Bản án số 03/2025/HCST ngày 18/04/2025 của TAND tỉnh Bến Tre

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 03/2025/HCST

Tên Bản án: Bản án số 03/2025/HCST ngày 18/04/2025 của TAND tỉnh Bến Tre
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bến Tre
Số hiệu: 03/2025/HCST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/04/2025
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Không chấp nhận yêu cầu
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 03/2025/HC-ST
Ngày: 18 - 4 - 2025
Về việc “Khiếu kiện quyết định hành
chính trong lĩnh vực xử phạt
vi phạm hành chính
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Thắm
Bà Dương Thị Hồng Thùy
- Thư phiên a: Huỳnh Triệu Anh T- Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Thu Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2025, tại trụ sTòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử
thẩm công khai vụ án đã thụ số 53/2024/TLST-HC ngày 26 tháng 11 năm
2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực xử phạt vi phạm
hành chính” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử thẩm số 859/2025/QĐXXST-
HC ngày 04 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1127/2025/QĐST-
HC ngày 27 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện:
Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1987; (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện:
Ông Lê Thanh P, sinh năm 1979; (có mặt)
Địa chỉ thường trú: Q, P, T, tỉnh Bình Định.
Địa chỉ liên hệ: Số H, Đường D, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2
2. Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre. (có văn
bản yêu cầu giải quyết vắng mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Công ty TNHH V1.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng H - Giám đốc.
Địa chỉ trụ sở: Số C, Khu phố A, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Trương Việt K, sinh năm 1987; (có mặt)
Địa chỉ: Số B, Khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
4. Người làm chứng do người khởi kiện tự mời:
Nguyễn Đăng P1, sinh năm 1990; (có mặt)
Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai tại phiên tòa, người đại diện theo ủy
quyền của người khởi kiện ông Nguyễn Văn Q là ông Lê Thanh P trình bày:
Vào lúc 09 giờ 50 phút ngày 04/8/2024, ông Q điều khiển xe khách biển số
71B.00598 từ hướng ngã huyện C về thành phố B, đến đoạn đưởng khu phố C,
ông nghe tiếng xe máy ngã phía sau xe. Qua kính chiếu hậu, ông thấy 01
người phụ nữ chạy xe máy sau xe khách do ông điều khiển. Ông Q dừng xe
quan sát nhưng do nghĩ không va chạm được hành khách đi trên xe nói
người phụ nữ đó tự ngã nên ông tiếp tục cho xe di chuyển về bến cho kịp giờ trả
khách.
Khi vđến trạm, ông Q được thông báo từ tổng đài 02 Cảnh sát giao
thông tìm cho rằng ông gây tai nạn với xe máy biển số 67C1.84133 do chị
Thị Mỹ T điều khiển. Ngay lúc đó, ông cho xe đến quan Công an và nhờ người
thân vào bệnh viện xem tình hình thì được biết chị T bị gãy tay, bác sĩ đã xử lý vết
thương tạm ổn. Qua trao đổi được biết chị T hoàn cảnh khó khăn và tình người,
lương tâm của tài xế nên ông đã đóng viện phí cho chị T, đồng thời chị T thừa
nhận tự té, sau đó có viết biên bản tự thỏa thuận về sự việc chị tự té. Hôm sau, ông
Q có đưa chị T đến cơ quan Cảnh sát giao thông huyện C để làm việc. Tại đây, chị
T thừa nhận chị tự té, không liên quan đến ông Q tự nguyện viết biên nhận về
việc ông Q có hỗ trợ 5.000.000 đồng và trước đó ông Q có đóng viện phí
1.000.000 đồng, tổng cộng là 6.000.000 đồng.
3
Tuy nhiên, sau đó Cảnh sát giao thông huyện C yêu cầu ông Q biên
bản vi phạm với lỗi “vượt xe không đúng quy định” và sẽ bỏ cho ông 0 lỗi “gây tai
nạn giao thông không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không trình báo với cơ quan
thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn”. Lúc này, Cảnh sát giao
thông huyện C cho ông Q xem 01 đoạn ghi hình, khẳng định ông Q điều khiển
xe gây tai nạn nhưng ông Q cho rằng không việc xe ông điều khiển va
chạm với xe chị T không nên không đồng ý nhận lỗi và không đồng ý ký biên bản.
Ông Q yêu cầu được xem biên bản nhưng Cảnh sát giao thông không cho xem.
Sự việc được đưa lên Ủy ban nhân dân huyện C và ông Q báo cáo giải trình sự
việc.
Đến ngày 06/9/2024, ông Q được mời lên nhận Quyết định xử phạt vi phạm
hành chính với 02 lỗi “vượt xe không đúng quy định gây tai nạn giao thông”
“gây tai nạn giao thông không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không trình báo với
quan thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn”. Ông Q yêu cầu
cho xem biên bản vi phạm thì không được xem nên không đồng ý nhận quyết định.
Sau khi chờ không thấy được gửi quyết định về nhà nên đến ngày 18/9/2024 ông Q
có lên ký nhận quyết định xử phạt.
Nay ông Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy Quyết định xử phạt vi
phạm hành chính số 13923/QĐ-XPVPHC ngày 04/9/2023 của Chủ tịch y ban
nhân dân huyện C, đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại 400.000 đồng/ngày tính
từ ngày 04/9/2024 đến khi bản án có hiệu lực pháp luật vì đó là tiền lương cho mỗi
ngày làm việc của ông Q do ông Q bị tước quyền sdụng giấy phép lái xe nên
không thể làm việc kiếm tiền.
Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C văn bản số
1016/UBND-NC ngày 10/4/2025 đề nghị xét xử vắng mặt. Theo văn bản số
3865/UBND-NC ngày 19/12/2024 của người bị kiện nội dung ý kiến như sau:
Vào c 09 giờ 48 phút ngày 04/8/2024, tại đường T, khu phố C, thị trấn C,
huyện C, tỉnh Bến Tre xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe ô tô khách biển số 71B-
005.98 do ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1987, đăng thường trú ấp T, T,
huyện M điều khiển hướng từ Ủy ban nhân dân huyện C về hướng Ủy ban nhân
dân T, khi đến khu vực trên thì xảy ra va chạm với xe biển số 67C1-
841.33 do chị Lý Thị Mỹ T, sinh năm 1991, đăng ký thường trú: Tổ F, ấp H, xã H,
huyện P, tỉnh An Giang điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước. Hậu quả: chị
Lý Thị Mỹ T bị thương, phương tiện bị hư hỏng, thiệt hại khoảng 500.000 đồng.
Khi Tổ công tác Cảnh sát giao thông huyện C đến hiện trường thì người dân
đã đưa Thị Mỹ T đi cấp cứu, phương tiện dấu vết xáo trộn một phần do quá
trình cấp cứu nạn nhân nhiều phương tiện tham gia giao thông; riêng xe
4
khách gây tai nạn đã rời khỏi hiện trường. Qua thu thập thông tin liên quan của
người chứng kiến, đồng thời trích xuất từ camera của hộ dân trong khu vực hiện
trường, xác định phương tiện liên quan vụ tai nạn giao thông xe ô khách
biển số 71B-005.98 thuộc sở hữu của nhà xe H1. Tổ công tác đã đến nhà xe xác
minh, xác định vào thời gian trên, xe ô khách biển số 71B-005.98 do tài xế
Nguyễn Văn Q điều khiển có xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 67C1-841.33 do
chị Thị Mỹ T điều khiển. Tổ công tác đã mời ông Q về làm việc, khám nghiệm
các dấu vết có liên quan trên phương tiện.
Công an huyện đã thực hiện hoàn tất các hồ sơ, thủ tục ban đầu, tiến hành
mời các bên liên quan đến vụ việc, thực hiện thỏa thuận dân sự giữa các bên
theo quy định, theo đó đề xuất hướng xử phạt vi phạm hành chính, cụ thể:
- Đối với chị Thị Mỹ T hành vi điều khiển xe biển số 67C1-
841.33 không có giấy phép lái xe; không có giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm
dân sự của chủ xe giới. Công an huyện tiến hành lập biên bản vi phạm hành
chính ra quyết định xử phạt các hành vi vi phạm đối với chị Thị Mỹ T với
tổng mức phạt tiền 1.650.000 đồng. Đồng thời trả lại phương tiện sau khi thực hiện
xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
- Đối với ông Nguyễn Văn Q hành vi điều khiển xe ô khách biển số
71B-005.98 vượt xe không đúng quy định gây tai nạn giao thông; gây tai nạn giao
thông không giữ nguyên hiện trường, không đến trình báo với quan thẩm
quyền, không cấp cứu người bị nạn. Công an huyện tiến hành lập biên bản vi phạm
hành chính đối với ông Nguyễn Văn Q về các hành vi vi phạm với tổng hợp mức
phạt tiền 28.000.000 đồng, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe 07 tháng. Đồng
thời trả lại phương tiện sau khi thực hiện xong quyết định xử phạt vi phạm hành
chính.
Công an huyện đã nhiều lần mời ông Q đến làm việc, giải thích về hành vi,
vận động, đôn đốc ông Q chấp hành quyết định xử phạt nhưng ông Q không nhận
thức được hành vi vi phạm, không nhận biên bản vi phạm hành chính, không
chấp hành quyết định xử phạt nên Công an huyện đã tạm giữ tang vật, phương tiện
có liên quan để đảm bảo thi hành quyết định đến nay.
Người bị kiện nhận thấy việc ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành
chính đối với ông Q đúng quy định. Đnghị Tòa án xem xét các tài liệu, chứng
cứ để giải quyết theo quy định.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ng ty TNHH V1 là ông Trương Việt K trình bày:
Yêu cầu Tòa án giải quyết cho Công ty TNHH V1 được nhận lại xe về sửa
5
chữa, yêu cầu bồi thường tiền sửa xe và tiền mất thu nhập do bị giữ xe mỗi ngày là
500.000 đồng tính từ ngày 04/8/2024 đến khi vụ kiện kết thúc.
Tại phiên tòa, người làm chứng cho người khởi kiện là chị Nguyễn Đăng P1
trình bày:
Chị vợ của ông Q, đã được gia đình hai bên thừa nhận mặc chưa đăng
kết hôn. Vào ngày xảy ra sự việc, sau khi nghe điện thoại của ông Q thì ch
người đến bệnh viện để xem tình hình chị T như thế nào. Chị T nói không va
chạm do tngã nói chị đừng bchị T. Thấy hoàn cảnh của chị T nên chị
ông Q đã hỗ trợ tiền viện phí. Chị T cũng đã xác định không va chạm mà do
chị tự té, có ký biên bản tự thỏa thuận nhưng không biết vì sao chị T khai với Công
an là có va chạm và khi chị điện thoại cho chT (có cung cấp đoạn ghi âm cho Tòa
án) thì chị T cũng nói va chạm. Chị thấy lời khai của chị T tại các thời điểm
khác nhau có mâu thuẫn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ vụ án tại phiên tòa, Thẩm phán Hội
đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Những người tham gia
tố tụng tại phiên tòa đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo quy định của Luật
Tố tụng hành chính.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 193
Luật Tố tụng hành chính, bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra xem
xét tại phiên tòa; kết qutranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên, Hội
đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính xét thấy:
[1] Về tố tụng:
Người bị kiện đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1
Điều 158 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án xét xử vắng mặt đối với người bị kiện.
Về đối tượng khởi kiện: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số
13923/QĐ-XPVPHC ngày 04/3/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C đối
với ông Nguyễn Văn Q quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện vụ án
hành chính theo quy định tại Điều 30 Luật Tố tụng hành chính.
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Người khởi kiện ông Nguyễn Văn Q
yêu cầu hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13923/QĐ-XPVPHC ngày
04/3/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C nên thuộc thẩm quyền giải quyết
6
của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre theo quy định tại các điều 30, 32 Luật Tố tụng
hành chính.
[2] Về thời hiệu khởi kiện:
Ngày 04/3/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định
xử phạt vi phạm hành chính số 13923/QĐ-XPVPHC đối với ông Nguyễn Văn Q về
các hành vi:
- Điều khiển xe ô tô khách biển số 71B-005.98 vượt xe không đúng quy định
gây tai nạn giao thông.
- Điều khiển xe ô tô khách biển số 71B-005.98 gây tai nạn giao thông không
giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với quan thẩm quyền,
không tham gia cấp cứu người bị nạn.
Tổng số tiền phạt của hai hành vi 28.000.000 đồng. Hình thức phạt bổ
sung: Tước quyền sử dụng giấy phép lái xe hạng D số 790169030607 mang tên
Nguyễn Văn Q cấp ngày 24/11/2020 có giá trị đến 24/11/2025 là 07 tháng.
Không đồng ý quyết định trên, ngày 20/9/2024, anh Q khởi kiện yêu cầu Tòa
án hủy quyết định trên. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính
quy định thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết
định hành chính, hành vi hành chính. Do đó, ông Q khởi kiện vẫn còn thời hiệu.
[3] Về tính hợp pháp và có căn cứ của quyết định hành chính:
[3.1] Về thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính:
Theo quy định tại Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính:
“ 1. Khi phát hiện vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người
có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản, trừ trường hợp xử
phạt không lập biên bản theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật này.
2...
Trường hợp người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm không có mặt tại nơi vi
phạm hoặc cố tình trốn tránh hoặc do khách quan không vào biên bản
thì biên bản phải chữ của đại diện chính quyền snơi xảy ra vi phạm
hoặc của hai người chứng kiến”.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 79 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày
30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ đường sắt thì “Công an viên thẩm quyền lập biên bản
đối với các hành vi vi phạm xảy ra trong phạm vi quản lý của địa phương”.
Tại thời điểm xảy ra sự việc ngày 04/8/2024, anh Q không mặt tại hiện
trường, đại úy Nguyễn Minh T1 thuộc Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện C
7
tiến hành lập biên bản sự việc (BL101) sự chứng kiến của người làm chứng
anh Huỳnh Quốc V. Đến ngày 08/8/2024, Đại úy Nguyễn Minh T1 tiến hành lập
biên bản vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Văn Q về các hành vi: Vượt xe
không đúng quy định gây tai nạn giao thông; gây tai nạn giao thông không giữ
nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với quan thẩm quyền,
không tham gia cấp cứu người bị nạn là đúng theo quy định tại Điều 58 Luật Xử lý
vi phạm hành chính về lập biên bản vi phạm hành chính đúng thẩm quyền lập
biên bản vi phạm hành chính tại Điều 79 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày
30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ và đường sắt.
Bên cạnh đó, tại khoản 29 Điều 1 Luật Xử vi phạm hành chính năm 2020
sửa đổi, bổ sung Điều 58 có quy định “Biên bản vi phạm hành chính phải được lập
tại nơi xảy ra hành vi vi phạm hành chính. Trường hợp biên bản vi phạm hành
chính được lập tại trụ sở quan của người thẩm quyền lập biên bản hoặc địa
điểm khác thì phải ghi rõ lý do vào biên bản.”.
Xét thấy, mặc dù biên bản vi phạm hành chính được lập tại tại trsở cơ quan
Công an nhưng người lập biên bản không ghi do. Tuy nhiên, theo quy định tại
điểm b khoản 5 Điều 12 Nghị định 118/2021/NĐ-CPquy định chi tiết một số điều
và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính cũng quy định:
“Trường hợp người vi phạm không mặt tại nơi vi phạm hoặc cố tình trốn
tránh hoặc do khách quan không ký, điểm chỉ vào biên bản hoặc mặt
nhưng từ chối ký, điểm chỉ vào biên bản thì vẫn lập biên bản biên bản phải
chữ của đại diện chính quyền cấp nơi xảy ra vi phạm hoặc ít nhất 01 người
chứng kiến xác nhận việc cá nhân, tổ chức vi phạm không ký vào biên bản.”
Ngày 04/8/2024, sau khi ra sự việc va chạm, ông Q không mặt tại hiện
trường, người thẩm quyền tiến hành lập biên bản sự việc. Đến ngày 08/8/2024
thì người thẩm quyền lập Biên bản vi phạm hành chính. Mặc biên bản vi
phạm hành chính không ông Q tham dự tên nhưng người chứng kiến
sự việc ngày 04/8/2024 anh Huỳnh Quốc V tên. Do đó, việc lập biên bản vi
phạm hành chính không mặt ông Q tại trụ sở Công an huyện C nhưng mặt
của 01 người chứng kiến là không trái quy định pháp luật.
[3.2] Về thời hạn ban hành quyết định hành chính:
Tại thời điểm xảy ra sự việc ngày 04/8/2024, ông Q đã rời khỏi hiện trường.
Công an huyện C tiến hành lập biên bản sự việc Biên bản vi phạm hành chính
ngày 08/8/2024 01 người chứng kiến tên. Theo đó, tại mục 10 của Biên bản
vi phạm hành chính ghi về quyền thời hạn giải trình thể hiện nội dung về
8
việc ông Q quyền gửi văn bản giải trình đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C
trong thời hạn 05 ngày, như vậy thời hạn ông Q phải gửi văn bản giải trình 05
ngày kể từ ngày 08/8/2024 (tức hạn chót ngày 13/8/2024). Tuy nhiên, đến
ngày 15/8/2024, ông Q mới báo cáo giải trình gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân
huyện C (BL75). Ngoài ra, do vụ việc cần tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ
(lấy lời khai, trích xuất camera, khám nghiệm phương tiện..). Do đó, đến ngày
04/9/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định xử phạt vi
phạm hành chính số 13923/QĐ-XPVPHC ngày 04/9/2023 đối với ông Nguyễn
Văn Q trong thời hạn theo quy định tại Điều 66 Luật Xử vi phạm hành chính
năm 2012 về thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính Điều 61 Luật
Xử lý vi phạm hành chính quy định về giải trình.
[3.3] Về thẩm quyền ban hành quyết định hành chính:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định xử phạt vi phạm
hành chính số 13923/QĐ-XPVPHC ngày 04/9/2023 đối với ông Nguyễn Văn Q là
đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật Xử vi phạm hành
chính và khoản 2 Điều 75 Nghị định Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019
của Chính phủ.
[3.4] Xét nội dung vụ việc:
Vào khoảng 09 giờ 50 phút ngày 04/8/2024, tại đường T, khu phố C, thị trấn
C, huyện C, tỉnh Bến Tre xảy ra vụ tai nạn giao thông do xe ô khách biển số
71B-005.98 do ông Nguyễn Văn Q điều khiển hướng từ Ủy ban nhân dân huyện C
về hướng Ủy ban nhân dân xã T, khi đến khu vực trên thì xảy ra va chạm với xe
biển số 67C1-841.33 do chị Thị Mỹ T, sinh năm 1991, đăng thường
trú: Tổ F, ấp H, H, huyện P, tỉnh An Giang điều khiển lưu thông cùng chiều
phía trước. Hậu quả chị Thị Mỹ T bị thương, phương tiện bị hỏng, thiệt
hại khoảng 500.000 đồng.
Ngày 04/9/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định
xử phạt vi phạm hành chính số 13923/QĐ-XPVPHC ngày 04/9/2023 đối với ông
Nguyễn Văn Q.
Quá trình làm việc, ông Q cho rằng không sự việc va chạm do chị T
tự ngã điều này đã được chị T thừa nhận sự chứng kiến của Công an nên
ông Q không đồng ý với Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13923/QĐ-
XPVPHC ngày 04/9/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C. Ông Q khởi
kiện yêu cầu hủy quyết định nêu trên, đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại
400.000 đồng/ngày tính từ ngày 04/9/2024 đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.
9
Quá trình giải quyết vviệc, ông Q cho rằng chị Thị Mỹ T thừa nhận
tự ngã. Trong biên bản tự thỏa thuận ngày 04/8/2024 (BL07, 77) thể hiện nội
dung: Tôi Nguyễn Văn Q điều khiển xe 71B.0058 nghe xe máy bị té, nhưng
tôi dừng lại thấy không va chạm xe tôi trễ giờ vào trạm xe nên tôi cho xe đi
tiếp. Lý Thị Mỹ T bị té gần xe 71B.0058 nhưng không có va chạm…” nhưng nội
dung thỏa thuận này mâu thuẫn với trình bày của chị T tại biên bản ghi lời khai do
quan Công an huyện C vào ngày 05/8/2024 (sau ngày lập Biên bản tự thỏa
thuận - BL94) và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ.
Tại phiên tòa, chị Nguyễn Đăng P1 cũng cho rằng lời khai của chị T các
thời điểm khác nhau mâu thuẫn. Do đó, Tòa án không sử dụng lời khai của chị
T để làm căn cứ giải quyết vụ án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác
trong hồ sơ để giải quyết vụ án.
Xét thấy, tại Đơn tường trình ngày 04/8/2024, ông Q trình bày: “… khi qua
giao lộ khu phố C, tôi vượt qua xe máy bên hông phải, tôi thấy xe máy thắng
gấp nên lái xe đi, khi cảnh sát giao thông trích camera lại thấy tôi vượt qua xe
máy gây tai nạn nên lúc đó tôi không quan sát kỹ nên tôi chịu phần thuốc men cho
xe máy, nguyên nhân do tôi vượt qua xe máy nên gây tai nạn với xe kia.
Tôi biết lỗi …”(BL74).
Ngoài ra, tại biên bản ghi lời khai của người chứng kiến vụ việc anh
Huỳnh Quốc V vào ngày 04/8/2024 do Công an huyện C, anh V trình bày:
nhìn thấy vụ va chạm gần 10h ngày 04/8/2024 tại đường T; tôi điều khiển xe mô tô
đi giao thịt heo bên chợ B - T khi tới gần cây xăng thị trấn thì thấy xe ô khách
màu xanh chạy vượt lên đụng vào xe mô tô do người nữ chạy một mình té ngã, sau
đó ô đó bỏ chạy luôn về hướng Bến Tre. Tôi một số người dân kế bên đưa
người phụ nữ đó đến Trung tâm y tế H2 cấp cứu…”(BL88).
Tại biên bản ghi lời khai ngày 21/8/2024 do Công an huyện C (BL90), ông
Q cũng trình bày “có thể xảy ra va chạm” giữa xe ô tô khách và xe máy. Chứng tỏ
ông Q cũng chỉ suy đoán chủ quan không thể xác định chính xác được có va
chạm hay không.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của ông Q cho rằng va chạm
giữa xe ô khách do ông Q điều khiển xe máy do chị T điều khiển nhưng
không đáng kể, không do lỗi của ông Q mà do lỗi khách quan.
Trong khi đó, theo đoạn camera được trích xuất do Công an huyện thu thập
thể hiện xe máy và xe ô tô khách đang lưu thông cùng chiều thì xe ô tô khách vượt
lên không đảm bảo khoảng cách an toàn nên phần sau bên phải xe ô khách va
chạm với phần bên trái của xe máy, phù hợp với lời khai chị Thị Mỹ T tại Biên
10
bản ghi lời khai ngày 05/8/2024: tôi điều khiển xe biển số 67C1-841.33 từ
cầu R vòng xuống vòng xoay A (ngã 4 huyện) hướng thành phố B thì xảy ra va
chạm do xe ô khách từ phía sau vượt lên; Vtrí va chạm phần bên hông xe ô
khách bên phải va chạm vào hông trái xe tôi điều khiển…”(BL94) Biên bản
khám nghiệm phương tiện xe (BL106), xe ô khách (BL108) vào ngày
04/8/2024. Theo kết quả khám nghiệm phương tiện (BL 108) thể hiện: Bên hông
phải có vết trượt sạch bụi, kích thước (110x5)cm. Đầu vết cách đất 94cm. Đuôi vết
cách đất 100cm cách mép đuôi xe phía sau là 300cm; Mặt ngoài bánh xe sau
bên phải có vết ma sát, kích thước (23x3)cm, có điểm gần nhất cách chữ “P” trong
dãy chữ “PRESA” theo chiều ngược kim đồng hồ 9cm. điểm xa nhất cách
chữ “P” trong dãy chữ “PRESA” theo chiều ngược kim đồng hồ là 11cm”.
Theo các tài liệu trong hồ vụ án chứng cứ do người bị kiện nộp gồm
biên bản sự việc, biên bản ghi lời khai, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên
bản khám nghiệm phương tiện, đĩa DVD lưu trữ đoạn trích xuất camera… có cơ sở
xác định vào khoảng 09 giờ 50 phút ngày 04/8/2024, tại đường T, khu phố C, thị
trấn C, xe ô khách biển số 71B-005.98 do ông Nguyễn Văn Q điều khiển hướng
từ Ủy ban nhân dân huyện C về hướng Ủy ban nhân dân T xảy ra va chạm
với xe biển số 67C1-841.33 do chị Thị Mỹ T điều khiển cùng chiều phía
trước, hậu quả chị Thị Mỹ T bị thương. Sau khi xảy ra tai nạn thì ông Q rời
khỏi hiện trường, không đến trình báo với cơ quan thẩm quyền, không tham gia
cấp cứu người bị nạn.
Do đó, căn cứ hồ do quan chuyên môn (Công an huyện C) lập thu
thập, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 7
điểm b khoản 8 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của
Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày
28/12/2021 của Chính phủ) để ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số
13923/QĐ-XPVPHC ngày 04/9/2023 đối với ông Nguyễn Văn Q là có căn cứ.
* Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại:
Như đã phân tích trên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết
định xử phạt vi phạm hành chính số 13923/QĐ-XPVPHC ngày 04/9/2023 đối với
ông Nguyễn Văn Q đúng quy định nên việc ông Q yêu cầu bồi thường thiệt hại
là không có cơ sở chấp nhận.
[4] Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện khẳng
định chỉ biết Công an huyện C quyết định kéo dài thời hạn tạm giữ xe khách
biển s71B-005.98 đến ngày 04/9/2024 nhưng đến nay vẫn chưa trả xe cho Công
ty TNHH V1. Người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH V1 yêu cầu được
nhận lại xe để sửa chữa và có yêu cầu bồi thường thiệt hại.
11
Về vấn đề này, Hội đồng xét xử xét thấy:
Người khởi kiện chỉ khởi kiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số
13923/QĐ-XPVPHC ngày 04/9/2023 của Ch tịch Ủy ban nhân dân huyện C.
Trong quyết định nêu trên không có đề cập đến việc tạm giữ xe khách biển số 71B-
005.98 và người khởi kiện, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không
yêu cầu đưa Công an huyện C vào tham gia tố tụng nên Tòa án không đưa Công an
huyện C vào tham gia tố tụng là đúng quy định.
Đối với Công ty TNHH V1, Tòa án đã có Thông báo số 444/TB-TA ngày 05
tháng 02 năm 2025 thông báo về việc đưa Công ty TNHH V1 vào tham gia tố tụng
với cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các thông báo về phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đối thoại nhưng Công ty
TNHH V1 không có văn bản ý kiến, không có đơn yêu cầu gửi cho Tòa án. Vì vậy,
nếu Công ty TNHH V1 cho rằng bị tạm giữ xe không căn cứ hoặc cho rằng
thiệt hại yêu cầu bồi thường thiệt hại thì quyền khởi kiện một vụ kiện
khác.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với các tài
liệu, chứng cứ trong hồ vụ án nhận định của Hội đồng xét xử nên được
chấp nhận.
[6] Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên ông Nguyễn Văn Q
phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193, khoản 1 Điều 348 của
Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ vào Luật Xử vi phạm hành chính; Nghị định số 100/2019/NĐ-CP
ngày 30/12/2019 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số
123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ);
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q về việc yêu cầu hủy Quyết
định xử phạt vi phạm hành chính số 13923/QĐ-XPVPHC ngày 04/9/2023 của Chủ
tịch Ủy ban nhân dân huyện C đối với ông Nguyễn Văn Q yêu cầu bồi thường
12
thiệt hại 400.000 đồng/ngày tính từ ngày 04/9/2024 đến khi bản án hiệu lực
pháp luật.
2. Án phí hành chính thẩm: Ông Nguyễn Văn Q phải chịu 300.000 (ba
trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào s tiền tạm ứng án phí đã nộp
300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền s0007809 ngày 26/11/2024
tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre. Ông Nguyễn Văn Q đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn
kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng các
đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười
lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Bến Tre;
- Cục THADS tỉnh Bến Tre;
- Phòng Thanh tra, Kiểm tra và
Thi hành án TAND tỉnh;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Thu Trang
Tải về
Bản án số 03/2025/HCST Bản án số 03/2025/HCST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 03/2025/HCST Bản án số 03/2025/HCST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất