Bản án số Số/2025/DS-PT ngày 08/07/2025 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số Số/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số Số/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án Số/2025/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số Số/2025/DS-PT ngày 08/07/2025 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Tây Ninh |
Số hiệu: | Số/2025/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 08/07/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Ông M yêu cầu ông Đỗ Trường A trả số tiền vay còn nợ là 100.000.000 đồng |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 308/2025/DS-PT
Ngày: 08-7- 2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
hợp đồng vay tài sản”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Chiến
Các Thẩm phán:
Bà Phạm Thị Hồng Vân;
Ông Nguyễn Văn Nam.
: Ông Lê Mạnh Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh.
: Ông
Nguyễn Khánh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 250/2025/TLPT-DS ngày 28 tháng 5 năm
2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2025/DS-ST, ngày 14-03-2025 của Tòa án
nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây
Ninh) có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 248/2025/QĐXX-PT, ngày 12 tháng
6 năm 2025, giữa các đương sự:
: Ông Michael Leonard Thomas S, sinh năm 1957; trú tại: N (gọi
tắt là ông M).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Michael L Thomas Shakespeare: Chị
Đinh Thị Thanh T, sinh năm 1990; trú tại: Khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây
Ninh (nay là phường A, tỉnh Tây Ninh), theo văn bản ủy quyền ngày 09-5-2023; có
mặt.
: Anh Đỗ Trường A, sinh năm 1993; trú tại: Ấp S, xã P, huyện G, tỉnh
Tây Ninh (nay là phường G, tỉnh Tây Ninh), có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Đỗ Trường A: Anh Nguyễn Minh S1,
sinh năm 1985; trú tại: Khu phố A, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (nay là
phường L, tỉnh Tây Ninh) theo văn bản ủy quyền ngày 01-10-2024; có mặt.
: Công ty trách nhiệm hữu hạn H;
địa chỉ: Số A N, khu phố H, phường A, thi xã T, tỉnh Tây Ninh (nay là phường T,
tỉnh Tâ Ninh).
Người đại diện theo pháp luật: Anh Đỗ Trường A, Chức danh: Chủ tịch Hội
đồng Quản trị kiêm Giám đốc.
Người kháng cáo: Anh Đỗ Trường A là bị đơn
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông M là chị Đinh Thị
Thanh T trình bày: Do có mối quan hệ quen biết nhau với anh Đỗ Trường A, nên
vào ngày 22-04-2022 ông M có lập giấy vay tiền bằng hai ngôn ngữ là tiếng Anh
có dịch thực tiếng Việt và anh A có ký tên (theo giấy vay tiền thì không ghi ngày
tháng năm, nhưng tại điều 2 thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày 22-4-2022, nên
giấy nợ được lập ngày 22-4-2022 là đúng), do anh A có điện thoại cho ông M lúc
ông M đang đi du lịch tại Vũng Tàu vào ngày 20-4-2022, anh A nói do cần tiền
gấp để trả nợ Ngân hàng, nếu không thì Ngân hàng sẽ phát mãi tài sản nên ông M
có chuyển khoản vào số tài khoản của anh A cho anh A vay số tiền 100.000.000
đồng ngày 20-4-2022, số tài khoản của ông M tại Ngân hàng A1 là 779477 và ông
M có cung cấp bản sao kê giao dịch của Ngân hàng A1 – Chi nhánh T1 từ ngày 01-
01-2022 đến ngày 01-6-2022 ông M có chuyển khoản cho anh A số tiền trên. Ngày
xác lập giấy nợ 22-4-2022, nhưng khoảng 05 đến 06 tháng sau anh A mới ký tên
vào giấy nợ tại nhà ông M thuộc khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, do
anh A yêu cầu và anh A có yêu cầu ông M tính lãi suất, nên tại điều 3 giấy vay tiền
có thỏa thuận lãi suất là 0,42%/tháng tính từ ngày nhận tiền số tiền vay, khi đến
hạn không trả số tiền vay thì sẽ được tính lãi là 0,84%/tháng. Đến nay đã quá thời
hạn trả nợ nhưng anh A không trả cho ông M số tiền trên. Chị T xác định số tiền
100.000.000 đồng trên là do anh A sử dụng tài khoản Công ty trách nhiệm hữu hạn
H để vay tiền của ông M sử dụng mục đích cá nhân của anh A, theo bản sao kê của
Ngân hàng và chị T đã cung cấp giấy nợ ngày 22-4-2022 bản chính.
Nay ông M yêu cầu anh A trả số tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng và yêu cầu
tính lãi suất theo thỏa thuận tại giấy vay tiền ngày 22-4-2022. Ngoài ra, ông M
không có yêu cầu gì khác.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, anh Đỗ Trường A là anh Nguyễn
Minh S1 trình bày: Anh A có ký tên vào giấy vay tiền theo lời trình bày của người
đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông M là đúng, nhưng anh A không có
nhận số tiền 100.000.000 đồng mà ông M1 đã chuyển khoản cho anh A ngày 20-4-
2022. Mục đích của anh A ký tên vào giấy nợ không ghi ngày tháng năm là để thực
hiện việc cho ông M hợp tác liên doanh góp vốn vào Trung tâm N Văn Châu Â,
địa chỉ tại: số A N, khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh. Sau đó ông M không
thực hiện việc giao nhận số tiền 100.000.000 đồng, mà chuyển sang hình thức hợp
tác kinh doanh bằng việc anh A chuyển nhượng 50% giá trị Trung tâm Ngoại ngữ
cho ông M với giá trị 400.000.000 đồng để thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn
H, ông M ủy quyền cho con dâu là chị Đinh Thị Thanh T đứng hợp đồng hợp tác
kinh doanh ngày 15-5-2021, nên giữa ông M và anh A không có việc vay mượn
tiền, số tài khoản của anh A là 0911000008512 tại Ngân hàng V.
Đối với số tiền 100.000.000 đồng khi ông M chuyển cho anh A là góp vốn
vào Công ty, do chưa ký hợp đồng kinh Doanh, nên ông M yêu cầu anh A ký giấy
nợ. Khi anh A ký giấy nợ xong thì ông M yêu cầu anh A ký quyết định ủy quyền
đều hành Công ty cho chị T, hiện nay anh A đã chuyển giao Công ty cho chị T
điều hành.
Nay anh A không đồng ý theo yêu cầu của ông M trả số tiền vay
100.000.000 đồng, do không có nợ và đây là số tiền mà ông M đầu tư góp vốn vào
Công ty. Ngoài ra, anh A không có yêu cầu gì khác.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2025/DS-ST, ngày 14-3-2025 của Tòa án
nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây
Ninh) quyết định:
Căn cứ Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều
463, 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Michael L Thomas
Shakespeare đối với bị đơn anh Đỗ Trường A về “Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản”.
- Buộc anh Đỗ Trường A có nghĩa vụ trả cho ông Michael L Thomas
Shakespeare số tiền 124.052.000 đồng (trong đó nợ gốc 100.000.000 đồng, tiền lãi
tính đến ngày 14-3-2025 là 24.052.000 đồng) và tiền lãi phát sinh đến ngày trả dứt
nợ.
Bản án sơ thẩm còn tuyền về nghĩa vụ thi hành, lãi suất chậm trả, án phí và
quyền kháng cáo.
Ngày 15-5-2025, anh Đỗ Trường A làm đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm xem xét hủy bản án sơ thẩm, vì Tòa án cấp sơ thẩm khi công khai
chứng cứ và hòa giải lần 1 thì nguyên đơn cung cấp bản pho to giấy vay tiền, sau
đó nộp bản gốc; việc ông M chuyển khoản vào số tài khoản Công ty trách nhiệm
hữu hạn H nội dung ghi AN LOAN không thể hiện nội dung chuyển để làm gì,
mục đích gì và đó là nợ công ty hay nợ của anh A.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Đỗ Trường A giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Michael L Thomas Shakespeare không chấp
nhận kháng cáo của anh A, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án
sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa Phúc
thẩm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm thẩm chấp hành đúng quy định của
pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử
đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Thư ký phiên
tòa thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn; các đương sự đều thực hiện đúng
quyền và nghĩa vụ của đương sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của anh Đỗ Trường A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào
kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của các
đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ngày 14/3/2025 Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây
Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh) xét xử sơ thẩm vụ kiện,
ngày 15/5/2024 anh Đỗ Trường A làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, anh A kháng
cáo trong hạn luật định, nên vụ án được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc
thẩm.
[2] Về nội dung: Ngày 20-4-2022, ông M cho anh Đỗ Trường A vay số tiền
100.000.000 đồng bằng hình thức chuyển vào tài khoản ngân hàng của anh A.
Ngày 22-4-2022 ông M và anh A xác lập giấy nợ có nội dung: Ông M cho anh A
vay số tiền là 100.000.000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng tính từ ngày 22-4-2022
và thỏa thuận lãi suất trong hạn là 0,42%/tháng, lãi suất quá hạn là 0,84%/tháng.
Sau khi vay tiền anh A không trả tiền vốn và tiền lãi nên ông M khởi kiện yêu cầu
anh Đỗ Trường A trả tiền vốn và lãi suất theo thỏa thuận.
Anh Đỗ Trường A xác định có ký tên vào Giấy vay tiền lập ngày 22-4-2022
do ông M cung cấp, số tiền 100.000.000 đồng khi ông M chuyển khoản cho anh A
là góp vốn vào Công ty trách nhiệm hữu hạn H, mỗi thành viên góp vốn là
400.000.000 đồng chiếm 50% giá trị công ty và ông M để cho con dâu là chị Đinh
Thị Thanh T đứng tên thành viên công ty. Do vậy, anh A không chấp nhận trả tiền
theo yêu cầu của ông M.
[3] Căn cứ vào Giấy vay tiền lập ngày 22-4-2022 do ông M cung cấp và
được anh A xác nhận là do anh ký và viết họ tên có đủ cơ sở kết luận anh A có vay
của ông M số tiền 100.000.000 đồng đến nay chưa trả.
Việc anh A cho rằng số tiền 100.000.000 đồng mà ông M chuyển cho anh
vào ngày 20-4-2022 là góp vốn vào Công ty trách nhiệm hữu hạn H là không có
căn cứ, vì theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp – đăng ký lần đầu ngày 22-
4-2021 cấp cho CÔNG TY TNHH H1 có vốn điều lệ là 800.000.000 đồng, trong
đó anh A góp 50% là 400.000.000 đồng và chị Đinh Thị Thanh T góp 50% là
400.000.000 đồng không liên quan đến ông M và công ty được thành lập sau một
năm thì anh A mới vay tiền của ông M.
Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M buộc
anh A có nghĩa vụ trả cho ông M số tiền vốn và lãi 124.052.000 đồng là có căn cứ,
đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của anh A thấy rằng, ông M khởi kiện kèm theo chứng cứ
bản pho to giấy vay tiền lập ngày 22-4-2022 và sau đó cung cấp bản gốc là đúng
quy định. Việc anh A cho rằng ông M chuyển khoản vào số tài khoản Công ty
trách nhiệm hữu hạn H không ghi nội dung chuyển tiền để làm gì và đó là nợ công
ty hay nợ của anh A? Xét thấy, ngày 20-4-2022 ông M có chuyển vào số tài khoản
do anh A cho (nay ngân hàng cung cấp đó là tài khoản của Công ty trách nhiệm
hữu hạn H) số tiền 100.000.000 đồng, đến ngày 22-4-2022 anh A mới ký giấy vay
tiền với ông M và xác định đây là khoản vay cho cá nhân anh A, mục đích vay tiền
là để trả nợ ngân hàng.
[5] Anh A kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới chứng
minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ chấp nhận; đề nghị của
đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Anh A phải chịu án phí phúc thẩm dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của anh Đỗ Trường A;
Giữ nguyên bản án án dân sự sơ thẩm số 36/2025/DS-ST, ngày 14-3-2025
của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu
vực 12 - Tây Ninh).
Căn cứ Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều
463, 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Michael L Thomas
Shakespeare đối với bị đơn anh Đỗ Trường A về “Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản”.
Buộc anh Đỗ Trường A có nghĩa vụ trả cho ông Michael L Thomas
Shakespeare số tiền 124.052.000 đồng (một trăm hai mươi bốn triệu không trăm
năm mươi hai ngàn đồng), (trong đó nợ gốc 100.000.000 đồng, tiền lãi tính đến
ngày 14-3-2025 là 24.052.000 đồng) và tiền lãi phát sinh đến ngày trả dứt nợ.
Kể từ ngày 15-3-2025 cho đến khi thi hành xong số tiền nêu trên thì hàng
tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất
quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời
gian chậm thi hành án.
2. Về án phí dân sự:
2.1. Án phí sơ thẩm: Anh Đỗ Trường A phải chịu 6.203.000 đồng.
Ông M không phải chịu tiền án phí. Hoàn trả cho ông Michael L Thomas
Shakespeare số tiền tạm ứng đã nộp là 2.752.000 đồng theo biên lai thu số
0013971 ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Dầu,
tỉnh Tây Ninh (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 12- Tây Ninh).
2.2. Án phí phúc thẩm:
Anh Đỗ Trường A phải chịu là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm
ứng án phí mà anh A đã nộp theo biên lai thu số 0010942 ngày 21-5-2025 tại Chi
cục Thi hành án huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh (nay là Phòng thi hành án dân sự
khu vực 12 - Tây Ninh).
Ông M không phải chịu án phí phúc thẩm.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
:
VKSND. TTN;
Phòng KTNV&THA;
TAND khu vực 12- Tây Ninh;
THADS tỉnh Tây Ninh;
Những người tham gia tố tụng;
Lưu hồ sơ vụ án;
Lưu tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Lê Hữu Chiến
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 19/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 15/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 14/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Bản án số 905/2025/DS-PT ngày 13/08/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Bản án số 865/2025/DS-PT ngày 05/08/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 05/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm