Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 18/06/2024 của TAND huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang về yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 01/2024/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 18/06/2024 của TAND huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang về yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Yên Sơn (TAND tỉnh Tuyên Quang) |
Số hiệu: | 01/2024/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 18/06/2024 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | QĐ giải quyết việc dân sự |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN SƠN
TỈNH TUYÊN QUANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc
Số: 10/2023/QĐST-HNGĐ
Yên Sơn, ngày 05 tháng 12 năm 2023
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Mạnh Hồng
Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên
Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tham
gia phiên họp: Ông Nguyễn Trọng Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh
Tuyên Quang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số:
06/2023/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc ‘‘Yêu cầu hủy kết hôn
trái pháp luật”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số:
06/TB-TA, ngày 07 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên họp sơ thẩm giải
quyết việc dân sự số: 02/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 21 tháng 11 năm 2023 gồm
những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Đào Văn L, sinh năm 1989
Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt có đơn đề nghị
vắng mặt tại phiên họp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Vũ Thị Lan A, sinh ngày 20/5/2000; địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện T,
tỉnh Thái Bình. Vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ.
2. UBND xã N, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang: Người đại diện theo pháp luật
ông Trần Văn T – Chức vụ: Chủ tịch UBND xã. Vắng mặt có đơn đề nghị vắng
mặt tại phiên họp.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Tại đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, bản tự khai và quá trình
giải quyết việc dân sự anh Đào Văn L trình bày:
Anh và chị Vũ Thị Lan A kết hôn với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn
tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 12/12/2013; trong
2
giấy chứng nhận kết hôn do UBND xã N, huyện Y cấp có ghi rõ họ tên anh là Đào
Văn L, sinh ngày 28/8/1989, chị Vũ Thị Lan A, sinh ngày 20/5/1996. Tuy nhiên,
hiện nay căn cứ trên các giấy tờ khác thể hiện nhân thân của chị Vũ Thị Lan A thì
xác định được chị Vũ Thị Lan A, sinh ngày 20/5/2000, như vậy tại thời điểm đăng
ký kết hôn (12/12/2013) thì chị Vũ Thị Lan A mới 13 tuổi 06 tháng 22 ngày; đây là
độ tuổi chưa đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Nữ từ 18 tuổi trở lên). Hiện nay tuy chị Vũ
Thị Lan A đã đủ độ tuổi kết hôn nhưng anh không yêu cầu Tòa án công nhận quan
hệ hôn nhân giữa anh và chị Vũ Thị Lan A, vì ngay sau khi kết hôn được khoảng
02 tháng giữa anh chị đã xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân từ khoảng tháng
02/2014 cho đến nay, không còn quan hệ gì về tình cảm cũng như kinh tế.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Anh và chị Vũ Thị Lan A không có
con chung, tài sản chung, nợ chung không đề nghị Tòa án giải quyết.
Nay anh yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang hủy
việc kết hôn trái pháp luật giữa anh và chị Vũ Thị Lan A; hủy Giấy chứng nhận kết
hôn số: 42, ngày 12/12/2013 của UBND xã N, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang theo
quy định.
- Tại bản tự khai cũng như tại đơn đề nghị vắng mặt đại diện UBND xã N
trình bày:
Qua kiểm tra sổ đăng ký kết hôn có lưu tại UBND xã N, huyện Y, tỉnh Tuyên
Quang thể hiện: Anh Đào Văn L và chị Vũ Thị Lan A có đăng ký kết hôn tại Ủy
ban nhân dân xã N, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 12/12/2013; trong giấy
chứng nhận kết hôn do UBND xã N, huyện Y cấp có ghi rõ họ tên Đào Văn L, sinh
ngày 28/8/1989, chị Vũ Thị Lan A, sinh ngày 20/5/1996. Tuy nhiên, hiện nay căn
cứ trên các giấy tờ khác thể hiện nhân thân của chị Vũ Thị Lan A thì xác định được
chị Vũ Thị Lan A, sinh ngày 20/5/2000, như vậy tại thời điểm đăng ký kết hôn
(12/12/2013) thì chị Vũ Thị Lan A mới 13 tuổi 06 tháng 22 ngày, đây là độ tuổi
chưa đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000 (Nữ từ 18 tuổi trở lên).
Tại thời điểm đăng ký kết hôn Cán bộ tư pháp tham mưu đã căn cứ vào: Giấy
xác nhận tình trạng hôn nhân ngày 06/12/2013 của UBND xã H, huyện K, tỉnh
Thái Bình; Sổ hộ khẩu do Công an xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình cấp; Giấy
chuyển hộ khẩu, ngày 04/12/2013 của Công an xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình đều
thể hiện chị Vũ Thị Lan A, sinh ngày 20/5/1996, nên việc đăng ký kết hôn cho chị
Vũ Thị Lan A và anh Đào Văn L tại thời điểm ngày 12/12/2013 là đúng quy định
pháp luật.
Hiện nay căn cứ vào các giấy tờ tùy thân khác của chị Vũ Thị Lan A thì mới
phát hiện tại thời điểm đăng ký kết hôn và cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn
cho anh Đào Văn L và chị Vũ Thị Lan A thì chị Vũ Thị Lan A chưa đủ 18 tuổi.
3
UBND xã N đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn xem xét giải quyết yêu
cầu hủy kết hôn trái pháp luật của anh Đào Văn L và hủy Giấy chứng nhận kết hôn
số: 42, ngày 12/12/2013 của UBND xã N, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang theo quy
định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ việc Tòa án đã tiến hành triệu tập chị Vũ Thị Lan A
hợp lệ theo đúng quy định pháp luật nhưng chị Vũ Thị Lan A đều vắng mặt và
không đến Tòa án để giải quyết việc hủy kết hôn trái pháp luật với anh L, do vậy
Tòa án không ghi nhận được ý kiến của chị Vũ Thị Lan A. Tuy nhiên căn cứ vào
kết quả xác minh cho thấy anh Đào Văn L và chị Vũ Thị La A1 đã sống ly thân từ
khoảng năm 2014 cho đến nay, không có bất cứ quan hệ gì về tình cảm cũng như
kinh tế; ngoài ra căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập có đủ cơ sở xác định
chị Vũ Thị Lan A, sinh ngày 20/5/2000.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên
Quang: Trong quá trình giải quyết việc dân sự, Thẩm phán, Thư ký và những
người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Xét thấy yêu cầu của anh Đào Văn L là có căn cứ, đề nghị Tòa án chấp nhận
yêu cầu của anh Đào Văn L: Hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Đào Văn L và chị
Vũ Thị Lan A theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 42, ngày 12/12/2013 của UBND
xã N, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Ngoài ra đề nghị tuyên về nghĩa vụ chịu lệ phí
và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được
thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án
nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết: Anh Đào Văn L và chị Vũ Thị Lan A đăng ký
kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 42, ngày 12/12/2013 của UBND xã N,
huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, vì vậy yêu cầu của đương sự thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại
khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35 và điểm g khoản 2 Điều 39 của Bộ luật
tố tụng dân sự.
Tại phiên họp người yêu cầu là anh Đào Văn L và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là UBND xã N, huyện Y vắng mặt, nhưng đã có đơn đề nghị xét xử
vắng mặt và ý kiến trình bày lưu trong hồ sơ vụ việc; chị Vũ Thị Lan A đã được
triệu tập hợp lệ lần thứ 2. Vì vậy, căn cứ khoản 3 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân
sự Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.
[2]. Về xem xét nội dung yêu cầu: Anh Đào Văn L và chị Vũ Thị Lan A kết
hôn với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện
Y, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 12/12/2013; trong giấy chứng nhận kết hôn do
UBND xã N, huyện Y cấp có ghi anh Đào Văn L, sinh ngày 28/8/1989, chị Vũ Thị
Lan A, sinh ngày 20/5/1996. Tuy nhiên, hiện nay căn cứ trên các giấy tờ khác thể
4
hiện nhân thân của chị Vũ Thị Lan A có đủ căn cứ xác định chị Vũ Thị Lan A, sinh
ngày 20/5/2000. Như vậy tại thời điểm đăng ký kết hôn (12/12/2013) thì chị Vũ
Thị Lan A mới 13 tuổi 06 tháng 22 ngày; đây là độ tuổi chưa đủ điều kiện đăng ký
kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
(Nữ từ 18 tuổi trở lên). Hiện nay tuy chị Vũ Thị Lan A đã đủ độ tuổi kết hôn
nhưng anh Đào Văn L không yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân giữa
anh và chị Vũ Thị Lan A. Căn cứ theo quy định của Luật hôn nhân gia đình năm
2014 và điểm b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT- TANDTC-
VKSNDTC- BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, cần chấp nhận yêu cầu của anh Đào Văn L: Hủy kết
hôn trái pháp luật giữa anh Đào Văn L và chị Vũ Thị Lan A theo Giấy chứng nhận
kết hôn số: 42, ngày 12/12/2013 của UBND xã N, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
[3]. Về hậu quả của việc hủy kết hôn trái pháp luật: Do việc kết hôn giữa anh
Đào Văn L và chị Vũ Thị Lan A vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình
năm 2000 và là kết hôn trái pháp luật nên kể từ khi quyết định này có hiệu lực
pháp luật, anh Đào Văn L và chị Vũ Thị Lan A phải chấm dứt quan hệ như vợ
chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
[4]. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự sơ
thẩm phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
[5]. Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35 và điểm g khoản 2
Điều 39; khoản 3 Điều 367, Điều 370 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000;
Các Điều 10, 11, 12 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của anh Đào Văn L về việc ‘‘Yêu cầu hủy kết hôn trái
pháp luật”.
Hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Đào Văn L và chị Vũ Thị Lan A theo
Giấy chứng nhận kết hôn số: 42, ngày 12/12/2013 của UBND xã N, huyện Y, tỉnh
Tuyên Quang.
2. Hậu quả của việc hủy kết hôn trái pháp luật: Kể từ khi quyết định này có
hiệu lực pháp luật, anh Đào Văn L và chị Vũ Thị Lan A phải chấm dứt quan hệ
như vợ chồng.
5
3. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Đào Văn L phải chịu
300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự nhưng được trừ vào
số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng)
theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 000000718490, ngày
16/10/2023 Công ty cổ phần T1 và Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số:
AA/2023/ 0000724, ngày 16/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên
Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Anh Đào Văn L đã nộp đủ tiền lệ phí.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể
từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm
yết công khai.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày; Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày
Tòa án ra Quyết định.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND huyện Yên Sơn;
- Chi cục THADS huyện Yên Sơn;
- UBND xã Nhữ Khê;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ việc dân sự.
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
Vũ Mạnh Hồng
6
Thành viên Hội đồng xét xử
Phạm Tiến Hào Đặng Thị Huệ
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Vũ Mạnh Hồng
7
8
9
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 18/11/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 24/10/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 26/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 24/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 10/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 27/08/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 27/08/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 20/08/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 15/08/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 29/07/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 26/07/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 24/07/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 18/07/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 28/06/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 05/06/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 29/05/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 29/05/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 21/05/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm