Bản án số 01/2021/DS-ST ngày 05/03/2021 của TAND huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 01/2021/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 01/2021/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 01/2021/DS-ST ngày 05/03/2021 của TAND huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Bình Gia (TAND tỉnh Lạng Sơn) |
| Số hiệu: | 01/2021/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 05/03/2021 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Hoàng Văn H tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Vy Văn V |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH GIA
TỈNH LẠNG SƠN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 01/2021/DS-ST
Ngày 05-03-2021
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất,
yêu cầu di dời tài sản trên đất, yêu cầu bồi
thường thiệt hại về tài sản, yêu cầu hủy một phần giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khởi.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lương Mạnh Dũng
Ông Vũ Như Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Cao Cường - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham
gia phiên tòa: Bà Lương Thị Kiều, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 03 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia xét
xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 10/2020/TLST-DS ngày 20 tháng
10 năm 2020 về việc "Tranh chấp Quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời tài sản trên
đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản" và thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn
số 04/TLST-DS, ngày 02 tháng 11 năm 2020 về việc "Yêu cầu được quản lý, sử
dụng đất, yêu cầu di dời tài sản trên đất, yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2021/QĐXX-ST
ngày 05 tháng 2 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 01/2021/QĐ-TA, ngày
25/2/2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn B, xã B,
huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Vy Văn V, sinh năm 1953. Địa chỉ: Thôn Bản K, xã B,
huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Người phiên dịch tiếng Nùng cho ông Vy Văn V: Chị Lô Thị Y, sinh năm
1990, địa chỉ: Khối phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Dương Công D,
luật sư trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn.
Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi
Hoàng N, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
Đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện B: Ông Trần Nam S,
Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường. Vắng mặt.
2. Bà Hà Thị I, sinh năm 1953. Vắng mặt.
3. Ông Hoàng Văn H1, sinh năm 1978. Vắng mặt.
4. Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1981. Có mặt.
Đều trú tại Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
5. Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh
Lạng Sơn. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Hà Thị I, chị Hoàng Thị L: Ông
Hoàng Văn H, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có
mặt.
6. Bà Lý Thị P, sinh năm 1951. Có mặt.
7. Bà Chu Thị C, sinh năm 1981. Vắng mặt.
8. Cháu Vy Quốc T, sinh năm 2004. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của cháu Vy Quốc T: Ông Vy Văn T, sinh năm
1974. Có mặt.
9. Ông Vy Văn T1, sinh năm 1965. Vắng mặt.
10. Ông Vi Văn H, sinh năm 1976. Vắng mặt.
11. Bà Hoàng Thị S, sinh năm 1964. Vắng mặt.
Đều có địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng, ông Hoàng Văn
H cùng vợ là bà Hoàng Thị T mẹ là bà Hà Thị I, anh trai là Hoàng Văn H1, em gái là
Hoàng Thị L trình bày: Gia đình ông có một lô đất trồng rừng có tên gọi là L (tên gọi
khác là P) thuộc thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Năm 1995 Nhà nước giao sổ bìa
xanh theo Quyết định số 88/QĐ-UBND, ngày 31/5/1995 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân
huyện B, tỉnh Lạng Sơn đối với lô đất số 208, có diện tích 2,7 ha mang tên chủ hộ
Hoàng Văn L là bố đẻ của ông Hoàng Văn H. Năm 1999, ông Hoàng Văn L đăng ký
quyền sử dụng đất và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 876554, ngày
01/10/1999 diện tích 1,7ha, thửa 208B tờ bản đồ đất lâm nghiệp xã B, huyện B, tỉnh
Lạng Sơn. Năm 2010 ông Hoàng Văn L chết, hai người con trai là Hoàng Văn H1 và
Hoàng Văn H quản lý sử dụng mỗi người một phần diện tích. Năm 2008 Nhà nước đo
đạc bản đồ mới thành thửa 600, diện tích 26.320m
2
, tờ bản đồ số 02 xã B, huyện B, tỉnh
Lạng Sơn nhưng chưa được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2015,
ông Hoàng Văn H làm nhà trên một phần diện tích và trồng các loại cây xung quanh
nhà ở. Năm 2017, ông Vy Văn V đến tranh chấp cho rằng có đất trên bờ ruộng, nên ông
có quyền quản lý và phát quang bờ ruộng, bà Chu Thị C là con dâu ông Vy Văn V đến
nhổ phá 34 cây sở loại mới trồng, bà Lý Thị P là vợ ông Vy Văn V và cháu Vy Quốc T
là cháu nội của ông Vy Văn V đã cùng nhau đến chặt phá chuối để trồng sắn, làm nhà
tạm trên đất tranh chấp. Giá trị quyền sử dụng đất có tranh chấp, ban đầu ông Hoàng
3
Văn H khởi kiện với diện tích tranh chấp là 1.200m
2
, sau đó thay đổi yêu cầu khởi kiện
tăng thêm diện tích là 1.422,4m
2
, tuy nhiên không thay đổi về các phía tiếp giáp theo
đơn khởi kiện, về giá trị theo kết quả định giá. Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Vy
Văn V cùng các thành viên trong gia đình chấm dứt hành vi tranh chấp diện tích
1.422,4m
2
đất tại thửa đất số 600, tờ bản đồ số 02 xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn và yêu
cầu ông Vy Văn V phải di dời nhà làm trái phép trên đất đi nơi khác để trả lại đất, yêu
cầu bà Lý Thị P và cháu Vy Quốc T phải bồi thường thiệt hại 02 cây chuối bị chặt giá trị
là 60.000đồng, đối với yêu cầu bà Chu Thị C phải bồi thường thiệt hại về 34 cây sở bị
nhổ. Trong quá trình giải quyết vụ án ông Hoàng Văn H đã tự nguyện rút yêu cầu đòi
bồi thường đối với bà Chu Thị C, bà Lý Thị P và cháu Vy Quốc T và không chấp nhận
yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại các bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng, ông Vy Văn V và vợ là bà Lý
Thị P và cháu trai là Vy Quốc T trình bày: Gia đình ông có khu ruộng có tên gọi N
thuộc thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn do ông cha để lại, phía trên là sườn đồi
hàng năm gia đình vẫn phát quang bờ ruộng theo quy ước, hương ước thôn bản. Năm
2015, ông Hoàng Văn H tự ý san ủi nền nhà và làm nhà để ở trên đất bờ ruộng của ông,
làm đất, đá lăn xuống ruộng của ông. Năm 2016 ông Hoàng Văn H tự ý trồng sở, chuối
trên đất tranh chấp. Nay không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng
Văn H về việc chấm dứt tranh chấp và di dời nhà tạm đi nơi khác.
Ngày 15/12/2020, ông Vy Văn V đã làm đơn phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về đất lấy từ bờ ruộng kéo lên thửa 600 mỗi bên là 50 mét khoảng 700m
2
bao trùm lên
phần diện tích nguyên đơn đã khởi kiện và phần nhà ở, công trình phụ và vườn của ông
Hoàng Văn H đang sử dụng, trong quá trình tham gia tố tụng, ông Vy Văn Vệ thay đổi
tăng diện tích tranh chấp từ 700m
2
lên 1.554,8m
2
đối với yêu cầu phản tố nhưng vẫn giữ
nguyên các các phía tiếp giáp theo yêu cầu phản tố đã nêu trên, yêu cầu ông Hoàng Văn
H chấm dứt hành vi tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu ông Hoàng Văn H di dời
nhà, công trình phụ và các loại cây trồng đi nơi khác để trả lại đất cho ông quản lý, sử
dụng, đồng thời yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho
hộ Hoàng Văn L đối với phần diện tích có tranh chấp.
Tại bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng ông Vi Văn H, Vi Văn T1 và bà
Hoàng Thị S trình bày: Năm 2015, các ông bà cùng với ông Hoàng Văn H đã góp tiền
thuê máy xúc, san ủi làm đường dân sinh đi qua khu vực đất có tranh chấp hiện nay, khi
giải quyết vụ án yêu cầu được tiếp tục sử dụng phần đất đã làm đường để đi lại và yêu
cầu giải quyết vắng mặt.
Ngày 08/12/2020, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, tiến hành đo
đạc đất đất tranh chấp và định giá tài sản đã xác định đất tranh chấp thuộc một phần diện
tích của thửa đất số 600 và tờ bản đồ số 02 xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đo đạc năm
2008 có tên địa danh là P thuộc thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
Xác định đất tranh chấp do giữa nguyên đơn ông Hoàng Văn H với bị đơn ông
Vy Văn V là một phần của thửa đất số 600, tờ bản đồ số 02 xã B, huyện B, tỉnh Lạng
Sơn là đất sườn đồi có các phía tiếp giáp như sau:
Phía Bắc giáp với phần đất còn lại của thửa đất 600 do ông Hoàng Văn H đang
sử dụng, từ điểm A đến B có chiều dài là 15,98 mét (tại vị trí đầu đường mòn có 01 ngôi
miếu do ông Vy Văn V mới lập tạm bợ).
4
Phía Đông tiếp giáp với 4 thửa ruộng của ông Vy Văn V từ điểm B đến C, D có
chiều dài là 82,20 mét.
Phía Nam tiếp giáp với phần đất còn lại của thửa đất 600 do ông Hoàng Văn H1
đang sử dụng, từ điểm D đến E, có chiều dài là 21,61 mét.
Phía Tây tiếp giáp với phần đất còn lại của thửa đất 600 do ông Hoàng Văn H
đang quản lý sử dụng, từ điểm E đến O, A, có chiều dài là 70,41 mét.
Tình trạng sử dụng đất: Đất tranh chấp có 1.422,4m
2
, trên đất có 01 nhà tạm do
ông Vy Văn V làm năm 2019 tại vị trí đường nòm, theo nguyên đơn cho biết khu vực
dưới cây tre là số cây sở bị bà Chu Thị C nhổ phá, cạnh đó là nơi 02 cây chuối bị bà Lý
Thị P và cháu Vy Quốc T chặt phá, phần đất này được ông Vy Văn V trồng sắn năm
2018, khi xem xét thẩm định tại chỗ không xác định được cây sở bị nhổ và chuối chặt
phá vì sự việc xảy ra đã lâu, nay không còn dấu vết, đối với vườn sắn do ông Vy Văn V
trồng, qua kiểm tra không còn cây sắn do trâu, bò thả rông năm trước đã ăn, phá hết
không còn cây sắn trên đất tranh chấp. Đối với đường mòn kéo dài từ hướng Bắc đến
hướng Nam trong khu đất tranh chấp, ở phía trên bờ ruộng, nay không còn sử dụng để
đi lại, mặt đường đã có các loại cây tạp mọc tự nhiên. Theo kết quả định giá xác định về
đất tranh chấp có giá trị là 1.422,4m
2
x 5.000đ/m
2
= 7.112.000đồng, 01 nhà tạm do ông
Vy Văn V làm năm 2019 giá trị còn lại là 5.500.664đồng.
Xác định đất tranh chấp do bị đơn ông Vy Văn V thực hiện việc phản tố đối với
nguyên đơn là một phần của thửa đất số 600, tờ bản đồ số 02 xã B, huyện B, tỉnh Lạng
Sơn là đất sườn đồi có các phía tiếp giáp như sau:
Phía Bắc giáp với phần đất còn lại của thửa đất 600 do ông Hoàng Văn H đang
sử dụng, từ điểm A đến M, L có chiều dài là 28,73 mét.
Phía Đông tiếp giáp với phần đất do nguyên đơn khởi kiện trong vụ án này thuộc
thửa 600, từ điểm A đến O, E có chiều dài là 70,41 mét.
Phía Nam tiếp giáp với phần đất còn lại của thửa đất 600 do ông Hoàng Văn H1
đang sử dụng, từ điểm E đến F, G, H, có chiều dài là 20,50 mét.
Phía Tây tiếp giáp với phần đất còn lại của thửa đất 600 do ông Hoàng Văn H
đang sử dụng, từ điểm H đến K, L, có chiều dài là 57,97 mét (theo sơ họa ngày
08/12/2020).
Tình trạng sử dụng đất: Đất tranh chấp từ bụi tre trở lên có 1.554,8m
2
, trên đất có
01 nhà sàn 5 gian và các công trình phụ do ông Hoàng Văn H làm năm 2015 và các loại
cây gồm khoai lang, sở, hồi, keo, xoan, mạy pì, tre, chuối hạt, quất, mận, đào, ổi, mác
mật, mít, trám, cây gỗ tạp, có 01 đường dân sinh được đổ bê tông đi ngang qua giữa
phần đất tranh chấp từ các điểm A, O, F, G, N, M, các đương sự đều xác định đây là
đường đi chung của các hộ Vi Văn T1, Vi Văn H, Hoàng Thị S và Hoàng Văn H thay
thế cho đường mòn ở sát bờ ruộng. Theo bị đơn có yêu cầu phản tố cho biết khu vực đất
này là đất trên bờ ruộng, ông có quyền quản lý để phát quang bờ ruộng theo quy ước
thôn bản và vẫn cho các hộ dân sử dụng đường dân sinh đi lại không có tranh chấp.
Theo kết quả định giá xác định về đất tranh chấp có giá trị là 1.554,8m
2
x 5.000đ/m
2
=
7.774.000đồng, 01 nhà sàn của ông Hoàng Văn H làm năm 2015 giá trị còn lại là
108.382.560đồng, chuồng lợn và chuồng gà giá trị còn lại là 13.823.473đồng, nhà vệ
sinh giá trị còn lại là 10.448.736đồng, téc nước giá trị còn lại là 3.060.000đồng, vườn
khoai lang 20m
2
gía trị sản lượng là 130.000đồng, sở có 02 loại gồm: 30 cây sở đường
kính gốc từ 15 đến 20cm có giá là 825.000đồng, 27 cây sở đường kính gốc dưới 5 cm là
1.026.000đồng; 01 cây hồi đường kính gốc trên 5 cm là 500.000đồng; keo gồm 5 loại
5
gồm: keo 14 cây mới trồng là 336.000đồng, keo 02 cây đường kính gốc
dưới 5cm là 16.000đồng, keo 03 cây đường kính gốc từ 5 đến 10 cm là 72.000đồng, keo
03 cây đường kính gốc từ 10 đến 20 cm là 66.000đồng, keo 02 cây, đường kính gốc từ
20 đến 30 cm là 234.000đồng; xoan 02 cây đường kính gốc dưới 5 cm là 16.000đồng;
mạy pì 05 cây là 37.500đồng; 01 cây tre là 2.500đồng, chuối hạt (chuối hột) 04 cây là
28.000đồng; quất 01 cây là 51.000đồng; mận 03 cây đường kính gốc dưới 5 cm là
165.000đồng; đào 02 cây là 110.000đồng; ổi 02 cây đường kính gốc dưới 2 cm là
66.000đồng; mác mật 02 cây là 106.000đồng; mít 01 cây là 53.000đồng; trám có 2 loại
gồm: 01 cây là đường kính gốc 5 đến 10 cm là 230.000đồng, trám 02 cây đường kinh
gốc từ 10 đến 15 cm là 860.000đồng; gỗ tạp 02 m
3
Ste là 600.000đồng.
Tại công văn số: 42/UBND-TNMT ngày 13/01/2021 của Ủy ban nhân dân
huyện B, tỉnh Lạng Sơn cho biết: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N
876554, số vào sổ 0127/QSDĐ/236/QĐ-UB cho hộ Hoàng Văn L, thửa đất 208B, diện
tích 17.000m
2
là đúng quy trình, thụ tục theo quy định. Về quy ước, hương ước, Ủy ban
nhân dân huyện không ban hành quy ước, hương ước nào, ông Vy Văn V yêu cầu hủy
một phần giấy chứng nhận đã cấp cho hộ Hoàng Văn L là không phù hợp với thực tế sử
dụng đất.
Tại Công văn số 10/UBND, ngày 11/01/2021 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện
B, tỉnh Lạng Sơn cho biết Ủy ban nhân dân xã không có quy ước hoặc hương ước nào
quy định về việc chủ sử dụng rừng phía trên ruộng của hộ khác phải bỏ ra bao nhiêu mét
để hộ bên dưới phát quang bờ ruộng.
Tại Công văn số 28/NN, ngày 26/01/2021, của Phòng Nông nghiệp và phát triển
nông thôn huyện B, tỉnh Lạng Sơn cho biết: Loại cây Sở đường kính gốc từ 15 đến 20
cm, cây Keo đường kính gốc 5 đến 30 cm, cây Trám đường kính từ 05 đến 15 cm
không thể di dời được, việc di dời cây sẽ không đảm bảo khả năng sống và phát triển
bình thường của cây. Loại cây Xoan, cây Mận, cây Ổi, cây Quất, cây Mác mật, cây
Chuối, cây Đào có thể di dời đi nơi khác trồng với điều kiện khi di dời phải đào khoanh
quanh gốc, bó bầu từng cây và di chuyển đến nơi đất tốt, khi trồng lại cây vẫn đảm bảo
sống và phát triển bình thường nếu điều kiện thời tiết thuận lợi và được chăm sóc tốt.
Tre 01 bụi, 01 bụi Mạy pì 05 cây: Có thể tách gốc để trồng ra nơi mới nhưng phải đúng
thời vụ và là trồng mới. Không thể di chuyển được cả bụi. Vườn Khoai lang 20 m2 là
loại cây trồng bằng dây và tại thời điểm hiện nay do mùa đông giá lạnh, nhiệt độ thấp
kéo dài kèm theo sương giá, sương muối nên không di dời được.
Tòa án đã tiến hành hòa giải ngày 12/01/2021 nhưng không thành. Ông Hoàng
Văn H tự nguyện rút một phần các yêu cầu đối với yêu cầu bà Chu Thị C phải bồi
thường thiệt hại về cây sở bị nhổ phá và yêu cầu bà Lý Thị P và cháu Vy Quốc T phải
bồi thường thiệt hại 02 cây chuối bị chặt. Nay còn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông
Vy Văn V cùng các thành viên trong gia đình phải chấm dứt hành vi tranh chấp diện
tích 1.422,4m
2
, tại thửa 600, và buộc ông Vy Văn V phải di dời ngôi nhà tạm đi nơi
khác để trả lại đất, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Bên bị đơn ông Vy
Văn V có yêu cầu phản tố yêu cầu ông Hoàng Văn H cùng các thành viên trong gia đình
phải chấm dứt hành vi tranh chấp diện tích 1.554,8m
2
, tại thửa 600, và buộc ông Hoàng
Văn H phải di dời ngôi nhà sàn và các công trình phụ, các loại cây trồng đi nơi khác để
trả lại đất, yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ
6
Hoàng Văn L để ông được quản lý, sử dụng toàn bộ khu đất có tranh chấp là
2.977,2m
2
tại thửa đất 600, tờ bản đồ số 02 xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Các bên
đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án và giữ nguyên
quan điểm về yêu cầu và nội dung tranh chấp. Đối với ngôi miếu do ông Vy Văn V tự
lập ở ngay cạnh đường mòn nằm ngoài sát diện tích tranh chấp, các bên không yêu cầu
giải quyết nên không xem xét.
Tại phiên tòa: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn Vy Văn V,
nêu bản luận cứ thừa nhận về yêu cầu phản tố của bị đơn là không có căn cứ và đề nghị
Hội đồng xét xử cho các đương sự thỏa thuận để ông Vy Văn V được sử dụng một phần
diện tích với mục đích phát quan bờ ruộng, Miễn án phí cho bị đơn, xem xét giải quyết
về chi phí tố tụng theo quy định.
Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu quan điểm về quá trình tiến hành tố
tụng của Thẩm phán, Thư ký và tại phiên toà Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng theo
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự khi tham gia tố tụng đã được thực
hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ, nên không có kiến nghị gì.
Kiểm sát viên đề nghị áp dụng các Điều 186, 189, 190 của Bộ luật dân sự năm
2015; Điều 166 của Luật đất đai năm 2013; các Điều 26, 91, 155, 157, 165, khoản 2
Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để giải quyết: Về nội dung, chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn cụ thể: Đình chỉ giải quyết đối với một phần yêu cầu khởi
kiện đã được nguyên đơn rút yêu cầu đối yêu cầu bà Chu Thị C, bà Lý Thị P, cháu Vy
Quốc T bồi thường thiệt hại về tài sản là 34 cây sở và 02 cây chuối bị nhổ và chặt phá,
đề nghị giải quyết cho ông Hoàng Văn H được quản lý sử dụng 2.977,2m
2
đất tranh
chấp bao gồm yêu cầu của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn về diện tích đất,
bác yêu cầu di dời tài sản theo yêu cầu phản tố của bị đơn, bác yêu cầu hủy một phần
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Vy Văn V vì không có căn cứ. Buộc ông
Vy Văn V cùng các thành viên trong gia đình phải chấm dứt hành vi tranh chấp diện
tích đất trên, buộc bị đơn di dời ngôi nhà tạm đi nơi khác để trả lại đất cho bên nguyên
đơn, trả lại án phí cho ông Hoàng Văn H, miễn án phí cho ông Vy Văn V, xem xét buộc
bị đơn phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, đo đạc bản đồ theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản
9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự; yêu cầu hủy quyết định
cá biệt theo khoản 1 Điều 31 của Bộ luật Tố tụng hành chính là thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn. Về quá trình tiến hành tố
tụng, Tòa án đã thực hiện đầy đủ việc thụ lý vụ án theo yêu cầu của nguyên đơn và thụ
lý yêu cầu phản tố của bị đơn, thu thập chứng cứ, cấp tống đạt, các đương sự tham gia tố
tụng đã được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan là mẹ, vợ và các anh chị, em của bên nguyên đơn đã ủy quyền cho nguyên đơn
tham gia tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có đề nghị Tòa án giải quyết
vắng mặt, đối với bà Chu Thị C không có mặt tại địa phương, nguyên đơn đã rút phần
7
yêu cầu bồi thường và không có khiếu nại gì, nên xét xử vắng mặt người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan là có căn cứ.
[2] Về nguồn gốc đất tranh chấp: Khu đất có tên địa danh là P, thuộc thôn B, xã
B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn là đất rừng tự nhiên. Năm 1995, khi Nhà nước lập hồ sơ
Giao quyền quản lý đất trồng rừng và bảo vệ rừng (gọi tắt là sổ Bìa xanh), ông Hoàng
Văn L đăng ký quyền sử dụng đất thì được cấp sổ bìa xanh đối với lô đất 208 theo quyết
định số Quyết định số 88/QĐ-UBND, ngày 31/5/1995 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân
huyện B, tỉnh Lạng Sơn đối với lô đất số 208, có diện tích 2,7 ha mang tên hộ Hoàng
Văn L. Ngày 16/7/1999 ông Hoàng Văn L làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất và
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 876554, ngày 01/10/1999, diện tích
17.000m
2
, tại thửa 208B. Năm 2008 Nhà nước đo đạc bản đồ thành thửa 600, diện tích
26.230m
2
, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 02 xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn sau
khi ông Hoàng Văn L chết, các con là ông Hoàng Văn H1 và Hoàng Văn H quản lý,
canh tác mỗi người một phần nhưng chưa được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, trên thực tế ông Hoàng Văn H1 và Hoàng Văn H đã tự đăng ký trên sổ mục kê của
xã và khi vẽ bản đồ đã cắt tách thửa 600 thành 02 thửa đất là đường kẻ từ các điểm C,
O, N, K nhưng thực tế sở dụng đất thực tế là theo dông đồi từ các điểm D, E, F, G, H và
kéo thẳng lên đến dông đồi, tại thực địa ông Hoàng Văn H1 và các thành viên trong gia
đình cũng thừa nhận và không có tranh chấp. Năm 2015 ông Hoàng Văn H cùng các hộ
là Vi Văn T1, Vi Văn H và Hoàng Thị S san ủi làm đường dân sinh đi qua thửa đất, ông
Hoàng Văn H san ủi làm nền nhà, làm nhà ở và công trình phụ trong năm 2015, năm
2016 trồng các loại cây xung quanh nhà, phía ông Vy Văn V cùng các thành viên trong
gia đình cho rằng đất trên bờ ruộng có quyền quản lý sử dụng và phát quang bờ ruộng
thì phát sinh tranh chấp.
[3] Đối với phần đất đã làm đường dân sinh từ các điểm A, O, F, G, N, M có
diện tích S3 = 45,3m
2
và S4 = 211,9m
2
đều nằm trong thửa đất số 600, những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các ông Vi Văn T1, Vi Văn H và bà Hoàng Thị S từ
năm 2015 đã thỏa thuận với chủ sử dụng đất hợp pháp là ông Hoàng Văn H để làm
được dân sinh, ông Vy Văn Vệ cũng thừa nhận là lối đi chung của các hộ nêu trên và
không có tranh chấp trong vụ án này, cần xác định đây là lối đi chung, không có yêu cầu
giải quyết nên không xem xét và giao phần đất làm đường dân sinh này cho ông Hoàng
Văn H quản lý sử dụng, các hộ liên quan có quyền đi lại, nếu có tranh chấp thì sẽ được
giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
[4] Về vị trí tranh chấp do nguyên đơn yêu cầu giải quyết là 1.422,4m
2
từ các
điểm A, B, C, D, E, O thuộc một phần diện tích của thửa đất số 600, tờ bản đồ địa chính
đất lâm nghiệp số 02 xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đo đạc năm 2008, trên đất có 01
ngôi nhà tạm do ông Vy Văn V làm năm 2019 và 01 con đường mòn đi ngang qua đất
tranh chấp, cần được giải quyết trong vụ án này. Đối với diện tích đất đường mòn cũ,
nay không còn sử dụng để đi lại nữa, đã có các loại cây bụi mọc tự nhiên, cần giao cho
chủ sử dụng đất hợp pháp để quản lý sử dụng theo mục đích đất đã được cấp.
[5] Vị trí tranh chấp giữa ông Vy Văn V phản tố đối với nguyên đơn, ông Hoàng
Văn H có 2 vị trí gồm: Vị trí thứ nhất từ các điểm O, E, F diện tích S7 = 319,1m
2
, vị trí
thứ 2 từ các điểm M, N, G, H, K, L diện tích S5 = 377,9m
2
và S6 = 600,6m
2
đều nằm
trên thửa đất số 600 và ông Hoàng Văn H làm nhà ở cùng các công trình phụ từ năm
8
2015 và trồng các loại cây ăn quả, cây công nghiệp từ năm 2016 trên cả 3 vị trí
S5, S6 và S7. Vị trí các hộ Vi Văn T1, Vi Văn H, bà Hoàng Thị S và Hoàng Văn H đã
làm đường dân sinh từ các điểm A, O, F, G, N, M diện tích S3 = 45, 3m
2
và S4 =
211,9m
2
đều nằm trên thửa đất số 600. Tổng diện tích tranh chấp theo yêu cầu phản tố
tại các vị trí S3, S4, S5, S6 và S7 là 1.554,8m
2
từ các điểm A, O, E, F, G, H, K, L, M
thuộc một phần diện tích của thửa đất số 600, tờ bản đồ số 02 đo đạc năm 2008.
[6] Về nguyên nhân dẫn đến tranh chấp: Khu vực đất tranh chấp là đất trồng rừng
ngay phía trên giáp với 4 thửa ruộng của ông Vy Văn V, bên bị đơn cho rằng, đất ở phía
trên bờ ruộng thì theo tập quán có quyền quản lý lên đến 50 mét để phát quang bờ
ruộng, đối với đất ruộng của ông Vy Văn V không có tranh chấp, khi ông Hoàng Văn H
tiến hành làm nhà ở, ủi đất làm đường dân sinh có làm đất, đá lăn xuống ruộng, sau đó
trồng các loại cây thì phía ông Vy Văn V đến chặt phá và phát sinh tranh chấp.
[7] Đánh giá chứng cứ: Khu đất rừng có tên gọi là L (tên gọi khác P) là đất rừng
tự nhiên, năm 1995 được Nhà nước giao sổ bìa xanh lô 208, diện tích 2,7 ha cho hộ
Hoàng Văn L. Năm 1999 được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với
chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn khẳng
định thửa đất số 208B được giao đúng quy trình, thủ tục, theo kết quả xác minh của Tòa
án thì Phòng Tài nguyên môi trường khẳng định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho hộ ông Hoàng Văn L và khi Nhà nước đo đạc bản đồ năm 2008 thành thửa
đất 600, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 02 xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn là đúng
vị trí đất đã cấp cho ông Hoàng Văn L năm 1999 tại thửa 208B.
[8] Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn: Ông Vy Văn V cho rằng đất tranh chấp
là đất phía trên bờ ruộng do gia đình ông quản lý phát quang ruộng theo quy ước, hương
ước tại địa phương từ bờ ruộng trở lên đến 50 mét là lý do để ông Vy Văn V tranh chấp.
Việc ông Hoàng Văn L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do lấn chiếm
đất của ông vì thời điểm xin giao sổ bìa xanh ông đã xin nhưng không được cấp, Tòa án
đã tiến hành xác minh tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, Hạt kiểm lâm và
thôn B thì thấy tại thời điểm ông Vy Văn V xin giao sổ bìa xanh đối với lô đất số 197
tên gọi P1, trên sổ mô tả của hạt kiểm lâm đã bị gạch bỏ như vậy hộ ông Vy Văn V
không được giao sổ bìa xanh tại thời điểm nhà nước giao đất, trên thực tế lô đất P1 ông
Vy Văn Vệ đã trồng hồi, hiện nay đang quản lý, sử dụng không có tranh chấp và cách vị
trí đất tranh chấp là lô đất 208 đã giao bìa xanh và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho hộ Hoàng Văn L khoảng 1 km và không liên quan gì đến đất tranh chấp, việc
cấp đổi từ bìa xanh sang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng vị trí, do vậy ông Vy
Văn V cho rằng ông Hoàng Văn L gạch bỏ trên sổ lâm bạ của ông để kê khai được cấp
khu đất tranh chấp là không có căn cứ. Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn và Ủy
ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đều cho biết không có quy ước hoặc hương
ước nào quy định về việc cho phép hộ dân được phát quang bờ ruộng. Tòa án đã ra
quyết định yêu cầu ông Vy Văn V cung cấp chứng cứ về quy ước, hương ước hoặc các
loại giấy tờ về việc sử dụng đất đối với diện tích đất tranh chấp, nhưng đến nay, tại
phiên tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên tòa ông Vy Văn V không
cung cấp được chứng cứ, chứng minh đất tranh chấp thuộc quyền quản lý, sử dụng của
mình. Do vậy, ông Vy Văn V yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận đối với diện tích
đã cấp cả phần diện tích nguyên đơn khởi kiện và phần diện tích phản tố từ điểm B đến
9
các điểm A, M, L, K, H, G, F, E, D, C để được sử dụng toàn bộ diện tích 2.977,2m
2
bao gồm cả diện tích ngoài phạm vi khởi kiện của nguyên đơn mà ông thực hiện quyền
phản tố và buộc ông Hoàng Văn H di dời tài sản trên đất đi nơi khác để được quản lý, sử
dụng diện tích đất tranh chấp là không có căn cứ. Nên cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn đối với toàn bộ diện tích tranh chấp là 2.977,2m
2
từ các điểm
A, B, C, D, E, F, G, H, K, L, M đều nằm trong thửa đất số 600 tờ bản đồ địa chính đất
lâm nghiệp số 02 xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn và buộc bên bị đơn phải chấm dứt hành
vi tranh chấp là có căn cứ. Đồng thời bác yêu cầu của ông Vy Văn V về việc yêu cầu
hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông Hoàng Văn L là
không có căn cứ. Đồng thời cần giao toàn bộ tài sản gồm nhà sàn 5 gian cùng các công
trình phụ, các loại cây trồng, cây rừng tự nhiên cho ông Hoàng Văn H là chủ sở hữu
quản lý, sử dụng. Buộc ông Vy Văn V phài di dời ngôi nhà tạm làm trái phép trên đất
tranh chấp đi nơi khác để trả lại đất cho chủ sử dụng đất hợp pháp là ông Hoàng Văn H
là có căn cứ và phù hợp với quy định.
[9] Về yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản: Bên nguyên đơn ban đầu yêu cầu
bà Chu Thị C bồi thường thiệt hại đối với 34 cây sở bị nhổ phá năm 2017 với số tiền là
1.360.000đồng, trong quá trình giải quyết, ông Hoàng Văn H thấy sự việc xay ra đã lâu,
hơn nữa bà Chu Thị C không có mặt tại địa phương không rõ địa chỉ hiện nay, nên ngày
12/01/2021 ông Hoàng Văn H đã tự nguyện rút yêu cầu. Đối với yêu cầu bà Lý Thị P và
cháu Vy Quốc T phải bồi thường thiệt hại 02 cây chuối hột bị chặt phá mỗi người 01
cây giá trị là 60.000đồng, ngày 27/01/2021 ông Hoàng Văn H rút yêu cầu đòi bà Lý Thị
P và cháu Vy Quốc T bồi thường, nên đình chỉ yêu cầu giải quyết về thiệt hại đối với
các tài sản nêu trên là có căn cứ.
[10] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, nên cần trả
lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn. Bị đơn ông Vy Văn V có đơn xin Miễn án phí,
thấy ông Vy Văn Vệ thuộc đối tượng người cao tuổi, nên được miễn án phí theo quy
định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc Hội. Do phần yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản, nguyên đơn đã rút yêu cầu,
Tòa án đình chỉ nên các bên không phải chịu án phí.
[11] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản, chi phí đo đạc
bản đồ đã chi: Chi phí thẩm định tại chỗ là 2.000.000đồng và định giá tài sản, tiền thuê
xe ô tô là 3.200.000đồng, chi phí đo đạc bản đồ là 8.451.000đồng. Tổng chi phí đã chi là
13.651.000đồng. Ông Hoàng Văn H đã nộp đủ, tại phiên tòa các bên không thỏa thuận
được về việc chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, đo đạc bản đồ
và không thỏa thuận được việc phải trả lãi chậm trả. Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn
được Tòa án chấp nhận và yêu cầu phản tố của bị đơn không được Tòa án chấp nhận,
nên cần xem xét buộc ông Vy Văn V phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng nêu trên và chịu
lãi xuất chậm trả theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
[12] Lời đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn về phần
miễn án phí là có căn cứ, cần được chấp nhận. Các phần khác không có căn cứ, nên
không chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
10
Căn cứ các Điều 190, khoản 1 Điều 291, khoản 1 và 2 Điều 357 của Bộ luật Dân
sự năm 2015; khoản 5 Điều 166 của Luật đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 24, khoản 9
Điều 26, khoản 2 Điều 91, các Điều 155, 163, các khoản 1 và 6 Điều 165, khoản 1 Điều
157, khoản 2 Điều 244, khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1
Điều 12, khoản 6 Điều 15, khoản 1 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn H.
2. Bác yêu cầu phản tố của bị đơn Vy Văn V về việc yêu cầu được quản lý sử
dụng diện tích 1.554,2m
2
từ các điểm A, O, E, F, G, H, K, L, M là một phần diện tích của
thửa đất số 600, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 02, xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn
và yêu cầu ông Hoàng Văn H di dời nhà và tài sản đi nơi khác, yêu cầu hủy một phần
diện tích là 2.977,2m
2
trong giấy chứng nhận số N 876554, ngày 01/10/1999 đối với thửa
đất số 208B.
3. Về đất tranh chấp: Ông Hoàng Văn H được quản lý sử dụng diện tích đất
tranh chấp là 2.977,2m
2
từ các điểm A, B, C, D, E, F, G, H, K, L, M thuộc một phần
diện tích của thửa đất số 600, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 02 xã B, huyện B,
tỉnh Lạng Sơn có địa danh là P, thuộc thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn bao gồm
phần diện tích nguyên đơn khởi kiện được Tòa án chấp nhận và phần diện tích đất bị
đơn phản tố không được Tòa án chấp nhận có các phía tiếp giáp như sau:
Phía Bắc giáp với phần đất còn lại của thửa đất 600 do ông Hoàng Văn H đang
sử dụng, từ điểm B đến A, M, L có chiều dài là 44,71mét.
Phía Đông tiếp giáp với 4 thửa ruộng của ông Vy Văn V từ điểm B đến C, D có
chiều dài là 82,20 mét.
Phía Nam tiếp giáp với phần đất còn lại của thửa đất 600 do ông Hoàng Văn H1
đang sử dụng, từ điểm D đến E, F, G, H, có chiều dài là 42,11mét.
Phía Tây tiếp giáp với phần đất còn lại của thửa đất 600 do ông Hoàng Văn H
đang sử dụng, từ điểm H đến K, L có chiều dài là 57,97 mét ( có mảnh trích đo sơ đồ
khu đất tranh chấp ngày 08/12/2020 kèm theo).
4. Về tài sản trên đất:
- Giao toàn bộ tài sản là nhà ở, công trình phụ và các loại cây trồng, cây rừng
mọc tự nhiên hiện có trên đất là tài sản của hộ ông Hoàng Văn H cho ông Hoàng Văn H
quản lý, sử dụng.
- Buộc ông Vy Văn V và các thành viên trong gia đình phải di dời ngôi nhà tạm
đi nơi khác để trả lại đất cho ông Hoàng Văn H quản lý, sử dụng.
- Buộc ông Vy Văn V cùng các thành viên trong gia đình phải chấm dứt hành vi
tranh chấp diện tích 2.977,2m
2
đất tại thửa số 600, tờ bản đồ số 02, bản đồ địa chính xã
B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
- Đình chỉ giải quyết về yêu cầu bà Chu Thị C bồi thường thiệt hại về 34 cây sở
bị nhổ phá, yêu cầu bà Lý Thị P, cháu Vy Quốc T chặt 02 cây chuối do nguyên đơn rút
yêu cầu. Ông Hoàng Văn H có quyền khởi kiện lại vụ án về yêu cầu bồi thường thiệt hại
bằng vụ án khác.
11
5. Về án phí:
- Trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp cho ông Hoàng Văn H số tiền là
400.000đồng (bốn trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2015/0000768 ngày
20/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia.
- Ông Vy Văn V được miễn toàn bộ án phí sơ thẩm Dân sự.
6. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, đo đạc bản đồ:
- Xác nhận ông Hoàng Văn H đã nộp đủ số tiền chi phí xem xét thẩm định tại
chỗ, định giá tài sản, chi phí đo đạc bản đồ là 13.651.000đồng.
- Buộc ông Vy Văn V phải chịu số tiền chi phí thẩm định tại chỗ, định giá tài sản
và đo đạc bản đồ là 13.651.000đồng (mười ba triệu sáu trăm năm mươi mốt nghìn
đồng), để trả lại cho ông Hoàng Văn H.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu của bên được trả tiền, nếu bên phải trả tiền chưa trả
được thì còn phải trả lãi chậm trả ứng với số tiền và thời gian chậm trả theo quy định tại
các khoản 1 và 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.
7. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án; Ủy ban nhân dân huyện B, bà Hà Thị I, ông Hoàng Văn
H1, bà Hoàng Thị L, bà Chu Thị C vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án theo quy định tại các Điều 6 ,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành
án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lạng Sơn; THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Bình Gia;
- Chi cục THADS huyện Bình Gia;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ + Tổ HCTP.
Nguyễn Văn Khởi
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm