Linh Thị
M và anh Lý Văn S có 02 con chung là cháu Lý Thành D, sinh ngày 06/11/2012
và cháu Lý Thiên P, sinh ngày 24/01/2016, hiện các con đang sống cùng với anh
Lý Văn S. Khi ly hôn, chị Linh Thị M đề nghị anh Lý Văn S là người trực tiếp
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung cho đến khi các con đủ
18 tuổi, chị Linh Thị M có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi các con là 1.000.000
đồng/tháng/con cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Đề nghị Hội đồng xét xử giao
cháu Lý Thành D và cháu Lý Thiên P cho anh Lý Văn S trực tiếp nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục, chị Linh Thị M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.000.000
đồng/tháng/con cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, thời điểm cấp dưỡng tính
từ ngày tuyên án. Chị Linh Thị M có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung
không ai được cản trở. Về tài sản chung, nợ chung và cho vay chung: Không có.
Về án phí: Chị Linh Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn và
án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo
quy định của pháp luật.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như
sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn chị Linh Thị M có đơn đề nghị
Tòa án xét xử vắng mặt và bị đơn anh Lý Văn S đã có nguyện vọng xét xử vắng
mặt được ghi trong lời khai. Toà án đã thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn
bản tố tụng cho bị đơn, như: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ.... Tại phiên tòa hôm nay,
nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt. Theo quy định khoản 1 Điều 228 của Bộ luật
Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Linh
Thị M và bị đơn anh Lý Văn S.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngày 04/3/2024 chị Linh Thị M gửi
đơn xin ly hôn với anh Lý Văn S và yêu cầu giải quyết về con chung nên xác định
quan hệ tranh chấp là ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo khoản 1 Điều 28 của Bộ
luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Linh Thị M và anh Lý Văn S kết hôn với
nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện
C, tỉnh Lạng Sơn ngày 03/5/2013 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng
chung sống hạnh phúc, sau đó vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là
do anh Lý Văn S dính vào tệ nạn ma túy và năm 2022 anh phải đi cai nghiện. Sau
khi hết thời gian cai nghiện trở về thì mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng
hơn, tháng 12/2023 vợ chồng sống ly thân. Nay cả hai bên đều nhất trí ly hôn. Hội
đồng xét xử thấy cuộc hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời
sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần giải
quyết cho chị Linh Thị M được ly hôn anh Lý Văn S là phù hợp với quy định của
pháp luật.
[4] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Linh Thị M và anh Lý
Văn S có 02 con chung là cháu Lý Thành D, sinh ngày 06/11/2012 và cháu Lý
Thiên P, sinh ngày 24/01/2016, hiện các con đang sống cùng với anh Lý Văn S.
Khi ly hôn chị Linh Thị M yêu cầu anh Lý Văn S sẽ là người trực tiếp trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung cho đến khi các con đủ 18 tuổi,
chị có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi các con là 2.000.000 đồng/tháng cho cả 02 con
đến khi các con đủ 18 tuổi, anh Lý Văn S nhất trí sẽ là người trực tiếp trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung cho đến khi các con đủ 18 tuổi,
chị Linh Thị M có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi các con là 2.000.000
đồng/tháng/02 con đến khi các con đủ 18 tuổi như ý kiến của chị Linh Thị M và
cả hai cháu đều đã trên 07 tuổi các cháu đều có nguyện vọng được ở với anh Lý
Văn S. Xét thấy, yêu cầu của chị Linh Thị M và ý kiến của anh Lý Văn S cũng
như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật; phù
hợp và đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt tránh gây sự xáo trộn ảnh hưởng đến
tâm sinh lý của các cháu. Do vậy, Hội đồng xét xử giao cháu Lý Thành D và cháu
Lý Thiên P cho anh Lý Văn S là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
5
giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi và chị Linh Thị M phải có nghĩa vụ cấp dưỡng
nuôi con chung cho anh Lý Văn S là 2.000.000 đồng/tháng/02 con cho đến khi
các con đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án (29/5/2024). Chị
Linh Thị M có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
[5] Về tài sản chung, nợ chung và cho vay chung: Không có.
[6] Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ, phù hợp với nhận
định của Hội đồng xét xử và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội
đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí: Chị Linh Thị M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)
tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn và 300.000 đồng tiến án phí cấp
dưỡng nuôi con sung ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của
Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều
83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm
b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 264, Điều 266,
Điều 271, Điều 273, điểm a khoản 2 Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều
27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Linh Thị M,
cho chị Linh Thị M được ly hôn anh Lý Văn S.
2. Về con chung: Giao cháu Lý Thành D, sinh ngày 06/11/2012 và cháu Lý
Thiên P, sinh ngày 24/01/2016 cho anh Lý Văn S là người trực tiếp trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị Linh Thị M có
quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Linh Thị M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con
cho anh Lý Văn S mỗi tháng là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) /tháng/02 con đến
khi các con đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án (29/5/2024).
4. Về lãi suất chậm trả: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người
được thi hành án thì người phải thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả
tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác
định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được
quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; nếu không có thỏa
6
thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm
2015.
5. Về án phí: Nguyên đơn chị Linh Thị M phải chịu tiền án phí dân sự sơ
thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) và tiền án phí cấp
dưỡng nuôi con là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Tổng cộng là 600.000
đồng (sáu trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền tạm
ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án
phí, lệ phí tòa án số 0000797, ngày 26/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, chị Linh Thị M còn phải nộp tiếp tiền án phí là
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
6. Về quyền kháng cáo: Chị Linh Thị M và anh Lý Văn S vắng mặt, có
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc
bản án được niêm yết.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND huyện Cao Lộc;
- THADS huyện Cao Lộc;
- Các đương sự;
- UBND xã X, huyện C;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nông Thị Hà
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Bản án số 04/2025/HNGĐ-PT ngày 13/03/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm