Bản án số 06/2020/HNGĐ-ST ngày 19/06/2020 của TAND huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 06/2020/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 06/2020/HNGĐ-ST ngày 19/06/2020 của TAND huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Bù Đốp (TAND tỉnh Bình Phước)
Số hiệu: 06/2020/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/06/2020
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: HÔN NHÂN GIA ĐÌNH
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP, TỈNH BÌNH PHƯỚC.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Chức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sĩ Quốc và bà Điểu Thị Hương
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nông Thúy Hằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đốp, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà:
ông Bùi Quang Hoàng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 6 năm 2020, tại tr sở Tòa án nhân dân huyện B Đ, tỉnh Bình
Phước xét xử thẩm công khai ván thụ số: 87/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng
5 năm 2020 về Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 08/2020/QĐ XXST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ch Trương Thị B, sinh năm 1983 -(Có mt):
B đơn: Anh Dip Thái Q, sinh năm: 1980- (có đơn yêu cầu vng mt);
Cùng địa ch: p TB, xã TT, huyện B Đ, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn yêu cầu ly hôn đề ngày 26/3/2020, các biên bản làm việc tại tòa án và
tại phiên tòa nguyên đơn Chị Trương Thị B trình bày: Chị B anh Diệp Thái Qươl kết
hôn hoàn toàn tự nguyện đăng kết hôn tại UBND T T, huyện B Đ, tỉnh Bình
Phước ngày 07/12/2006. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 10(mười)
năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân chính do hai vợ chồng thường xuyên
cãi nhau, bất đồng quan điểm sống, anh Q không chăm lo đến cuộc sống của vợ con
hay quậy phá. vậy cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng, sống không hạnh phúc. Hiện
tại vợ chng tôi đã sống ly thân từ hơn một tháng nay.
-V con chung: V chng có 03 con chung:
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B Đ
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Bản án số: 06/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 19/6/2020
V/v:“Tranh chấp ly hôn, nuôi
con khi ly hôn.
CNG HOÀ XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lp T do Hnh phúc
2
1.Dip Th M L, sinh ngày: 13/3/2007
2.Dip Xuân T, sinh ngày: 24/10/2010
3.Dip Xuân Ph, sinh ngày: 04/9/2019, tôi yêu cầu được quyn trc tiếp nuôi dưỡng
các con chung cho đến khi đủ 18 tui, không yêu cu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại phiên tòa Chị B cương quyết yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đốp xét xử
cho chị được ly hôn Anh Diệp Thái Q và yêu cầu được tiếp tục trực tiếp, chăm sóc, nuôi
dưỡng các con chung cho đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
Ngoài ra Chị B không yêu cầu gì thêm.
-Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nợ chung:Không có.Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, Chị B không có yêu cầu gì khác;
Trong quá trình giải quyết vụ án: Tại biên bản lấy lời khai tại các biên bản hòa
giải ngày 15 tháng 5 ngày 02/6/2020 Anh Diệp Thái Q thừa nhận lời trình bày của Ch
B là hoàn toàn đúng vphần quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung nchung.
Về nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chng không hợp tính nhau
nên thường xuyên va chạm, vợ chồng đã sống ly thân được hơn một tháng. Anh Q vẫn
còn rất thương vợ con nên anh không đồng ý ly hôn Chị B mà nguyện vọng yêu cầu
Tòa án hòa giải để vợ chồng chị về chung sống đoàn tụ, nuôi dạy con cái.
Bị đơn Anh Diệp Thái Q đơn yêu cầu vắng mặt tại phiên tòa không đồng ý ly
hôn Chị B, nếu Chị B cương quyết yêu cầu a án giải quyết ly hôn thì anh Q đồng ý
giao 03 con chung cho Chị B được quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các con cho đến
khi đủ 18 tuổi. Anh Q không cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết; nợ chung: Không có; Không yêu cầu tòa
án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành m phiên hp kim tra vic giao np, tiếp cn, công khai chng
c và hòa gii nhưng các đương s không thng nht gii quyết toàn b v án, Ch B vn
cương quyết ly hôn. Tòa án tiến hành hòa gii đoàn tụ không thành.
Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chng c cho Tòa án, không còn cung
cp bt k chng c nào khác.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử
thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đều tuân theo đúng trình tự pháp luật quy định. Việc
xác định tư cách những người tham gia tố tụng của Thẩm phán phù hợp với quy định của
3
Luật tố tụng dân sự. Những người tham gia t tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật
từ khi thụ lý v án cũng như tại phiên tòa hôm nay.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Xét đơn yêu cu khi kin ca nguyên đơn Ch Trương Thị B thuộc trường hp
“Tranh chấp v ly hôn, nuôi con khi ly hôn” thuộc thm quyn gii quyết ca Toà án nhân
dân huyn Đốp được quy định ti khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a,
khoản 1 Điều 39 ca B lut t tng dân s.
[2]. Về tố tụng: Bị đơn Anh Diệp Thái Q đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và không
có yêu cầu phản tố, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo Điều 228 Bộ luật tố
tụng dân sự.
[3]. Về nội dung vụ án:
V hôn nhân: Ch Trương Th B và Anh Dip Thái Q kết hôn hoàn toàn t nguyn
đăng ký kết hôn ti UBND xã T T, huyn B Đ, tnh Bình Phước vào ngày 07/12/2006. Xét
đây là hôn nhân hợp pháp.
Tại phiên tòa Ch B vẫn giữ nguyên quan điểm cương quyết yêu cầu được ly hôn anh
Q với lý do tình cảm vợ chồng không thể cải thiện được nữa do mâu thuẫn vchồng đã quá
căng thẳng, mặc dù Chị B đã cho anh Q nhiều hội sửa đổi tính tình nhưng anh Q vẫn
không thay đổi. Thời gian vợ chồng sống ly thân hai người còn không quan tâm chăm sóc
hỏi thăm lẫn nhau nữa. Mặc dù hai bên gia đình đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng Chị
B, anh Q vẫn không hòa thuận.
Bị đơn vắng mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án tại biên bản lấy lời khai và tại biên
bản hòa giải ngày 15/5, biên bản hòa giải ngày 02/6/2020, Anh Diệp Thái Q không đồng ý
ly hôn Chị B , anh Q có nguyện vọng xin đoàn tụ; Chị B không đồng ý và cương quyết yêu
cầu Hi đồng xét xử giải quyết cho ch được ly hôn anh Q do chị không còn tình cảm với
anh Q nữa. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay anh Qươl ng không thay đổi. Vì vậy
nếu tòa án có hòa giải cho vợ chồng chị về chung sống đoàn tụ thì tình cảm vợ chồng cũng
không thể cải thiện được.
Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 01/6/2020 giữa Chị B và anh Q được
biết. Việc Chị B, anh Q mâu thuẫn như thế nào thì địa phương cũng không nắm rõ. Do Chị
B, anh Q không báo địa phương hòa giải. Tuy nhiên, hiện nay Chị Banh Q không sống
4
chung Chị B ng với con chung về bên mẹ ruột sinh sống. Nay anh Q đi làm ăn xa thỉnh
thoảng vẫn đi về.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa Chị B và anh Q đã trầm trọng, cuộc sống chung không
thể kéo dài. Mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu
cầu ly hôn ca Chị B đối với anh Q là hoàn toàn phù hợp với các qui định ca pháp luật.
- Về con chung: Chị B trình bày: Vợ chồng anh chị đã có 03 người con chung tên:
1.Dip Th M L, sinh ngày: 13/3/2007
2.Dip Xuân T, sinh ngày: 24/10/2010
3.Diệp Xuân Ph, sinh ngày: 04/9/2019, các con chung đang ở với Chị B ktừ khi
vợ chồng sống ly thân đến nay. Tại phiên tòa Chị B tiếp tục yêu cầu được trực tiếp chăm
sóc nuôi dưỡng 03 con chung cho đến khi đủ 18 tuổi không yêu cầu anh Q cấp dưỡng
nuôi con chung.
- Xét thấy cháu Ph còn nhỏ các cháu L T đều có nguyện vọng được với mẹ thể
hiện tại các biên bản tự ghi lời khai ngày 14/5/2020 để đảm bảo cuộc sống ổn định về mọi
mặt cũng như sự phát triển về tâm sinh lý bình thường của trẻ em vị thành niênthực tế
hiện nay các con chung L, T, Ph đang được Chị B chăm sóc nuôi dưỡng kể từ khi vợ
chồng sống ly thân. Mặt khác, trong quá tnh giải quyết vụ án anh Q cũng đồng ý giao các
con chung cho Chị B được quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. vậy Hội đồng xét xử
cần tiếp tục giao các con chung là L, T, Ph cho Chị B tiếp tục được quyền chăm sóc, nuôi
dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi là hoàn toàn phù hợp với thực tế và phù hợp pháp luật.
-Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trương Thị B không yêu cầu. Hội đồng xét xử
không xét.
- Về tài sản chung: Chị B không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không xét.
- Về nợ chung: Không có; Hội đồng xét xử không xét.
Án phí hôn nhân gia đình thẩm: Chị Trương Thị B phải chịu theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2015;
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 228 B
luật tố tụng dân sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ quốc hội quy định về mức, thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí, lệ
phí Tòa án.
5
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về tranh chấp ly hôn, yêu cầu nuôi con khi ly
hôn”của nguyên đơn chị Trương Thị B đối với Anh Diệp Thái Q.
[1] .Về hôn nhân: Chị Trương Thị B được ly hôn Anh Diệp Thái Q.
[2]. Về con chung: Giao 03 con chung là: Diệp Thị Mỹ L, sinh ngày: 13/3/2007; Diệp
Xuân T, sinh ngày: 24/10/2010 Diệp Xuân Ph, sinh ngày: 04/9/2019 cho Chị B được
quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Q. không phải cấp
dưỡng nuôi con chung được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được quyền
ngăn cản.
Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi
việc nuôi con chung sau khi ly hôn theo Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015.
[3].Về án phí hôn nhân gia đình thẩm: Chị Trương Thị B phải chịu 300.000đ
(Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Chị B đã nộp tại Chi cục thi hành
án dân sự huyện Bù Đốp theo biên lai thu tiền số 0017283 ngày 05/5/2020.
[4].Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bình Phước;
- VKSND huyện Bù Đ;
- THADS huyện B Đ;
- UBND xã T Th;
- Các đương sự;
- Lưu HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X SƠ THẨM
Tải về
Bản án số 06/2020/HNGĐ-ST Bản án số 06/2020/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất