Bản án số 02/2026/HC-ST ngày 27/05/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 02/2026/HC-ST

Tên Bản án: Bản án số 02/2026/HC-ST ngày 27/05/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 02/2026/HC-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/05/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Ông D kiện UBND phường Đ hủy quyết định hành chính về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 02/2026/HC-ST Bản án số 02/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 02/2026/HC-ST Bản án số 02/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

ING270526.TL.QDBA.1779 1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 02/2026/HC-ST
Ngày: 27-5-2026
V/v khiếu kiện “Hủy Quyết định hành
chính về quản lý đất đai trong trường hợp
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH ĐỒNG THÁP
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Bé Ba.
- Lê Thị Bé Bảy.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Ái Quyên, Thư Tòa án nhân dân khu
vực 1, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, Đồng Tháp tham gia phiên
tòa: Đỗ Thị Thảo Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Đồng
Tháp t xử thẩm công khai
vụ án thụ lý số: 04/2025/TLST-HC ngày 24 tháng 11
năm 2025 về “Khiếu kiện hủy Quyết định hành chính về quản đất đai trong trường
hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số 06/2026/QĐXXST-HC ngày 29 tháng 4 năm 2026 và quyết định hoãn phiên tòa
số 02/2026/QĐST-HC ngày 19 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
- Người khi kin: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1964;
Căn cước công dân s: ************ cp ngày 25/02/2022
Địa ch: s 22A, p L, phường Đ, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại din theo y quyn ca ông D: Anh Đông H, sinh năm 1991;
(có mt)
Địa ch s: 91/13A, H, phường M, tỉnh Đng Tháp.
ING270526.TL.QDBA.1779 2
Người bo v quyn li ích hp pháp: Luật Nguyn Viết T-Công ty
Lut TNHH Hãng lut A nhng cng s-Đoàn luật Thành phố H Chí
Minh. (có mt)
- Người b kin:
+ Ch tch Ủy ban nhân dân phường Đ, tnh Đồng Tháp-Ông Nguyn
Hữu Đ (kế tha ca y ban nhân dân huyn C, tnh Tin Giang theo giy chng
nhn quyn s dụng đất cp cho ông Nguyễn Văn D) (xin vng mt)
Địa ch: s 555A, đưng L, phường Đ, tnh Đồng Tháp.
+ y ban nhân dân phường Đ;
Người đại din theo pp lut: Ông Nguyn Hu Đ-Chc v: Ch tch
Đa ch: s 555A, đường Lý Thường Kit, phường Đ, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo y quyền: Ông Trần Mạnh K-chức vPhó Chủ tịch y
ban nhân dân phường Đ (xin vắng mt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Đậu Xuân T-Chức vụ: Chuyên
viên Phòng kinh tế, hạ tầng và Đô thị phường Đ. (có mt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai khu vực X, Đồng Tháp
Địa chỉ: số 1/3A, H, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Thị Hồng L-Chức vụ: Giám đốc
(xin vắng mt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ kiện người
khởi kiện ông Nguyễn Văn D người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ông D chủ sở hữu quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất (gọi tắt GCNQSDĐ) số H00758 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày ngày
14/3/2006, thửa đất số 1127, tờ bản đồ số 757, diện tích 1050 mét vuông, mục đích
sử dụng: đất trồng cây lâu năm. Đất này nguồn gốc do cha của ông D ông
Nguyễn Văn T1 (mua 01 phần diện tích thửa đất số 668 theo sổ ruộng của ông Trần
Văn K được cấp GCNQSDĐ số 02523 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày
28/9/1999) tặng cho ông D. Năm 2024, ông D có nhu cầu chuyển nhượng quyền sử
dụng đất nói trên nhưng Văn phòng công chứng yêu cầu phải cấp đổi Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thì mới tiến hành công chứng hợp đồng chuyển nhượng. Do
đó, ông D đã nộp hồ sơ đến Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai thành phố M xin
cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 30/12/2024, Chi nhánh văn phòng Đăng đất đai thành phố M(nay
Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực X - Đồng Tháp) có Phiếu hướng dẫn
hoàn thiện hồ sơ để hướng dẫn chuyển trả toàn bộ hồ sơ cho ông D. Theo Phiếu
hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ, trên thửa đất công trình xây dựng trên đất nông
ING270526.TL.QDBA.1779 3
nghiệp chưa đúng với mục đích sử dụng. Do đó, để Chi nhánh văn phòng Đăng
đất đai sở cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông D cần hoàn thiện
hồ sơ theo nội dung hướng dẫn, sau khi hoàn thiện hồ thì liên hệ Chi nhánh văn
phòng Đăng ký đất đai thành phố Mđể nộp lại hồ sơ.
Thực hiện theo Phiều nướng dẫn hoàn thiện hồ của Chi nhánh Văn phòng
Đăng ký đất đai ngày 30/12/2024, ông D đã khắc phục và tiến hành đo đạc chỉnh
thửa đất nộp lại hồ sơ. Đến ngày 09/6/2025, Chi nhánh văn phòng Đăng đất
đai thành phố Mcó Phiếu trả hồ để trả hồ cho ông D. Theo Phiếu trả hồ sơ,
“Giấy chứng nhận số 02523 cấp cho ông Nguyễn Văn T1 không chính xác so với vị
trị thực tế sử dụng tại thời điểm cấp giấy, dẫn đến việc không chính xác khi cấp Giấy
chứng nhận số H00758 cho ông Nguyễn Văn D”. Đồng thời, Chi nhánh Văn phòng
Đăng ký đất đai thành phố M cũng viện dẫn quy định tại Khoản 4 Điều 152 Luật Đất
đai năm 2024 dể từ chối cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng dất cho ông D.
Kể từ thời điểm nhận được Phiếu trả hồ sơ của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký
đất đai, ông D mới biết được Giấy chứng nhận quyền sử dụng dất số 02523 được Ủy
ban nhân dân huyện C (hiện tại thuộc địa bàn quản lý của Ủy ban nhân dân phường
Đ, tỉnh Đồng Tháp) cấp cho cha ông D ông Nguyễn Văn T1 là không chính xác
so với vị trí thực tế sử dụng, từ đó dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận số H00758 cho
ông D cũng không đúng theo hiện trạng. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất không chính xác này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp
của ông D. Chính vì vậy, ông D làm đơn này để yêu cầu Tòa án nhân dân Khu vực
1 - tỉnh Đồng Tháp các nội dung sau:
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số H00758 do Ủy ban nhân dân
huyện C cấp ngày 14/3/2006, thửa đất s 1127, tờ bản đồ số 757, diện tích 1050 mét
vuông, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm do cấp sai vtrí, hướng và diện tích
của thửa đất.
- Buộc quan thẩm quyền cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo
đúng với vị trí và diện tích thực tế ông D đang quản lý, sử dụng.
Người khởi kiện cam đoan không đồng thời khiếu nại Quyết định hành chính
biệt của Ủy ban nhân dân huyện C Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
H00758 ngày 14/3/2006 đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
* Quá trình giải quyết người bị kiện:
- Ủy ban nhân dân phường Đ ý kiến: thống nhất với yêu cầu khởi kiện của
ông D, công nhận GCNQSDĐ sH00758 đã cấp không đúng vị trí, hướng diện
tích thực tế. Việc cấp sai này nguồn gốc từ GCNQSDĐ số 02523 cấp cho ông
Nguyễn Văn T1 trước dây đã không chính xác về vị trí thửa đất thực tế tại thời điểm
cấp giấy, dẫn đến sự sai lệch khi cấp GCNQSDĐ cho ông D. Theo Biên bản đối
thoại và các văn bản tố tụng, người bị kiện không có ý kiến phản đối, đồng thời xác
định Tòa án là cơ quan có thẩm quyền hủy GCNQSDĐ số H00758 theo quy định.
- Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực X, tỉnh Đồng Tháp (trước đây
là Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố M) đã có Công văn số
1146/CN.KVI-DKCGCN&TTLT ngày 24/3/2026 có ý kiến:
ING270526.TL.QDBA.1779 4
Ông Nguyễn Văn D được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận số
H00758 ngày 14/3/2006, thửa đất số 1127, tờ bản đồ số 757, diện tích 1050m², mục
đích sử dụng đất trồng cây lâu năm tọa lạc ấp L, L1, huyện C, Tiền Giang (nay
khu phố L, phường Đ, tỉnh Đồng Tháp).
Nguồn gốc thửa đất do ông Nguyễn Văn T1 được Ủy ban nhân dân huyện C
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s02523 ngày 28/9/1999 thửa đất số 1127,
tờ bản đồ số 757, diện tích 1050m², mục đích sdụng đất Vườn; đến năm 2006, ông
T1 tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn D được cấp Giấy chứng
nhận nêu trên. Trong quá trình sử dụng, ông D xin chuyển mục đích sang đất thổ cư
một phần thửa đất số 1127 với diện tích 100m² được Văn phòng Đăng ký quyền s
dụng đất huyện C xác nhận tại trang 4 Giấy chứng nhận ngày 27/4/2006.
Qua kiểm tra thực tế đối chiếu với bản đồ địa chính chính quy, Chi nhánh
xác định sự sai lệch giữa Giấy chứng nhận đã cấp hiện trạng sử dụng đất, cụ
thể:
- Kích thước chiều dài thửa đất theo Giấy chứng nhận 25 m, trong khi thực
tế do đạc là khoảng 41,46 m (cạnh còn lại 41,57 m);
- Kích thước chiều rộng theo Giấy chứng nhận 42m, trong khi thực tế
khoảng 26,26 m (cạnh còn lại 27,02 m);
- Vị trí thửa đất ông Nguyễn Văn D đang sử dụng thực tế thuộc thửa đất số
1126, tờ bản đồ số 757 (theo bản đồ địa chính chính quy là thửa đất số 329, tờ bản
đồ số 47) diện tích 1102,7m², khác với thửa đất số 1127 đã được cấp Giấy chứng
nhận.
Theo tờ trình số 1182/TTr-UBND ngày 21/10/2024 của Ủy ban nhân dân
Đạo Thạnh (nay Ủy ban nhân dân phường Đ) xác định: "... thửa đất số 1127, tờ
bản đồ số 757 theo bản đồ tỉ lệ 1/5000 cấp cho ông Nguyễn Văn D hiện tại đã được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Văn Th, Nguyễn Thị Hồng
Nh và bà Nguyễn Thị Kim Th".
Như vậy, có cơ sở xác định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02523 cấp
cho ông Nguyễn Văn T1 trước đây không đúng vị trí thửa đất thực tế, dẫn đến việc
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00758 cho ông Nguyễn Văn D không
đúng vị trí thửa đất (thuộc trường hợp Giấy chứng nhận đã cấp không đúng đối tượng
sử dụng đất, không đúng diện tích đất).
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 152 Luật đất đai 2024 quy định:
“2. Nhà nước thu hồi giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:
d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử
dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục
đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy
định của pháp luật đất đai tại thời điểm cấp giấy chứng nhận".
Đồng thời, tại khoản 4 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024 quy định: trường hợp
người được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất theo quy
ING270526.TL.QDBA.1779 5
định thì quan có thẩm quyền không thực hiện thu hồi, việc xử lý phải theo bản án
hoặc quyết định của Tòa án có thẩm quyền.
Căn cứ Công văn 8524/SNN&MT-VPĐKĐĐ ngày 11 tháng 12 năm 2025 của
Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp về việc giải quyết khó khăn, vướng
mắc liên quan đến thủ tục hành chính trong thi hành Luật Đất đai, trong đó có nội
dung:
“Trường hợp 3: Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp lần đầu không
đúng theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024, nay người
sử dụng đất đã thực hiện thủ tục đăng biến động đất đai được quan cấp
thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định. Giấy chứng nhận được cấp
trong trường hợp đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất (trừ trường hợp
được quy định tại khoản 4 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024) bị thu hồi theo điểm d
khoản 2 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024 mà nguyên nhân do Giấy chứng nhận cấp
lần đầu không đúng quy định của pháp luật về đất đai tại điểm d khoản 2 Điều 152
Luật Đất đai năm 2024. Trước khi thu hồi, Ủy ban nhân dân xã, phường nơi có đất
văn bản khẳng định Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định pháp luật v
đất đai, đồng thời đề ngh Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai Khu vực thực hiện
thu hồi Giấy chứng nhận theo quy định,
Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai Khu vực nơi đất ban hành Quyết định
thu hồi và thực hiện việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ
địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai. Sau đó, chuyển hồ sơ cấp Giấy chứng nhận đến Ủy
ban nhân dân xã, phường nơi có đất (cơ quan có chức năng quản lý đất dai).
Ủy ban nhân dân xã, phường nơi có đất (cơ quan có chức năng quản lý đất đai)
soát hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định của pháp luật và chuyển
hồ giải quyết đến Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai Khu vực thực hiện chỉnh
hồ sơ địa chính, sở dliệu đất đai; trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc chuyển quan tiếp nhận hồ để trao
cho người được cấp.
Từ những căn cứ trên, Chi nhánh nhận thấy:
- Trường hợp ông Nguyễn Văn D đã nhận chuyển quyền sử dụng đất từ ông
T1theo quy định pháp luật thì việc thu hồi Giấy chứng nhận chỉ được thực hiện khi
có bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
- Sau khi có kết quả giải quyết của cơ quan Tòa án (bản án hoặc quyết định có
hiệu lực pháp luật), cơ quan thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi Giấy chứng
nhận là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực X.
- Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuc Ủy ban nhân dân
phường Đ theo quy định hiện hành.
* Tại phiên tòa:
- Luật bảo vệ người khởi kiện người đại diện theo ủy quyền của người
khởi kiện trình bày giữ nguyên yêu cầu khởi kiệnđưa ra nhiều căn cứ để yêu cầu
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00758 ngày 14/3/2006 cấp cho ông D
ING270526.TL.QDBA.1779 6
không đúng vị trí, kích thước diện tích thửa đất. Đồng thời yêu cầu buộc
quan có thẩm quyền thu hồi và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông
D cho đúng theo quy định.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích của người bị kiện Ủy ban nhân dân phường Đ
có ý kiến: Căn cứ văn bản 1446 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực
X thể hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông D không đúng vị trí cũng
như kích thước, diện tích thực tế ông D đang sử dụng. Do đó, cũng đồng ý hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông D nhưng theo quy định thì thẩm quyền
hủy giấy là của Tòa án do giấy của ông D được chuyển quyền từ ông T1cha ca ông
D. Sau khi có quyết định của Tòa án thì Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu
vực X sẽ thu hồi Ủy ban nhân dân phường Đ scấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo quy định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 phát biểu:
+ Về việc tuân theo pháp luật ttụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, T
Tòa án: Thẩm phán thụ lý v án đúng thẩm quyền, việc xác minh thu thập chứng cứ
thực hiện đúng các quy định của Luật Tố tng hành chính. Đối với Hội đồng xét xử
và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hành chính.
Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các
quy định của Luật tố tụng hành chính.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án:
Xét việc xác định cách người bị kiện: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số H00758 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 14/3/2006. Hiện nay, do thay đổi
địa giới hành chính và tổ chức chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân phường Đ
là cơ quan kế thừa quyền, nghĩa vụ của Ủy ban nhân dân huyện C đối với việc quản
lý nhà nước về đất đai tại địa phương nơi có đất tranh chấp. Do đó, việc Tòa án xác
định Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Đ Ủy ban nhân dân phường Đ tham gia
tố tụng với tư cách người bị kiện là có căn cứ. Đối với Chi nhánh Văn phòng Đăng
đất đai khu vực X, đây cơ quan có liên quan trực tiếp đến việc tiếp nhận, giải
quyết hồ cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quan trách nhiệm
thực hiện việc thu hồi, chỉnh hồ địa chính sau khi bản án hoặc quyết định
có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Do đó, việc xác định Chi nhánh Văn phòng Đăng
đất đai khu vực X tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa v liên
quan sẽ phù hợp hơn so với xác định người bị kiện. Ông D khởi kiện hủy quyết
định hành chính còn trong thời hiệu khởi kiện nên được xem xét.
Về nguồn gốc đất: Ông Nguyễn Văn T1 (cha ruột ông D) được Ủy ban nhân
dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02523 ngày 28/9/1999 thửa
đất số 1127, tờ bản đồ số 757, diện tích 1050 m
2
, mục đích sử dụng đất vườn, tọa lạc
ấp L, L1, huyện C, Tiền Giang (nay khu phố Long Hòa A, phường Đ, tỉnh
Đồng Tháp), đến năm 2006, ông T1tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn
Văn D toàn bộ diện tích của thửa đất 1127 và được cấp Giấy chứng nhận số H00758
ngày 14/3/2006.
ING270526.TL.QDBA.1779 7
Qua các tài liệu do ông D cung cấp cũng như xác nhận của Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai thhiện ch thước, hướng thửa đất thực tế của ông D sử dụng
cũng như số thửa đất so với giấy chứng nhận được cấp không đúng, không chính
xác. Và việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D cấp không chính xác là
xuất phát từ việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T1
không chính xác.
Theo Công văn số 1446/CN.KV1-ĐKCGCN&TTLT ngày 24/3/2026 của Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực X, xác định: “V tthửa đất ông Nguyễn
Văn D đang sử dụng thực tế thuộc thửa đất số 1126, tờ bản đồ số 757 (theo bản đồ
địa chính chính quy thửa đất số 329, tờ bản đồ số 47) diện tích 1102,7 m
2
, khác
với thửa đất số 1127 đã được cấp Giấy chứng nhận. Vị trí thửa đất số 1127 đã được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người khác; còn phần đất ông D thực
tế đang sử dụng thuộc thửa đất khác theo bản đồ địa chính chính quy. Từ đó, có căn
cứ xác định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sH00758 thuộc trường hợp cấp
không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất theo quy định tại điểm
d khoản 2 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024.
Xét thấy, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số 02523 cấp cho ông Nguyễn Văn T1 trước đây không đúng với vị trí
thửa đất thực tế sử dụng, dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
H00758 cho ông Nguyễn Văn D cũng không đúng vị trí, kích thước diện tích thực
tế. Nội dung này đã được Ủy ban nhân dân phường Đ Chi nhánh Văn phòng Đăng
đất đai khu vực X thống nhất xác nhận.
Quá trình giải quyết, các bên thống nhất hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đã cấp cho ông D, việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho ông D
thực hiện theo quy định pháp luật.
Theo quy định pháp luật đất đai việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã
chuyển quyền thì thẩm quyền thu hồi xử theo quy định Tòa án. Do đó, có căn
cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn D về việc hủy Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số H00758 ngày 14/3/2006 do Ủy ban nhân dân huyện C
cấp.
Đối với yêu cầu buộc cơ quan thẩm quyền cấp lại Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, xét thấy sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, việc thu hồi, chỉnh lý hồ
địa chính cấp lại Giấy chứng nhận phải được quan nhà nước thẩm quyền
thực hiện theo trình tự, thủ tục hành chính về đất đai. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét
xử ghi nhận trách nhiệm của quan thẩm quyền thực hiện theo quy định pháp
luật sau khi bản án có hiệu lực.
Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của ông Nguyễn Văn D. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00758
do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 14/3/2006; Giao quan thẩm quyền thực
hiện việc thu hồi, chỉnh xem xét cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
theo quy định pháp luật đất đai hiện hành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
ING270526.TL.QDBA.1779 8
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ kiện được thẩm tra
tại phiên tòa, n cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến ca Luật sư, người bảo vệ quyền
lợi ích hợp pháp của người bị kiện và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét
xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Các dương sự vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử
vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các dương sự theo quy
định tại Điều 157 Luật Tố tụng hành chính.
[1.2] Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ Điều 116 Luật Tố tụng hành chính, thời
hiệu khởi kiện đối với quyết định hành chính là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc
biết được quyết định hành chính đó. Ông D biết được việc GCNQSDĐ bị cấp sai
sau khi nhận Phiếu trả hồ sơ ngày 09/6/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất
đai thành phố M. Ngày khởi kiện 06/11/2025, vụ án được thụ ngày 24/11/2025,
còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định pháp luật.
[1.3] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây vụ án hành chính
liên quan đến khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản đất đai tại
phường Đ, tỉnh Đồng Tháp, nên xác định quan hệ tranh chấp “Hủy Quyết định
hành chính về quản lý đất đai trong trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Đồng Tháp
theo quy định tại các Điều 3, Điều 30, 31 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa
đổi, bổ sung năm 2025).
[2] Về xác định tư cách dương sự:
- Quyết định hành chính bị khiếu kiện GCNQSDĐ số H00758 do Ủy ban
nhân dân huyện C cấp ngày 14/3/2006. Tuy nhiên, sau quá trình sắp xếp, sáp nhập
đơn vị hành chính, toàn bộ khu đất liên quan hiện thuộc địa bàn quản lý của Ủy ban
nhân dân phường Đ, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ khoản 2 Công văn số 285/TANDTC-
PC ngày 31/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc kế thừa quyền,
nghĩa vụ tố tụng đối với các vụ án khi có sự thay đổi về t chức hành chính, cơ quan
kế thừa quyền và nghĩa vụ của cơ quan đã ban hành quyết định sẽ tham gia tố tụng
với cách người bị kiện. Do đó, Hội đồng xét xử xác định Ủy ban nhân dân
phường Đ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Đ là người bị kiện trong vụ án này
là đúng quy định pháp luật theo khoản 9 Điều 3 Luật tố tụng hành chính.
- Tại văn bản số 1446/CN.KVI-ĐKCGCN&TTLT ngày 24/3/2026 của Chi
nhánh văn phòng đăng đất đai khu vực X xác định quan thẩm quyền thu
hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Chi nhánh Văn phòng Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai khu vực X. Do đó, Hội đồng xét xử xác định Chi nhánh văn
phòng đăng ký dai khu vực I là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án
này theo khoản 10 Điều 3 Luật tố tụng hành chính.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của ông D, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về thẩm quyền cấp giấy: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00758 do
Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 14/3/2006, thửa đất số 1127, tờ bản đồ số 757,
ING270526.TL.QDBA.1779 9
diện tích 1050 m
2
cho ông Nguyễn Văn D được ban hành đúng hình thức, đúng thẩm
quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 52 Luật Đất đai năm 2003.
- Về trình tự thủ tục ban hành: Trên cơ sở hồ ông T1thừa kế ông D nên Ủy
ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận H00758 cho ông Nguyễn Văn D đúng
trình tự theo quy định.
- Về nội dung giấy chứng nhận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00758
do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 14/3/2006 cho ông Nguyễn Văn D đối với
thửa đất số 1127, tờ bản đồ số 757, diện tích 1.050 m² có những sai lệch so với hiện
trạng sử dụng đất thực tế của ông D, c thể: Về diện tích: Giấy chứng nhận thể hiện
kích thước chiều dài 25m, chiều rộng 42m; thực tế đo đạc chiều dài khoảng 41,46m
(cạnh còn lại 41,57m), chiều rộng khoảng 26,26m (cạnh còn lại 27,02m). Về vị trí:
Vị trí thửa đất ông D đang quản lý, sử dụng thực tế thuộc thửa đất số 1126, tờ bản
đồ số 757 (theo bản đồ địa chính chính quy là thửa đất số 329, tbản đ số 47) diện
tích 1.102,7 m², khác hoàn toàn so với thửa đất số 1127 đã được cấp. Trong khi đó,
thửa đất số 1127 theo bản đồ hiện nay đã được cấp GCNQSDĐ cho người sử dụng
đất khác. Các sai lệch trên được xác định nguồn gc từ GCNQSDĐ s02523 cấp
cho ông Nguyễn Văn T1 (cha ông D) trước dây đã không chính xác về vị tthửa đất
thực tế tại thời điểm cấp giấy, dẫn đến việc cấp GCNQSDĐ số H00758 cho ông D
cũng không đúng theo hiện trạng. Những tình tiết này đã được chính người bị kiện
cũng như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thừa nhận và xác định cụ thể.
Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024, Nhà nước
thu hồi GCNQSDĐ đã cấp trong trường hợp “Giấy chứng nhận đã cấp không dúng
thẩm quyền, không dúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không dù
điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất
hoặc nguồn gốc sdụng đất theo quy định của pháp luật đất đai tại thời điểm cấp
giấy chứng nhận". Đồng thời, tại khoản 4 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024 cũng quy
định: “Trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện chuyển quyền sử
dụng dất theo quy định thì cơ quan có thẩm quyền không thực hiện thu hồi, việc xử
lý phải theo bản án hoặc quyết định của Tòa án có thẩm quyền”. Trong trường hợp
này, GCNQSDĐ số H00758 đã được cấp cho ông D trên sở tặng cho quyền sử
dụng đất từ ông Nguyễn Văn T1 (cha ông D) từ năm 2006, do đó việc thu hồi phải
được thực hiện thông qua bản án của Tòa án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người bị kiện cũng người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đã thống nhất và không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của ông
D về việc hủy GCNQSDĐ số 100758. Sự thống nhất của các dương sphù hợp
với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và đúng quy định của pháp luật.
Tại văn bản số 1446 ngày 24/3/2026 cũng như tại phiên tòa người bảo vệ quyền
lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân phường Đ xác định thẩm quyền thu hồi
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D sau khi Tòa án hủy là Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai khu vực X và thẩm quyền cấp quyền sử dụng đất cho ông D
Ủy ban nhân dân phường Đ. Do đó, Hội đồng xét xử cần buộc Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai khu vực X, Ủy ban nhân dân phường Đ và các quan
ING270526.TL.QDBA.1779 10
thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ công vụ thu hồi, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho ông D theo đúng các quy định của pháp luật về đất đai.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của
ông Nguyễn Văn D căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật, nên được
chấp nhận toàn bộ.
[4] Xét ý kiến của Luật sư, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp phù hợp
nhận định của Hi đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Xét quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Đồng
Tháp tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, do đó được chấp
nhận.
[6] Về án phí hành chính sơ thẩm:
Ông D người cao tuổi nên được miễn án phí hành chính thẩm do yêu
cầu khởi kiện của ông D được chấp nhận, nên Ủy ban nhân dân phường Đ phải chịu
án phí theo quy định tại Điều 348 Luật ttụng hành chính và Điều 12, Điều 32 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 3, Điều 30, 31, 116, 157, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 194,
Điều 206, Điều 208, Điều 348 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi bổ sung
năm 2025); Khoản 2 Điều 52 Luật Đất đai năm 2003; điểm d khoản 2, khoản 4 Điều
152 Luật Đất đai năm 2024; Điều 12, Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án; Công văn số 285/TANDTC-
PC ngày 31/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc kế thừa quyền,
nghĩa vụ tố tụng.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn D.
- Hủy Quyết định hành chính cá biệt là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
H00758 do Ủy ban nhân dân huyện C (nay là địa bàn do Ủy ban nhân dân phường
Đ, tỉnh Đồng Tháp quản lý) cấp ngày 14/3/2006, thửa đất s 1127, tbản đồ số 757,
diện tích 1.050 m², mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm.
- Buộc Chi nhánh Văn phòng đăng ký khu vực I- Đồng Tháp, Ủy ban nhân dân
phường Đ-Đồng Tháp, cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc thu hồi, cấp lại Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn D theo đúng vị trí và diện tích
thực tế đang quản lý, sử dụng, phù hợp với quy định của pháp luật đất đai hiện hành.
2. Về án phí hành chính sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Văn D được miễn án phí hành chính sơ thẩm.
ING270526.TL.QDBA.1779 11
- Ủy ban nhân dân phường Đ, tỉnh Đồng Tháp phải chịu 300.000 đồng án phí
hành chính sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên
án, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
- VKSND khu vc 1;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu: án văn, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X SƠ THẨM
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 02/2026/HC-ST Bản án số 02/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 02/2026/HC-ST Bản án số 02/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất