Bản án số 03/2023/DS-ST ngày 23/03/2023 của TAND huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 03/2023/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 03/2023/DS-ST ngày 23/03/2023 của TAND huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Chiêm Hóa (TAND tỉnh Tuyên Quang)
Số hiệu: 03/2023/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/03/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Hà Thị L khởi kiện yêu cầu anh Hà Đức T và chị Nguyễn Minh S trả lại quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHIÊM HÓA
TỈNH TUYÊN QUANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 03/2023/DS-ST
NgàY: 23-3-2023
V/v: Tranh chấp quYền sdụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ - TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phn Hi đồng xét x sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Bích Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Trần Thị Sáu.
2. Ông NguYễn Xuân TuYến.
- Thư phiên toà: Thị Vân - Thư Toà án nhân dân huyn
Chiêm Hoá.
- Đại din Vin Kim sát nhân dân huYn Chiêm Hoá tham gia phiên
tòa: Ông Đặng Trung Hiếu - Kim sát viên.
Trong ngàY 23 tháng 3 năm 2023 ti Tr s Toà án nhân dân huyn C t
x sơ thẩm công khai v án dân sự th lý s: 25/2021/TLST- DS, ngày 08 tháng
10 năm 2021 về việc“Tranh chấp quYền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 13/2022/QĐXXST-DS ngàY 09 tháng 11 năm 2022, Quyết định
tạm ngừng phiên tòa số 03/2022/QĐST-DS ngày 28/11/2022; Quyết định Tạm
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 28/QĐST-DS ngày 27/12/2022; Quyết định
tiếp tục giải quyết vụ án dân sự số 03/2023/QĐST-DS ngày 20/02/2023; Thông
báo về việc mở lại phiên tòa số 01/TB-TA ngày 27/02/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Thị L, sinh năm 1949. Địa chỉ: Tổ dân phố V, thị
trấn V1, huYện C, tỉnh TuYên Quang.
Người đại diện theo y quyền của nguyên đơn: Chị Phạm Thị H (tức
L1), sinh năm 1991. Địa chỉ: Tổ dân phố V, thị trấn V1, huyện C, tỉnh Tuyên
Quang. Văn bản y quyền lập ngày 12/4/2021, chứng thực số 85, quyển số
01/SCT-HĐGD của UBND thị trấn V1, huyện C (Có mặt).
- Bị đơn:
1. Ông Đức T, sinh năm 1963. Địa chỉ: Tổ dân phố V, thị trấn V1,
huyện C, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
2
2. NguYễn Minh S, sinh năm 1968. Địa chỉ: Tổ dân phố V, thị trấn V1,
huyện C, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
- Ngưi có quyn lợi, nghĩa vliên quan:
+ Anh Phạm n V2. Đa chỉ: Thôn Y1, th trấn Y, huyn Y, tnh Tuyên
Quang (Vắng mt).
+ Chị Phạm ThH, (tên gọi kc: L1), sinh năm 1991. Địa chỉ: Tổ
n phV, th trấn V1, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khi kiện, bản tự khai, quan đim trong quá trình giải quyết vụ án
tại phiêna, nguyên đơn, đại din theo y quyền cho nguyên đơn tnhy:
Năm 1985 ông Phạm Văn T1 (chồng bà Thị L) có nhận chuyển nhượng
căn nhà hoa màu của ông Ngụy Văn Tuất công nhân hưu trí L trường C. Hai
bên lập giấy nhượng - bàn giao nhà, bàn giao hoa màu căn nhà ba gian từ
ngày 10/9/1985, có xác nhận của L trường C (naylà Công ty TNHH Lâm nghiệp
C). Sau khi nhận chuyển nhượng ông Phạm Văn T1 Thị L quản lý, sử
dụng, không tranh chấp với ai cho đến m 2020 khi L bị tai biến mạch
máu não và tắc nghẹn động mạnh vành cần số tiền lớn để điều trị nên quyết định
bán một phần đất để lấy tiền chữa bệnh. Khi khách đến xem đất thì ông Đức
T, Nguyễn Minh S ngăn cản. Ông T, S nói rằng năm 1990 đã được ông
Phạm Văn T1 cho thửa đất y xuất trình giấy cho đất ghi ngày 22/9/1990.
L khẳng định chưa bao giờ cho ông T, S thửa đất đang tranh chấp,
cũng chưa từng nghe ông T1 khi còn sống nói cho ông T, bà S thửa đất đang
tranh chấp.
Năm 2013 khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Chỉ
thị số 01, bà L, ông T1 thống nhất với nhau để lại một phần đất vườn chiều
rộng bám mặt đường 09 mét, chiều sâu 19,4m kéo từ mặt đường đến giáp đất
của Công ty TNHH Lâm nghiệp để cho hai cháu ông Đức T (cháu của
Thị L) ông Phạm Văn V2 (cháu của ông Phạm Văn T1), cho ông T, ông
V2 mỗi người một thửa đất có chiều rộng 4,5 mét, chiều dài 19,4 mét. Trước đó,
thửa đất cho ông T thửa đất đang tranh chấp chiều rộng không đủ 09
mét nên năm 2006 khi y y nhà trọ cạnh thửa đất đang tranh chấp, L
ông T1 đã y lùi lại thêm khoảng 01 mét đthửa đất đủ 09 mét tính theo chiều
rộng. Ông Đức T đã làm thủ tục đề nghị đã được cấp giy chứng nhận
quyền sdụng đất đối với thửa đất chiều rộng 4,5 mét, chiều dài 19,4 mét
phía giáp nhà ông Quan Văn Thơ, còn phần đất chiều rộng 4,5 mét, chiều dài
19,4 mét phía giáp đất L, ông T1 thì ông Phạm Văn V2 chưa làm thủ tục đề
nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do do riêng ông T1, L
cũng chưa làm văn bản cho tặng thửa đất này cho ông Phạm Văn V2. Năm 2018
bà L đã thuê cháu là Nông Văn Công, sinh năm 1983, địa chỉ: Thôn Gốc Chú, xã
Nhân Lý, huyện C, tỉnh Tuyên Quang dựng một nhà tạm làm ki ốt cho thuê bán
hàng, từ khi dựng ki ốt đến naY bà L vẫn thu tiền thuê ki ốt này.
3
L nhiều lần đề nghị ông Đức T, NguYễn Minh S chấm dứt hành
vi tranh chấp, cũng đề nghị UBND thị trấn V1, huyện C hòa giải nhưng đều
không thành. Bà L khởi kiện đến Tòa án yêu cầu giải quyết buộc ông Hà Đức T,
Nguyễn Minh S chấm dứt hành vi tranh chấp trả lại quyền sdụng diện
tích đất 96m
2
(chiều rộng bám mặt đường 05 mét, chiều dài 19,4 mét). Sau khi
có kết quả đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ bà Hà Thị L thay đổi yêu cầu khởi
kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết diện tích đất tranh chấp 87,8m
2
(chiều rộng
4,5 mét, chiều dài 19,5 mét).
2. Tại bản tự khai, quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên
tòa, bị đơn ông Hà Đức T trình bày:
Ông là cháu của Hà Thị L (bố của ông là anh trai ruột của bà Hà Thị L),
Nguyễn Minh S là vợ của ông, ông Phạm Văn V2 cháu ruột của ông Phạm
Văn T1 (chồng bà Hà Thị L). Nguồn gốc phần đất đang có tranh chấp với bà
Thị L là của ông Phạm Văn T1 tặng cho ông T vào ngày 22/9/1990, khi cho đất
ông T1 viết giấy cho đất vườn để làm nhà, xác nhận của ông Nguyễn n
S1 (nguyên tổ trưởng tổ Trung Tâm 3 nay là tổ V, thị trấn V1, hiện nay ông S1
đã về quê tại tỉnh Phú Thọ sinh sống), ông T đã nộp cho Tòa án bản chính của
giấy cho đất vườn làm nhà. do ông T1 cho ông T đất bởi ông T cháu
ruột của L vợ ông T1. Ông T1, L rất nhiều đất tại tổ Trung Tâm 3 (nay
tổ V), thời điểm cho ông T đất khu vực đó heo hút, chưa phát triển, không
thuận tiện giao thông đi lại cũng chưa có nhà dân sinh sống nhiều, chủ yếu là ao,
ruộng trồng rau muống nên đất không giá trị lớn nên ông T1 đã cho ông T
một mảnh đất vườn nhà ông T1 dùng để trồng rau khoai có chiều rộng bám
mặt đường là 09 mét, sâu14 mét để làm nhà với mục đích ở gần cô chú. m
1991 ông T đã làm nhà ngang bằng gỗ tạp, lợp mái lá gần hết cả 09 mét bám
mặt đường, sâu 05 mét, phần diện tích đất còn lại ông T làm bếp, công trình phụ
và làm vườn rau.
Diện tích khi được cho là 126m
2
, phía trước rộng 09 mét giáp đường, chiều
dài là 14 mét, phía sau giáp với đất của công ty Lâm nghiệp C. Cả ông T1
ông T đều không đo đạc chính xác vchiều rộng, chiều dài khi cho tặng đất
chỉ ước chừng. Thửa đất hướng nhìn từ đường ngõ đi trại truyền giống thì
phía n trái vào giáp với đất ông Phạm n T1 (giáp y nhà trọ hiện nay của
ông T1), hướng nhìn từ bên phải vào giáp đất ông Quan n Thơ, công dân tổ
V. Hiện trạng hiện nay vẫn như vậy, không có thay đổi về tứ cận.
Ông T sử dụng diện tích đất này liên tục từ m 1990 đến thời điểm xy ra
tranh chấp với chị Phạm Thị H con gái nuôi Thị L (năm 2020). Sau
khi được ông T1 cho đất thì phần đằng sau bị sạt lở nên ông T đã cuốc thêm vào
phần đất ngoài bờ rào của Công ty TNHH Lâm nghiệp C, nên phần chiều dài từ
14 mét đã tăng lên thành 19,5 mét như hiện nay. Khoảng năm 2013 khi ông T
làm thủ tục khai đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông
Phạm n T1 nói xin lại một nửa trong số diện tích đất đã cho ông T năm
1990 để cho cháu trai bên ông T1 là anh Phạm n V2 nên ông T không đề nghị
khai cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất đối với diện tích đất đang có
tranh chấp này. Năm 2014 ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
4
một nửa diện tích mà ông T1 đã cho từ năm 1990 (có giấy chứng nhận bản phô
kèm theo nộp cho Tòa án). Năm 2015 ông T y nkiên cố 2,5 tầng trên
diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này.
Ông T nhất trí với kết quả đo đạc diện tích đất đang tranh chấp 87,8
m
2
. Trước yêu cầu khởi kiện đòi trả lại quyền sử dụng diện tích đất 87,8m
2
của
bà Hà Thị L ông T không nhất trí. Do phần đất đang tranh chấp này đã được ông
Phạm Văn T1 cho ông T từ năm 1990 (giấy cho đất); ông T đã làm nhà, tôn
tạo, sinh sống từ năm 1990 đến năm 2020 mới xảy ra tranh chấp. Quá trình sinh
sống ông T nộp thuế đất đầy đủ nên thửa đất y thuộc quyền sử dụng của ông
T. Nếu anh Phạm n V2 (cháu của ông T1) đến trú tại tổ V, thị trấn V1,
huyện C (đến làm nhà sinh sống tại tổ V) thì ông T sđể lại diện tích đất
87,8m
2
đang tranh chấp với L cho anh V2 đúng như ý nguyện của ông Phạm
Văn T1 trước khi chết. Nếu ông V2 không lấy diện tích đất y thì vẫn thuộc
quyền sử dụng của ông T vì ông T1 đã cho ông T và ông T đã quản lý, nộp thuế
đất, sử dụng ổn định từ năm 1990 đến khi xảy ra tranh chấp.
3. Tại bản tkhai, quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên
tòa, bị đơn bà Nguyễn Minh S trình bàY:
S vợ của ông Đức T, S và ông T kết hôn với nhaum 1991, khi
kết hôn về chung sống với ông T thì S đã thấy ông T được ông Phạm n
T1 là chồng của bà Hà Thị L (cô ruột ông T) cho một mảnh đất vườn mà gia đình
ông T1 trồng rau lang chiều rộng bám mặt đường 9 mét, sâu 14 t; phía
bên trái hướng nhìn từ đường vào giáp đất nhà ông Phạm n T1, phía bên phải
giáp đất nhà ông Quan n Thơ, phía trước giáp đường, phía sau giáp đất Lâm
trường (nay là công ty TNHH Lâm nghiệp C). Bà S được biết khi cho đất cả bà L
và ông T1 thống nhất cho và có viết giấy cho đất vườn để làm nhà, do L là
ruột của ông T nên khi viết giy chỉ cho ông T1 viết và ký. Do nghĩ là người nhà,
sẽ không vướng mắc hay tranh chấp với nhau nên S ông T không ra
UBND thị trấn V1 để làmc thủ tục cho đất theo quy định.
Năm 1991 S ông T dựng nhà tại phần đất vườn ông T1, L đã
cho, S ông T dựng căn nhà gỗ tạp, mái lợp lá, chiều rộng của căn nhà là 9
mét, hết chiều rộng mảnh đất ông T1 cho, chiều sâu căn nhà khoảng 5 mét,
phần còn lại gia đình dùng làm bếp công trình phụ, trồng rau. Ban đầu chiều
sâu của mảnh đất chỉ khoảng 14 mét, phía sau ta luy đất ngoài bờ rào của L
trường C, dần dần phần đất ta luy bị sạt lở nên gia đình S đã cuốc thêm nên
chiều dài của mảnh đất thành 19 mét như hiện nay. Hiện trạng thửa đất hiện
naY về tứ cận (các phía giáp ranh) vẫn không thay đổi, chỉ thay đổi về chiều sâu
của mảnh đất từ 14 mét thành 19 mét.
Khoảng năm 2013 gia đình bà S làm thủ tục đề nghị kê khai cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, khi làm thủ tục ông T1 nói muốn để lại một nửa
phần diện tích đã cho ông Hà Đức T năm 1990 để lại cho cháu trai bên ông T1
anh Phạm n V2. Do ông T1 nói như vậy nên S ông T đã khai cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất một nửa diện tích được ông T1 cho năm
5
1990 không kê khai cấp hết. Một nửa diện tích còn lại hiện nay đang
tranh chấp với bà Hà Thị L.
Năm 2014 bà S và ông Hà Đức T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số BQ 435954, diện tích ghi trong giấy chứng nhận 63 m
2
. Đến m 2015
S ông T y dựng nhà kiên cố 2,5 tầng trên diện tích đất được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Một nửa còn lại S ông T sử dụng để trồng
rau, đến khoảng m 2018 S ông T cho anh Nông Văn Công, địa chỉ:
Thôn Gốc Chú, Nhân Lý, huyện C (là em con ruột của ông T) mượn đất
làm ki ốt cho thuê. Ki ốt do anh ng bỏ tiền ra xây dựng thu tiền cho
thuê, không liên quan đến S ông T, S ông T chỉ cho mượn đất. Khi
anh Công làm ki ốt để cho thuê bà S không thấy L có ý kiến phản đối gì, vẫn
thấy anh Công làm ki ốt bình thường. Năm 2020 chị Phạm Thị H con gái
nuôi của ông Phạm Văn T1, bà Hà Thị L muốn bán diện tích đất mà vợ chồng
S và ông T cho anh Công mượn làm ki ốt cho thuê nên giữa hai bên mới xảy ra
tranh chấp. Từ m 1990 đến 2020 ông T và bà S sử dụng ổn định, nộp thuế đất
hằng năm đầy đủ, không tranh chấp với bất kỳ ai, cũng không tranh chấp
với ông T1, bà L.
S nhất trí với kết quả đo đạc diện tích đất đang có tranh chấp 87,8m
2
.
Thửa đất đang tranh chấp này chồng bà S đã được ông Phạm n T1 cho từ năm
1990 cùng với diện tích S đang làm nhà nên phần đất y thuộc quyền sử
dụng của bà S và ông T, bà S không nhất trí với u cầu đòi lại diện tích 87,8m
2
y của bà Hà Thị L. Nếu anh Phạm Văn V2 (cháu của ông T1) đến trú tại tổ
V, thị trấn V1, huyện C thì bà S ông T sẽ để lại diện tích 87,8m
2
y cho anh
V2 đúng như ý nguyện của ông Phạm Văn T1 trước khi chết. Nếu anh V2 không
lấy diện tích đất y tvẫn thuộc quyền sử dụng của S ông T ông T1
đã cho chồng S, S ông T đã quản lý, nộp thuế đất, sử dụng ổn định từ
năm 1990 đến khi xảy ra tranh chấp.
4. Tại biên bản lấy lời khai người quYền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm
Văn V2 trình bày:
Ông V2 cháu của Thị L, gọi L bằng thím, ông V2 không
quan hệ họ hàng, chỉ liên gia với ông Hà Đức T, bà NguYễn Minh S. Ông V2
không được ông Phạm Văn T1 (chồng Hà Thị L) tặng cho thửa đất nào tại tổ
V, thị trấn V1, huYện C nên không hợp đồng vị trí thửa đất để trình bàY
cho Tòa án biết thông tin. Tại cuộc họp gia đình năm 2018 ông V2 đã ý kiến
chỉ nói bằng miệng về việc cho đất, không có giấY tờ gì. Việc ông Hà Đức T, bà
NguYễn Minh S cho rằng được tặng cho thửa đất từ năm 1990 ông V2 không
biết, chỉ biết ông T, S đó từ năm 1990 đúng. Thửa đất đang tranh chấp
không có liên quan gì đến ông V2. Ông V2 không viết đơn xin xét xử vắng mặt,
đề nghị Tòa án không triệu tập ông tham gia tố tụng trong vụ án.
Tại phiên tòa:
NguYên đơn giữ nguYên Yêu cầu khởi kiện, Yêu cầu Tòa án giải quYết
buộc ông Đức T, NguYễn Minh S trả lại thửa đất có diện tích 87,8m
2
tại
tổ V, thị trấn V1, huYện C, tỉnh TuYên Quang.
6
Bị đơn Đức T, NguYễn Minh S không nhất tvới Yêu cầu khởi kiện
của nguYên đơn, cho rằng đâY là diện tích đất của bị đơn Yêu cầu nguYên
đơn tháo rỡ quán bán hàng làm trên diện tích đất nàY để trả lại đất cho ông T, bà
S.
Người quYền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị H trình Y: ChH
con nuôi hợp pháp của ông Phạm Văn T1 Thị L. Quá trình giải
quYết vụ án với tư cách người đại diện theo Y quYền cho nguYên đơn
Thị L ch đã tham gia suốt quá trình Tòa án giải quYết việc tranh chấp
quYền sử dụng đất giữa Thị L, ông Hà Đức T, NguYễn Minh S, tham
gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, phiên họp
hòa giải, xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản…Chị không có khiếu nại gì
về các thủ tục tố tụng Tòa án đã thực hiện. Chị khẳng định thửa đất diện tích
87.8m
2
tại tổ V, thị trấn V1 tài sản thuộc quYền quản lý, sử dụng của bố mẹ
chị ông Phạm Văn T1 Thị L. Ông T1 chết năm 2017 nên theo quY
định thửa đất Y một phần thuộc quYền sử dụng của chị theo thừa kế. Chị
hoàn toàn nhất trí với Yêu cầu khởi kiện của Thị L, Yêu cầu Tòa án giải
quYết buộc ông Đức T NguYễn Minh S phải trả lại thửa đất 87,8m
2
nêu trên cho bà L.
6. Lời khai những người làm chứng công dân trú lâu năm tại tổ V, thị
trấn V1, huYện C, tỉnh Tun Quang:
Ông Đoàn Văn Riệm trình Y: Khoảng năm 1987 ông T1 mua đất của ông
NgụY Văn Tuất trú tại tổ Trung m 3 (naY tổ V) chiều rộng bám
mặt đường vào trại truYền giống kéo dài từ vị trí nhà ông Quan Văn Thơ,
Thị Thóa đến nhà ông Nông Trung Sướng, bà Th khoảng 60m, chiều sâu
thì không rõ. Năm 1993 có thấY ông Hà Đức T, bà NguYn Minh S làm 01 ngôi
nhà gỗ, loại nhà ngang rộng khoảng 09 m, sau khi làm nhà ông T, bà S sinh sống
ổn định, nộp thuế đất. Khi ông T, S làm nhà vị trí đó không thấY ai tranh
chấp. Ông Riệm làm tổ trưởng từ năm 1992 đến năm 1994 không thấY đơn đề
nghgiải quYết tranh chấp của ông T1, L và được đo diện tích đất ông T làm
nhà ngang để nh diện tích đất nộp thuế. Suốt từ thời kỳ làm nhà gỗ đến khi làm
nhà xâY hai tầng hiện naY đều không có tranh chấp.
Ông NguYễn Văn Kính trình Y: Ông T1 mua đất của ông Tuất từ năm
1984 một thửa đất i từ nhà ông NguYễn n Lam đến nhà ông Quan Văn Thơ
và bà Hà Thị Thóa. Sau khi mua đất ông T1 đã bán một phần cho ông Quan Văn
Thơ, Hà Thị Thóa, bán một phần cho ThKhóa, n một phần cho ông
ớng, Ký, bán một phần cho ông bà Lam- Thắm, cho ông T- S một phần,
tất cả diện tích đất đã bán đều nằm trong diện tích thửa đất ông T1 mua của ông
Tuất. Năm 2010 UBND thị trấn V1 lấY tổ Trung Tâm 3 (naY tổ V) là tổ điểm
làm sổ đỏ, khi thông báo các hộ làm thủ tục, hồ cấp sổ đỏ thì thì Thị L
đến gặp ông nh nói giờ ý định chỉ cho nhà T, S 4,5m bám mặt đường,
còn lại 4,5 m bám mặt đường cho Phạm Văn V2 n ý định lấY lại, ông Kính
nói với L diện tích đất Y đã được cho nhà T, S, hồ xin cấp giấY chứng
nhận quYền sử dụng đất nhà T S giấY cho đất, muốn lấY lại phải hỏi ý kiến
ông T, S, từ đó ông Kính không thấY bà L ông T1 có ý kiến gì.
7
Thu thập hồ đề nghị cấp giấY chứng nhận quYn sử dụng đất của ông
Phạm n T1, Thị L; ông Đức T, NguYn Minh S cho thấY hộ ông
Phạm Văn T1 được cấp giấY chứng nhận quYền sử dụng đất phía giáp nhà trọ là
đất của nhà ông T, S; hộ ông T, S khai được cấp giấY chứng nhận
quYn sử dụng đất diện tích 4,5 m mặt đường một phía giáp nhà ông Quan Văn
Thơ, một phía giáp nhà ông Phạm Văn T1.
Tại phiên tòa nguYên đơn Hà Thị L giữ nguYên Yêu cầu khởi kiện, đề nghị
Tòa án giải quYết buộc ông Đức T, NguYễn Minh S trả lại diện tích đất
87,8m
2
tại tổ V, thị trấn V1, huYện C, tỉnh TuYên Quang. Không Yêu cầu ông T,
S phải trsố tiền nộp thẩm định, định giá tài sản.
Bị đơn ông Đức T, NguYn Minh S giữ nguYên các ý kiến đã trình
Y, xác định thửa đất trồng Y lâu năm diện tích 87,8m
2
đã được ông Phạm
n T1 tặng cho từ năm 1990, không nhất trí với Yêu cầu khởi kiện của
Thị L. Không Yêu cầu bà L (do chị H làm đại diện) trả số tiền nộp giám định chữ
số, chviết.
Người quYn lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Văn V2 vắng mặt nên không
ý kiến tnh bàY.
Người có quYn lợi, nghĩa vụ ln quan Phạm Thị Hà H nhất trí với Yêu cầu
khởi kiện của Thị L, chị H không Yêu cầu khác. Đề nghị Tòa án giải
quYết buộc ông Hà Đức T, NguYễn Minh S trả lại thửa đất diện tích
87,8m
2
.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng
xét xử, Thư phiên tòa của các đương sự trong quá trình giải quYết vụ án
đều đảm bảo đúng quY định của Bluật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung tranh chấp: Nguồn gốc thửa đất từ năm 1985 do ông Phạm
Văn T1 mua của ông NgụY Văn Tuất, năm 1990 ông T1 giấY viết taY cho
anh Hà ĐứcT làm nhà ở với chiều rộng 09m, sâu 14m, đến năm năm 1991 ông T
và vợ là bà NguYễn Minh S đã làm nhà ngang bằng gỗ tạp, lợp mái lá gần hết cả
09 mét bám mặt đường, sâu 05 mét. Năm 2014 ông Đức T khai đề nghị
cấp giấY chứng nhận quYền sử dụng đất đối với một nửa diện tích đất 4,5
mét, sâu 19 mét. Năm 2015 S ông T Y dựng nhà kiên cố 2,5 tầng trên
diện tích đất được cấp giấY chứng nhận quYền sử dụng đất. Một nửa còn lại
S ông T sử dụng để trồng rau. Đến năm 2021 Thị L khởi kiện đòi lại
diện tích đất S ông T sdụng để trồng rau. Ông T, S giấY cho đất
vườn để làm nhà do ông Phạm Văn T1 viết, kết quả giám định chviết, chữ
xác định giấY cho đất chữ viết, chữ của ông Phạm Văn T1, việc ông T, bà
S sử dụng thửa đất đang tranh chấp công khai, liên tục từ năm 1991 đến thời
điểm tranh chấp xét lời khai của những người làm chứng thấY rằng thửa đất
Y thuộc quYền sử dụng của ông Đức T NguYễn Minh S nên áp
dụng các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273, 155, 157, 158, 159, 160, 161,
163, 165, 166 B luật Tố tng dân sự; c Điu 182, 183, 236 Bộ lutn s; các
Điều 5, 169, 170, 202, 203 Luật Đất đai năm 2013; Áp dụng Án l số 04/2016/AL
8
được Hội đồng Thẩm pn Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngàY 06/4/2016 và
Nghị quYết số 326/2016/UBTVQH14, ngàY 30/12/2016 của Y ban thường vụ
Quốc hội quY định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí,
lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận toàn bộ Yêu cầu khởi kiện của Thị L (do chPhạm
Thị H- Tên gọi khác: L1) làm đại diện theo Y quYền về Yêu cầu ông
Đức T và bà NguYễn Minh S trả lại diện tích đất như bà L xác định. Giữ nguYên
ranh giới đất như đồ thẩm định, đo đạc ngàY 09/9/2022.
Buộc bà L tháo rki ốt cho thuê bán hàng trên diện tích đất của ông T, bà S.
Bà Hà Thị L (do chị Phạm Thị Hà H làm đại diện theo ủY quYền) nhận chịu
toàn bộ tiền chi phí thẩm định, định giá, đo đạc. Ông Hà Đức T, bà NguYễn Minh
S nhận chịu toàn bộ chi phí giám định chữ viết nên không xem xét. Hà Thị L
phải chịu án phí dân sự thẩm đối với Yêu cầu không được Tòa án chấp nhận
nhưng bà L là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ tiền án phí. Các đương sự
được quYền kháng cáo bản án theo quY định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được xem xét tại
phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về pháp luật tố tụng.
- Về thẩm quYền, quan hệ tranh chấp: Hà Thị L khởi kiện Yêu cầu Tòa
án giải quYết buộc ông Đức T NguYễn Minh S trlại diện tích đất
87,8m
2
tại tổ V, thị trấn V1, huYện C, tỉnh TuYên Quang. Ông Đức T,
NguYễn Minh S trú tại tổ V, thị trấn V1, huYện C, tỉnh TuYên Quang. Do
đó, đâY tranh chấp quYền sdụng đất thuộc thẩm quYền giải quYết của a
án nhân dân huYện C theo quY định tại Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về xét xử vắng mặt đương sự: Tại đơn khởi kiện qtnh giải quYết
vụ án nguYên đơn xác định thửa đất đang tranh chấp giữa nguYên đơn, bị
đơn có liên quan đến ông Phạm Văn V2, địa chỉ: Thôn Yên T, thị trấn Y, huYn
Y, tỉnh Tun Quang. Tòa án xác định ông V2 người quYền lợi, nghĩa vụ
liên quan trong vụ án. Kết quả Y thác lấY lời khai ông V2 xác định ông không
được ông T1 tặng cho thửa đất nào tại tổ V, thtrấn V1, huYện C, tỉnh TuYên
Quang, cũng không liên quan đến việc tranh chấp quYền sử dụng đất giữa L
ông T nên không viết đơn xin xét xử vắng mặt, đề nghị Tòa án không triệu
tập ông tham gia tố tụng. Quá trình giải quYết Tòa án đã gửi Thông báo thụ
vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng
cứ hòa giải, QuYết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác qua
dịch vụ bưu chính. Ông Phạm Văn V2 đã nhận không ý kiến cũng như đ
nghị Tòa án không triệu tập ông tham gia tố tụng nên Tòa án tiến hành xét xử
vắng mặt ông Phạm Văn V2 theo quY định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng
dân sự.
9
- Về bsung người tham gia tố tụng: Chị Phạm Thị H con nuôi hợp
pháp của ông Phạm Văn T1 bà Thị L. L cho rằng thửa đất đang
tranh chấp thuộc quYền sử dụng tài sản chung của ông Phạm Văn
T1. Ông Phạm Văn T1 chết năm 2017, chị Phạm Thị Hà H xác định là hàng thừa
kế thứ nhất của ông Phạm Văn T1. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xTòa án chưa
xác định chị Phạm Thị H người quYền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhưng
chị Phạm Thị H đã tham gia tố tụng với cách người đại diện theo Y
quYền của nguYên đơn Hà Thị L, được trình bàY các ý kiến và tham gia đầY đủ
các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải,
quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, tham gia phiên tòa. ChH
không Yêu cầu độc lập, nhất trí với các thủ tục tố tụng Tòa án đã thực hiện,
nhất trí với Yêu cầu của nguYên đơn Thị L. Tòa án xác định chị Phạm Thị
H là người có quYền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án phù hợp với quY
định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Vnội dung tranh chấp:
[2.1] Xét nguồn gc i sản tranh chp:
NgàY 10/9/1985 ông Phạm Văn T1 giấY nhượng, n giao nhà với ông
NgụY Văn Tuất. GiấY Y ghi nhượng lại căn nhà, giao n nhà ba gian
hoa màu cho ông Phạm Văn T1, có xác nhận của Phó giám đốc L trường, có đóng
dấu của L trường huYện C. Nội dung giấY không ghi địa chthửa đất bàn giao,
không mô tả về vị trí, diện tích, các cạnh tiếp giáp nhưng các đương sự cũng như
những người dân sinh sống lâu năm tại tổ V đều công nhận thửa đất ông Phạm
n T1 nhận chuYn nhượng của ông NgụY n Tuất địa chỉ tại tổ Trung
Tâm 3 (naY là tổ V), thị trấn V1, huYện C (thửa đất giáp mặt đường ngõ vào trại
truYền giống). Ông T1, L cư trú, sử dụng ổn định tại thửa đất Y từ năm
1985 không tranh chấp về tứ cận với các hộ dân xung quanh cũng như L
trường C (naY Công tY TNHH L nghiệp C). Thị L xác định giữa ông
Phạm Văn T1 ông NgụY Văn Tuất chỉ chuYn nhượng với nhau một thửa đất
chính thửa đất ông T1 đã sinh sống từ năm 1985 chiều rộng khoảng
hơn 80 mét bám mặt đường vào trại truYn giống đến sau Y chuYển nhưng
cho một số hộ gia đình khác, được cấp giấY chứng nhận quYền sử dụng đất năm
2014 một phần hiện đang tranh chấp với ông Hà Đức T, NguYễn Minh
S. Hội đồng t xử nhận định, giY nhượng n giao nhà lập ngàY 10/9/1985
tuY chưa đúng quY định về mặt hình thức (không có chứng thực của Uỷ ban nhân
dân cấp thẩm quYền) theo quY định tại Điều 691 Bộ luật Dân sự năm 1995,
nhưng nội dung của giấY chuYn nhượng được các bên thừa nhận, ông T1, L
đã trú, sử dụng diện ch đất Y từ năm 1985 không có tranh chấp nên đủ
sở để xác lập quYền sử dụng của ông Phạm Văn T1, bà Hà Thị L đối với toàn bộ
thửa đất nhận chuYn nhượng của ông NgụY Văn Tuất.
Kết quả xác minh ti hồ đng viên của ông Phạmn T1 u trữ tại Ban T
chc HuYn Y C cho thY, tại Sơ ợc lch của ông Phạm Văn T1 ngàY
25/5/1979, ông Phạm Văn T1 khai có vợ Thị L. N vY xác định n nhân gia
ông Phạm Văn T1 bà ThL đưc c lập tthi điểm tc tháng 5 năm
1979, n cứ theo Lut Hôn nhân m 1959 n nhân giữa ông T1 và L là hợp
10
pháp. Tại giấY nng, n giao n nY 10/9/1985 ghi người nhận nhà Phạm
Văn T1, thi điểm ông T1 ông Tut chuYển nhượng nhà, đt cho nhau là thi
điểm Luật Hôn nhân gia đình năm 1959 đang hiu lc, chế độ tài sn vợ chồng
theo quY định tại Điều 15 Luật Hôn nn và gia đình năm 1959 thì “V chồng đều
có quYền sở hu, ởng thụ sử dng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau
khi cưới”. Như vậY, nhà, đất ông Phạm Văn T1 nhn chuYn nhượng với ông
NgụY Văn Tuất là tài sn chung của ông Phạm Văn T1 và bà ThL. Thửa đất
đang có tranh chấp mt phần đất nằm trong thửa đất ông Phạm Văn T1 nhận
chuYn nhưng của ông NgY Văn Tuất.
[2.2] Xét GiY cho đt ờn đlàm nhà lập ngàY 22/9/1990.
Q trình giải quYết ông Đức T, NguYn Minh S xuất trình bản chính
viết taY GiY cho đất vườn làm nhà ghi ngàY 22/9/1990 người cho đất n
Phạm Văn T1. Ông T khẳng định đã được ông Phạm Văn T1 cho đất vườn để làm
nhà t tng 9 m 1990, ông T, bà S kết hôn, đã làm một ngôi nhà gỗ ba gian
sinh sống tn thửa đt được cho t năm 1991 cho đến naY. Tại phiên tòa ngàY
28/11/2022 ông Đức T, bà NguYễn Minh S đ nghị Hội đngt x tạm ngng
phiên tòa để trưng cu giám định đối với chữ viết, chữ ký trong giY cho đất n
đ m n ca ông Phạm Văn T1.
NY 19/12/2022 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TuYên Quang đã
kết luận số 1537/GĐ-KTHS Kết luận giám định: Ch viết phn nội dung, ch ký
(dng chữ viết) “T1” và chữ viết ghi tênPhạmn T1 tại “GiY cho đấtn đ
làm nhà ghi nY 22/9/1990 ký hiu M1 (trừ ch viết, chký ghi tên NguYễn
Văn S1 bằng mc màu đen) vi chữ viết, chký đng n Phạm n T1 trên mu
giám định ký hiu M2 (tr chữ viết, chữ ký tại phần Nời thẩm tra tường thuật” và
ch viết, ch bằng mc xanh ghi ngàY 25/5/1979), M3 (tr ch viết mực màu đỏ,
xanh tại trang 3 phần CHỨNG NHẬN CỦA CẤP Y CƠ SỞtại trang 16),
M4 (trừ ch viết, ch số, chữ tại mục “20 s chứng minh NDvà phần C
NHẬN CỦA CHI Y CHI BỘ”, M5 (tr chữ viết Đến tng 2 năm 1991 kế tn
văn png huYn Y C.T1/2014 đến T12/2014 Đng viên min sinh hoạt” và
phnNHN XÉT CỦA CHI ỦY tại trang cuối), M6 (tr chữ viết, chữ ký ti phn
C NHẬN CỦA CHIY CHI B” và ch ghin Hà Thị L) là do cùng một
người viết và ký.
Các mu giám định ký hiệu từ M7 đến M11 ít chữ viết, đặc điểm không ổn
đnh n không tiến nh gm định so nh với mu giám định M1.
Các mẫu so sánh t M2 đến M4 thu thập tại h đng viên ca ông Phạm Văn
T1 u trtại Ban Tchức HuYện Y C, mẫu so sánh M5, M6 thu thập tại h sơ
đng viên bà Thị L lưu tr tại ĐảngY thị trấn V1, huYện C. Lời khai bà Hà Thị
L c định chữ viết trong Sơ Yếu lý lịch đng viên Hà Th L năm 1985 (mu M5) là
do ông T1 viết hbà, đối với chữ viết, ch trong Phiếu đảng viên lp ngàY
17/9/2002 (mu M6) bà không nhớ rõ là haY ông T1 viết cho , có mt vài nét
bà L thấY giống chông T1. Như vậY, có đ căn cxác định chữ viết, chữ ký trong
giấY cho đt vưn để làm n lp ngàY 22/9/1990 do ông Phạm Văn T1 viết và ký.
11
Xét vthời điểm lập giY: Tòa án đã c minh tại tổ V, thtrấn V1 c định
ông NguYn Văn S1 tổ trưởng t Trung Tâm 3 (naY là tổ V), thị trn V1 từ năm
1990 đến năm 1992. a án đã Y tc cho Tòa án nhân dân thành ph Việt T, tỉnh
P Th lấY li khai của ông NguYễn Văn S1 c đnh: Thi gian cth ông S1
không nh cnh xác, chỉ nhớ khoảng m 1990 ông S1 m ttng tnhân n
Trung Tâm 3, thị trấn V1, ông S1 có ký c nhận nội dung Gia đình ông Phạm
Văn T1 cho cu ông T1 là anh Hà Đức T diện tích đất 126m
2
đấtn đlàm
nhà. Khi cho đt ông T1 viết giấY cho đấtờn đểm nhà ông S1 có ký vào
giấY với cách nời làm chứng của t nn n khu phố Trung Tâm 3Ch
và chviết trong giY cho đất n đ m n nY 22/9/1990 là của ông S1.
Xét về mặt nh thức: GiấY cho đất n để m nhà lập ngàY 22/9/1990
bn giấY viết taY, kng có chng thực của cơ quan nhà nước thẩm quYền, có
xác nhận ca ttng tTrung Tâm 3 ghi ngàY 22/3/1990. Như vậY, xác định
thi điểm lp giY là m 1990, tại thi điểm năm 1990 ca có quY định cụ th v
vic tng cho bất động sn, Điều 463 Bộ luật Dân sựm 1995 quY định Tặng cho
bất động sản phải được lập thành văn bản chứng nhận của Công chứng nhà
nước hoặc có chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quYền. Xét giY cho
đt vườn đ làm n chưa đúng v hình thức hợp đồng nng có nội dung không trái
pháp luật, không trái đạo đức hội, ông T S đã sử dng n đnh từ năm 1990 đến
naY, phù hợp quY hoạch s dng đất.
[2.3] Xét quá trình sử dụng đất ý chí của bà Hà ThL đối với việc ông T1
tng cho tha đt đang tranh chấp.
Q trình gii quYết vụ án Tòa án lấY lời khai nhng người dân sinh sống lâu
năm tại tổ V (nguYên là tổ Trung Tâm 3), thị trấn V1, huYn C đều xác định ông Hà
Đức T, NguYễn Minh S đã sinh sống ti tha đất đang tranh chấp liên tục từ
năm 1991 đến naY. m 2010 khi UBND thị trn V1, huYn C, tnh TuYên Quang
có chủ tơng lấY tổ V làm tổ đim để cp giY chứng nhận quYền s dụng đất thì
bà Hà ThL có đến gặp tổ trưởng tV (nguYên là tổ Trung Tâm 3), th trn V1 để
trình bàY bà L i giờ có ý định chcho nhà T S mt nửa tha đất là 4,5 mét m
mặt đường, còn lại mt na 4,5 mét bám mặt đưng cho Phạm Văn V2 n có ý
đnh lấY lại”. N vY, có n c xác định L biết việc ông T1 tặng cho ông Hà
Đức T thửa đất đang tranh chp nng không có ý kiến phn đối. Áp dụng Án l
s 04/2016/AL được Hi đồng Thẩm pn Tòa án nn dân ti cao thông qua nY
06/4/2016 thì tha đất đang có tranh chấp i sn chung của ông T1, bà L mà chỉ
có một người đứng n ký giY tặng cho đất cho ông Hà Đức T, bà L không ký tên
trong giY tng cho đất, có đ n c xác định ông T đã nhn thửa đất, quản lý, s
dụng công khai (từ năm 1991 làm ni nhà gba gian gần hết thửa đất rng 09 t
đếnm 2014 Y nhà 2,5 tng tại ½ thửa đất, 1/2 thửa đtn lại tiếp tục quản lý
đến năm 2020 thì phát sinh tranh chấp), Hà Thị L không ký tên trong giY tng
cho đất nhưng biết mà kng có ý kiến phản đối gì (s việc m 2010 bà L nói vi
Ttrưng tổ Trung m 3 về việc muốn đòi lại ½ thửa đt đã cho tc đó để cho
cháu Phạm Văn V2) thì phải xác định L đồng ý với việc cho tặng tha đất cho ông
Hà Đức T.
[2.4] Xem t lời trình bàY của những ni tham gia tố tụng.
12
Li khai của ni có quYn li nga vliên quan anh Phạm n V2 khng
định anh không đưc ông Phm Văn T1 tng cho thửa đt nào tại t V, thtrn V1,
huYn C nên không có quYn li gì đối vi tha đt đang có tranh chấp và thừa nhn
hông T, bà S đã s dụng thửa đt đang tranh chp từ năm 1990 đến naY. Anh
Phạm Văn V2 kng Yêu cu Tòa án xem xét quYn lợi trong v án n Hi đng t
x kng xem xét.
Lời khai của người quYền lợi nga vụ liên quan ch Phạm Th H:
Kng chng minh được việc ông T1, bà L cho ông T, S 1/2 din ch đt ghi
trong giY cho đt n để m nhà.
Lời khai ca anh Nông Văn Công cho thY việc L muốnm ki ốt cho th
bánng trên thửa đt tranh chấp vi ông T, bà S tại tổ V, thị trấn V1 nhưng ông T
không nhất trí, cho nên L đã nhanh Công hi ông T thì ông T mi cho anh ng
làm kit tn thửa đất đang có tranh chp. Như vY, nếu bà L c định thửa đt đang
có tranh chấp thuộc quYền sử dụng ca bà L t không có sự việc L nh anh
Công đến hỏi ông T để làm ki ốt. Anh ng xác định ki ốt nàY là của L, hin naY
bà L còn nanh Công tin m ki t nhưng anh ng kng đngh giải quYết trong
v việc nàY nên Hội đồng t xử không xem xét.
Lời khai ca những người làm chứng, các chứng cứ thu thập được thhin ông
T, bà S đã sử dụng ổn định t năm 1990 đến thời điểm xY ra tranh chp vi L
thc hin đY đ nga vụ của ni s dụng đất.
[2.5] t hồ sơ đề nghị cấp giấY chng nhận quYền sử dng đất năm 2013
ca hông T1 thấY rng, tại sơ đồ t đo vẽ của hộ gia đình ông T1 vẽ giáp với
Y nhà trọ là diện ch đất vưn, nhưng m 2014 hộ ông T1, bà L được cấp giY
chng nhận quYền sử dng đất không được cp phần din tích đất ờn Y.
Năm 2017 hộ gia đình ông T1 cp đổi lại giY chứng nhn quYền sử dụng đất,
theo bn mô tranh giới, mốc giới thửa đất ngàY 26/7/2017 đơn vị đo đạc đã xác
đnh giáp với dãY n trọ của ông T1 là đất ca nhà ông Hà Đức T, bà Hà Thị L đã
ký xác nhn. Hi đồng xét x thY rng việc ký c nhận th hiện bà L biết din tích
đt của ông T1, L gp với Y nhà trđang sdng.
H cp giY chứng nhận quYn sử dụng đất ca nhà ông Đức T, bà
NguYn Minh S chxin cấp din ch mt đường 4,5m, vi din tích 63m
2
có mt
giáp ranh với đt nhà ông T1. Hi đồng t xử thY rằng, việc không xin cấp giấY
chng nhận quYền sử dụng đt đi vi tn bộ diện tích đất phụ thuộc vào ý c của
người sdụng đt.
Tnhững phân tích như trên Hội đồng xét xử thấY rằng: Ông Đức T,
NguYn Minh S đã quản lý, sử dụng công khai thửa đất đang tranh chấp từ
năm 1990 đến thời điểm xảY ra tranh chấp năm 2019. Ông Phạm Văn T1 cho ông
Đức T thửa đất rộng 09 mét chưa vượt quá ½ tài sản chung của ông T1, bà L,
hơn nữa những lời khai người làm chứng xác định L có biết việc ông T1 tặng
cho đất nhưng không ý kiến phản đối. Do đó, áp dụng các Điều 182, 183, 236
của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 5, 169, 170, 202, 203 Luật Đất đai năm 2013,
vận dụng quY định tại Án lệ s04/2016/AL Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án
13
nhân dân tối cao thông qua ngàY 06/4/2016 được công bố theo QuYết định
220/QĐ-CA ngàY 06/4/ 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: Không chấp
nhận Yêu cầu khởi kiện của Thị L, buộc L tháo rỡ ki ốt cho thuê n
hàng có diện tích 20,5m
2
làm trên diện tích đất 87,8m
2
(chiều rộng 4,5 mét, chiều
dài 19,5 mét). Ông T, bà S được sử dụng diện tích đất được xác định bởi các điểm
2, 3, 4, 5, 2.
[3] Ván phí, chi phí tố tụng: Áp dụng c Điu 147, 155, 157, 158, 159,
160, 161, 163, 165, 166 Bộ luật T tụng dân sự: Thị L (Do chị Phạm Thị Hà
H làm đại diện theo ủY quYền) nhận chịu toàn bộ tiền chi phí xem xét, thẩm định
tại chỗ, định giá, đo đạc. Ông Đức T, NguYn Minh S nhận chịu toàn bộ
chi phí giám định chữ viết. Hà Thị L phải chịu án phí dân sự thẩm đối với
Yêu cầu khởi kiện không được Tòa án chấp nhận nhưng L người cao tuổi
nên được miễn toàn bộ tiền án phí.
[4] Về quYền kháng cáo: Các đương sự được quYền kháng cáo bản án theo
quY định tại Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273, 155, 157, 158, 159,
160, 161, 163, 165, 166 Blut Ttng dân s;
Căn co Điu 182, 183, 236 Blut Dân sự;
Căn co các Điều 5, 169, 170, 202, 203 Luật Đất đai;
Án lệ số 04/2016/AL Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
thông qua ngày 06/4/2016 được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA ngày
06/4/ 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của y
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
TuYên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguYên đơn Thị
L (Do chị Phạm Thị Hà H làm đại diện theo y quyền) về việc Yêu cầu ông Hà
Đức T và bà Nguyn Minh S trlại diện tích đt 87,8m
2
.
Buc bà L tháo rỡ ki t cho thuê n hàng có diện ch 20,5m
2
m trên din
tích đất 87,8m
2
(chiều rộng 4,5 mét, chiều dài 19,5 mét). Ông T, S được sử
dụng diện tích 87,8m
2
đất được xác định bởi các điểm 2, 3, 4, 5, 2.
(Có sơ đồ thẩm định ngàY 09/9/2022 kèm theo)
2. Về chi phí tố tụng:
Về chi phí thẩm đnh, định giá, đo đạc: Bà Hà Thị L (Do chị Phạm Thị Hà H
làm đại diện theo y quyền) nhận chịu toàn bộ tiền lệ phí thẩm định, định giá, đo
14
đạc. L đã nộp đủ. Ông Đức T, bà NguYễn Minh S không phải nộp chi phí
thẩm định, định giá, đo đạc.
Về chi phí gm định: Ông Hà Đức T, bà Nguyn Minh S nhận chịu tn
bộ chi p gm định chviết. Ông T, S đã nộp đủ. Th L (Do chị
Phm Thị H m đi diện theo y quyền) kng phải nộp chi phí gm
định.
3. Về án phí: Miễn tn bộ tiền án p dân s thẩm cho Hà Thị L. Ông Hà
Đức T, Nguyn Minh S kng phải chu tin án phí n sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự mặt tại phiên tòa được quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngàY ktừ ngày tuyên án, người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quYền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện C;
- Chi cục THADS huyện C;
- TAND tỉnh TuYên Quang;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đào Thị Bích Ngọc
15
16
17
18
19
20
Tải về
Bản án số 03/2023/DS-ST Bản án số 03/2023/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất