Bản án số Số/2025/DS-PT ngày 09/07/2025 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án Số/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số Số/2025/DS-PT ngày 09/07/2025 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: Số/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/07/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Trần Việt K yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh T trả số tiền vay còn nợ 2.500.000.000 đồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 315/2025/DS-PT
Ngày: 09-7-2025
V/v: “Tranh chấp về hợp đồng
vay tài sản”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Chiến
Các Thẩm phán:
+ Ông Nguyễn Quốc Tuấn;
+ Bà Dương Thúy Hằng.
Thư phiên tòa: Ông Mạnh Hùng, Thư Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Đặng Thị Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử
phúc thẩm công khai ván thụ s175/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 6 năm
2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự thẩm s55/2025/DS-ST, ngày 06-05-2025 của Tòa án
nhân dân huyện huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh (nay Tòa án nhân dân
khu vực 11- Tây Ninh) có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/2025/QĐXX-PT, ngày 17 tháng
06 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Trần Việt K, sinh năm 1991; trú tại: Khu phố D, thị trấn
D, Huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp D, Xã D, tỉnh Tây Ninh), vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Đào Thị H, sinh m 1953; trú tại: Khu
phố D, thị trấn D, Huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay ấp D, D, tỉnh Tây Ninh),
mặt.
2. Bị đơn: Chị Phan Thị Thanh T, sinh năm 1990; trú tại: Khu phố D, thị trấn
D, Huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp D, Xã D, tỉnh Tây Ninh), có mặt
Người kháng cáo: Chị Phan Thị Thanh T là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án tại phiên toà, nguyên đơn
và người đại diện thống nhất trình bày:
Anh Trần Việt K cho chị Phan Thị Thanh T vay tiền nhiều lần. Cụ thể
như sau: Vào ngày 03-6-2019 những tháng kế tiếp sau đó, anh K nhiều lần đưa
tiền mặt và chuyển khoản cho chị T, sau đó chị T cũng đã chuyển khoản tiền để trả
cho anh K nhưng số tiền chị T chuyển trả không đủ so với số tiền anh K cho
chị T vay. Đến ngày 26-11-2020 anh K chị T đã kết toán chốt lại thì chị T còn
nợ anh K số tiền 2.500.000.000 đồng. Chị T viết giấy xác nhận nợ số tiền
2.500.000.000 và chịu lãi suất 3,5%/tháng cho anh, chị T cam kết sẽ trả tiền cho
anh K mỗi tháng từ 100 triệu đến 200 triệu đồng cho đến khi hết nợ.
Kể từ khi chị T viết giấy xác nhận nợ đến nay chị T chỉ trả cho anh K số tiền
130.000.000 đồng (Một trăm ba ơi triệu đồng) trong thời gian 4 tháng (từ
tháng 01/2021 đến tháng 4/2021) thì ngưng không trả tiền gốc và lãi cho anh K nên
chị T vẫn còn nợ số tiền 2.500.000.000. Đến năm 2022 có phát sinh tranh chấp nên
anh K gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân Thị trấn đến công an huyện để giải
quyết nhưng được trả lời không dấu hiệu tội phạm nh sự. Nay anh K yêu cầu
Tòa án giải quyết buộc chị T trả cho anh stiền 2.500.000.000 đồng (Hai tỷ m
trăm triệu đồng), yêu cầu tính lãi suất theo mức lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày
chốt nợ 26-11-2020 cho đến ngày xét xử, khấu trừ số tiền đã nhận 130.000.000
đồng;
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn chị Phan Thị Thanh
T trình bày:
Trước đây giữa chị T với anh K quan hệ hùn vốn kinh doanh với nhau,
chị T xác nhận chị viết giấy xác nhận ngày 26-11-2020, số tiền 2.500.000.000
đồng tại nhà của anh K do yêu cầu của mẹ chị với mcủa anh K H, mục
đích để cho người lớn của hai bên yên tâm là giữa chị với anh K quan hệ làm ăn
chung với nhau; hoàn toàn không việc giao nhận tiền; chứng cứ khởi kiện
giấy xác nhận đề ngày 26-11-2020 do anh K cung cấp là chữ ký và chữ viết của chị
T.
Nay anh K khởi kiện yêu cầu chị T trả số tiền gốc 2.500.000.000 đồng và
tính lãi suất theo quy định pháp luật từ ngày viết giấy xác nhận 26-11-2020 thì chị
không đồng ý vì chị không có vay mượn tiền của anh K; giấy xác nhận cũng không
có chữ ký của K.
Tại Bản án dân sự thẩm số 55/2025/DS-ST, ngày 06-5-2025 của Tòa án
nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh quyết định:
Căn cứ Điều 463, 466; 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 26 Ngh
quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Việt K đối với ch Phan Thị
Thanh T về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc chị Phan Thị Thanh T nghĩa vụ trả cho anh Trần Việt K số tiền vay
tổng cộng 3.476.666.000 (ba tỷ bốn trăm bảy mươi sáu triệu, sáu trăm sáu ơi
sáu nghìn) đồng; trong đó tiền gốc 2.500.000.000 đồng tiền lãi 976.666.000
đồng.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lãi suất chậm trả và quyền kháng cáo.
Ngày 19-5-2025, chị Phan Thị Thanh T làm đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án
chấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của anh Trần Việt K.
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Phan Thị Thanh T giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo. Bà H đại diện theo ủy quyền của anh K không chấp nhận kháng cáo của chị T,
yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa Phúc
thẩm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm thẩm chấp hành đúng quy định của
pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử
đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Thư phiên
tòa thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn; các đương sự đều thực hiện đúng
quyền và nghĩa vụ của đương sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng
cáo của chị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào
kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của các
đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ngày 06-5-2025 Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu,
tỉnh Tây Ninh xét xthẩm vụ kiện, ngày 19-5-2025 chị Phan Thị Thanh T làm
đơn kháng cáo bản án thẩm, chị T kháng cáo trong hạn luật định, nên vụ án
được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Anh Trần Việt K yêu cầu chPhan Thị Thanh T trả stiền
vay còn nợ 2.500.000.000 đồng yêu cầu tính lãi suất theo mức lãi suất
0,83%/tháng tính từ ngày lập nợ 26-11-2020 cho đến ngày xét xử, khấu trừ số tiền
đã nhận 130.000.000 đồng.
Chị T không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh K và cho rằng chị viết
giấy xác nhận ngày 26-11-2020, số tiền 2.500.000.000 đồng do yêu cầu của m
chị với mcủa anh K là Đào Thị H, mục đích để cho người lớn của hai bên yên
tâm giữa chị với anh K quan hệ làm ăn chung với nhau; hoàn toàn không
việc giao nhận tiền.
[3] Căn cứ vào “Giấy xác nhận” lập ngày 26-11-2020 (bút lục số 26)
chứng cứ do anh K cung cấp được chị T thừa nhận là do chị viết tên nội
dung: Chị T nhận nợ anh K stiền 2.500.000.000 đồng, chịu lãi suất 3,5%/tháng
cam kết sẽ thanh toán tiền gốc lãi cho anh K. Sau khi lập giấy xác nhận nợ
chị T trả cho anh K số tiền 130.000.000 đồng.
Chị T cho rằng giữa chị với anh K hùn vốn đkinh doanh, chkhông
vay tiền của anh K, việc chị viết giấy xác nhận nợ để gia đình hai bên an tâm là ch
anh khoa quan hệ làm ăn chung. Tuy nhiên, anh K không thừa nhận, chị T
không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho việc hùn vốn để kinh doanh;
những bản sao kê chị T cung cấp chuyển khoản cho anh K là trước khi xác lập giấy
xác nhận ngày 26-11-2020, việc chuyển khoản và trả tiền trực tiếp sau ngày 26-11-
2020 đã được Tòa án cấp sơ thẩm khấu trừ tổng số tiền 130.000.000 đồng.
[4] Tòa án cấp thẩm đã xem xét toàn diện chứng cứ, buộc chị T trả cho
anh K số tiền 3.476.666.000 đồng; trong đó tiền gốc 2.500.000.000 đồng và tiền lãi
976.666.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.
[5] Chị T kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh
cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không căn cứ chấp nhận; đề nghị của đại
diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
[6] Về án phí: ChT phải chịu án phí phúc thẩm dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của chị Phan Thị Thanh T;
Giữ nguyên bản án án dân sự thẩm số 55/2025/DS-ST, ngày 06-05-2024
của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh (nay Tòa án nhân
dân khu vực 11- Tây Ninh).
Căn cứ Điều 463, 466; 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Việt K đối với chị Phan Thị
Thanh T về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;
Buộc chị Phan Thị Thanh T nghĩa vụ trả cho anh Trần Việt K stiền vay
tổng cộng 3.476.666.000 (ba tỷ bốn trăm bảy mươi sáu triệu, sáu trăm sáu mươi
sáu nghìn) đồng; trong đó tiền gốc 2.500.000.000 đồng tiền lãi 976.666.000
đồng.
Kể từ ngày Bản án hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu
cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trên thì
hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi
suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền
thời gian chậm thi hành án.
2. Về án phí dân sự:
2.1. Án phí thẩm: Chị Phan Thị Thanh T phải chịu 101.533.000 (một
trăm lẻ một triệu năm trăm ba mươi ba nghìn) đồng.
Anh K không phải chịu tiền án phí. Hoàn trả cho anh K số tiền tạm ứng đã
nộp 41.000.000 đồng theo biên lai thu số 0008429 ngày 26 tháng 12 năm 2024
của Chi cục thi hành án dân sự huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh (nay
Phòng thi hành án dân sự khu vực 11- Tây Ninh).
2.2. Án phí Phúc thẩm:
Chị Phan Thị Thanh T phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng, được
khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu số 0005458
ngày 19-5-2025 tại Chi cục Thi hành dân sự huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay là Phòng
thi hành án dân sự khu vực 11- Tây Ninh).
Anh Trần Việt K không phải chịu.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi hành
án dân s; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
VKSND. TTN;
Phòng KTNV&THA;
TAND khu vực 11-Tây Ninh;
THADS tỉnh Tây Ninh;
Những người tham gia tố tụng;
Lưu hồ sơ vụ án;
Lưu tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Lê Hữu Chiến
Tải về
Bản án số Số/2025/DS-PT Bản án số Số/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số Số/2025/DS-PT Bản án số Số/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất