Bản án số 96/2026/HS-PT ngày 29/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 96/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 96/2026/HS-PT ngày 29/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 96/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Khoảng 02 giờ ngày 03/10/2023, Bùi Xuân T cùng Nguyễn Hải N1, Nguyễn Lương A, Phan Văn T1, Kiều Anh T3 bàn bạc thống nhất góp tiền thuê phòng nghỉ tại quán K1, địa chỉ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 96/2026/HS-PT Bản án số 96/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 96/2026/HS-PT Bản án số 96/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 96/2026/HS-PT
Ngày 29 - 6 - 2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thnh phn Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trọng.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nghĩa, bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:
Ông Hoàng Cao Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 51/2026/TLPT-HS ngày 05
tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo Bùi Xuân T, do có kháng cáo ca b cáo đối với
Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2026/HS-ST ngày 28 tháng 01 năm 2026 ca Tòa
án nhân dân khu vc 10 - Phú Th.
- Bị cáo kháng cáo: Bùi Xuân T, sinh ngày 03 tháng 6 năm 1996; Nơi
trú: Thôn M, V, tỉnh Phú Thọ; CCCD số ************ cấp ngày
25/6/2021; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh;
giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không xác
định; Con bà: Đỗ Thị Kiều N; vợ Nguyễn Thị Ngọc X 01 con sinh
năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/9/2025 đến ngày 18/9/2025 được thay
thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú, hiện bị cáo đang tại ngoại, “Có
mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 02/10/2023, Nguyễn Hải N1 sinh năm 2000, Nguyễn
2
Lương A sinh năm 2000, Bùi Xuân T sinh năm 1996, đều trú tại B, huyện V,
tỉnh Vĩnh Phúc (c); Phan Văn T1 sinh năm 1992 trú C, huyện V (c) nay
đều thuộc V, tỉnh Phú Thọ cùng nhau đến quán L2, địa chỉ tại T, huyện V
(nay T, tỉnh Phú Thọ) để nghe nhạc, uống rượu. Đến khoảng 01 giờ ngày
03/10/2023, sau khi uống rượu, nghe nhạc xong thì T, T1, A, N1 rủ nhau sang
quán karaoke I tại khu Trung tâm thương mại và nhà P, T, huyện V (nay
xã T, tỉnh Phú Thọ) của anh Nguyễn Tiến T2 sinh năm 1985; trú tại B, huyện
V (c) để hát sử dụng ma tuý. Cả nhóm thống nhất và cùng nhau đi bộ đến
quán K1. Trên đường đi, nhóm gặp Kiều Anh T3, sinh năm 1998, trú tại xã V,
huyện V (nay V, tỉnh Phú Thọ) đang ngồi bộ bàn ghế đá giáp Công ty
T10. Do có quen biết, chơi với T3 từ trước nên Nguyễn Lương A rủ T1, N1 và T
đi đến bàn ghế đá T3 đang ngồi chơi cùng. Tại đây T1, N1, T, AT3 cùng bàn
bạc, rủ nhau và thống nhất thuê 01 phòng hát của quán K1, thuê nhân viên, cùng
mua ma tuý với số lượng 02 viên ma túy kẹo 06 chỉ ma túy ketamine để sử
dụng, ai có tiền thì ứng trước, sau đó sẽ chia đều cho T1, N1, T, AT3.
Thống nhất xong, Anh sử dụng sim thuê bao 0364.846.685 được lắp trong
chiếc điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Pro màu
xanh (đã c), gọi đến số điện thoại 0877.156.205 của 01 người thường gọi
V(Anh không biết tên tuổi, quê quán người này đâu) để hỏi mua của V 02
viên ma túy kẹo 06 chỉ ma túy ketamine. V đồng ý bán với giá 300.000
đồng/1 viên ma túy kẹo, 06 chỉ ma túy ketamine với giá 6.500.000 đồng, tổng là
7.100.000 đồng. Do không tiền để trả ngay nên A bảo V cho nợ vài ngày sau
sẽ trả, V đồng ý hẹn ra khu vực cách điểm dừng đcủa hãng taxi Bảo N2
khoảng 100m vphía quán K2 để mua bán ma tuý. Sau đó, Anh đi một mình ra
điểm hẹn, V một mình điều khiển xe máy không biển kiểm soát, đi đến gặp
đưa cho Anh 01 túi nilon màu xanh bên trong chứa 02 viên ma túy kẹo hình
tròn màu trắng và 06 chỉ ma túy ketamine.
Do bxoang không sử dụng được ma tuý ketamine, nên T3 chủ động sử
dụng điện thoại lắp sim thuê bao 0975.864.905 của mình gọi cho V (là người đã
bán ma tuý trước đó cho A), qua số điện thoại là 0877.156.205 để hỏi mua của V
01 gói ma túy nước vui nhưng V bảo không có, V nói biết T4 có bán.
Sau khi mua được ma tuý, A đi quay lại cùng N1, T3 đi đến quán K1,
còn T T1 đến sau. Khi A, T3, N1 đến quán gọi mở cửa thì gặp Hoàng Văn Q,
sinh năm 1996, trú tại Y, huyện V, tỉnh Yên Bái (nay là X, tỉnh Lào Cai),
là nhân viên của quán karaoke I ra mở cửa. Anh bảo Q cho một phòng hát nhưng
do quán đã hết phòng, nên A bảo Q cho 01 phòng nghỉ và 03 nữ nhân viên, mục
đích của Anh là thuê phòng sử dụng ma túy, nhưng A không nói cho Q biết mục
đích của A là gì, Q đồng ý dẫn 03 người lên phòng 505. Tại phòng, A để túi
3
ma túy ketamine 02 viên ma tuý kẹo vừa mua được trên kệ bàn, ở trong
phòng để đợi mọi người mặt đông đủ thì cùng sử dụng. Một lúc sau, Trần
Thị Thu H sinh năm 2000, trú tại thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai (nay P,
tỉnh Gia Lai); Bàn Thị Kiều L sinh ngày 10/11/2007, trú tại Q, huyện V, tỉnh
Yên Bái (nay là Đ, tỉnh Lào Cai); Thị K, L sinh năm 2002 M, huyện
Y, tỉnh Phú Thọ (nay là xã S, tỉnh Phú Thọ) là 03 nữ nhân viên đi vào phục vụ.
Thấy nhân viên vào phục vụ, Anh đi tìm xung quanh phòng thì thấy đĩa
sứ, thẻ nhựa, bật lửa nên A lấy ra để giường rồi cầm gói ma túy ketamine đổ
khoảng 1/6 số ma túy ở trong túi ra đĩa sứ dùng bật lửa, thẻ nhựa xào ma túy.
Khi Anh đang xào ma tuý thì T, T1 đi vào phòng 505. Khi T, T1 vào phòng thì
A bảo Kiều L gọi thêm 02 nhân viên nnữa lên để phục vụ, Kiều L không biết
mục đích Anh bảo gọi thêm nhân viên lên để làm gì, nhưng đã làm theo báo
Q là nhân viên quán báo nhân viên lên phục vụ. Một lúc sau, Hoàng Thị H1 sinh
năm 2004 trú tại xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (nay S, tỉnh Phú Thọ) vào
phòng. Khi Anh xào ma túy thì 01 nữ nhân viên hỏi T1: Anh năm mươi
nghìn đồng không cho em xin tờ”, T1 hiểu ý người đó muốn tiền để cuốn
thành ống hút làm dụng cụ sử dụng ma tuý nên đã lấy tờ tiền polime mệnh giá
50.000 đồng ttrong ra để giường (sau đó người đã cuốn tờ tiền thành
ống hút để sử dụng ma tuý, T1 không biết ai).
Sau khi H1 vào phòng, A cng vừa xào ma túy ketamine xong chia số
ma túy trong đĩa ra thành hai đường nhỏ rồi tự sử dụng hết 02 đường ma túy đó,
số ma túy còn lại trên đĩa Anh để trên giường để ai có nhu cầu thì sẽ đến tự chia
ma túy ra sử dụng tiếp. Thấy Anh xào chưa kỹ nên H tự cầm thẻ nhựa ở trên đĩa
tiếp tục giằm cho nát, mịn số ma túy ketamine trên để cho mọi người dễ sử dụng
tăng cảm giác phê hơn. Xào xong, H kẻ ma tuý trên đĩa thành các đường nhỏ
rồi để đĩa sứ chứa ma túy ở trên đệm cho mọi người sử dụng. Sau đó, N1, T1, A,
H, Kiều L, Khánh L1 H1 đều dùng chiếc ống hút cuộn bằng tờ tiền polime
mệnh giá 50.000 đồng để hít trực tiếp ma tuý ketamine qua đường mi vào trong
thể; T vào phòng và tự đến sử dụng 01 mẩu ma túy kẹo để trên mặt bàn cùng
mọi người, còn T3 do bị xoang và thấy sử dụng ma tuý ketamine không phê nên
không sử dụng. T3 hỏi N1, T1, T, Anh là có sử dụng ma túy nước vui nữa không
thì 04 người đồng ý. T3 nói với T: “Em không gọi được, anh có số của T4 không
cho em để em gọi”. Do trước đó T quen biết Thìn nên đã đọc số điện thoại
0983.919.446 của T4 cho T3 gọi. Tuy nhiên, khi T3 gọi vào số thuê bao đó thì
không thấy ai nghe máy. Một c sau, số điện thoại 0777.205.624 gọi đến số
điện thoại của T3, qua nói chuyện T3 biết người đó là T4 nên đã hỏi mua của T4
01 gói ma túy nước vui, Thìn báo giá 3.500.000 đồng/01 gói, T3 đồng ý
bảo T4 đem đến quán K1 để giao ma túy. Khoảng 05 phút sau, T4 gọi điện thoại
4
bảo T3 xuống cửa quán K1 để lấy ma túy. T3 đi xuống cửa quán nhận 01 gói ma
túy nước vui màu đỏ và bảo T4 sẽ trả tiền sau, rồi cất gói ma túy nước vui đó
vào túi quần, đi lên phòng 505. T3 gọi Anh ra ngoài cửa phòng nói: Trả tiền
nước vui như thế nào”, do không sẵn tiền, nên A đi vào phòng gọi T ra chỗ
T3 đang đứng nói với T: Em với T3 không tiền đâu, anh xem tiền
không để trả tiền nước vui”, T hiểu ý T3, A bảo T đưa tiền để trả tiền mua nước
vui, nhưng T không đem theo tiền nên bảo T3: “Cn thì bảo anh T4 cho nợ, ch
anh không tiền”. Sau đó, T3 gọi điện thoại cho T4 đưa cho T nói chuyện,
T bảo T4“Để em nợ, mai anh em chuyển khoản cho”. Sau đó T đi o phòng
trước còn A, T3 đi vào sau.
Khi vào phòng, T3 bảo H đi lấy nước húc, H hiểu ý T3 bảo lấy nước
húc để pha với ma túy nước vui cho mọi người cùng nhau sử dụng, nên đã đi
xuống kho tầng 01 của quán, lấy 04 lon nước húc mang lên phòng đưa cho
T3. T3 cầm 02 lon nước húc mang theo gói ma y nước vui vừa mua
được cùng H đi lên phòng bếp ở tầng 7 của quán. Khi đến gian phòng bếp ở tầng
7, H chỉ vị trí ấm đun nước cho T3. Sau đó T3 sử dụng ấm đun nước, mở 02 lon
nước bò húc rồi đổ 1,5 lon vào ấm đun cho đủ ấm rồi đổ ra 01 bát loa màu trắng
do H lấy và đã rửa sạch. Sau đó, T3 cầm bát loa chứa nước bò húc đang ấm cùng
với 02 chiếc chén thủy tinh đi xuống phòng 505. T3 bóc gói ma túy nước vui, đổ
chất bột ma y vào bát, dùng vỏ gói khuấy cho tan ma y với nước húc
đang ấm trong bát loa nói với mọi người: Nước vui xong rồi, mọi người
uống đi”.
Sau đó, T3 dùng chén múc ma túy nước vui vừa pha được đưa cho mỗi
người uống 01 chén, T uống 01 chén, T3 tự múc uống 1,5 chén. Đến khoảng 03
giờ 15 phút cùng ngày có thêm Hoàng Thị Ngọc Á, sinh ngày 26/10/2005 trú tại
C, huyện C, tỉnh Tĩnh (nay C, tỉnh Tĩnh) đi vào phòng để phục
vụ, sau đó sử dụng ma túy cùng mọi người.
Khoảng 05 giờ cùng ngày, do phòng 505 chật, không đủ chỗ cho cả bọn
nằm nên cả bọn rủ nhau chuyển sang phòng khác rộng hơn. Sau đó, Bàn Thị
Kiều L báo lễ tân cho đổi phòng rộng hơn để nằm nghỉ. Cả bọn được lễ tân bố
trí lên phòng 601 của quán. Tại phòng 601, do không thấy ống hút để sử dụng
ma y ketamine đâu, nên N1 đưa cho H 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000
đồng bảo: Cuốn ống hút đi”. H hiểu ý N1 bảo dùng tờ tiền cuốn thành ống
hút để sử dụng ma tuý nên cầm tờ tiền Nam đưa cuốn dọc thành ống hút, giữ cố
định bằng 03 vỏ đầu lọc của điếu thuốc rồi đlên đĩa ketamine đã xào trên
kệ để cho mọi người cùng nhau dùng ống hút đó đtiếp tục sử dụng ma túy
ketamine.
Sau khi chuyển sang phòng 601, T3 thấy ma tuý nước vui đã sử dụng hết
5
nên hỏi: Mọi người có ai sử dụng nước vui nữa không”, thì N1, T1, A và T đều
trả lời “có”. T3 sử dụng điện thoại của mình gọi đến số điện thoại 0777.205.624
hỏi mua thêm ma túy nước vui của đối tượng tên T4. T4 đồng ý bán và bảo sẽ có
một thanh niên khác đến giao ma túy cho T3. Sau đó số điện thoại
0982.503.113 gọi cho T3, bảo T3 gửi vị trí đến tài khoản Zalo có tên “Tử Quân”
để người này mang ma tuý nước vui đến. Khoảng 20 phút sau, số điện thoại
0982.503.113 gọi cho T3 bảo T3 xuống cửa quán K1 để lấy ma túy nước vui, T3
đi ra cửa thì gặp 01 người đàn ông không quen biết, người này đưa cho T3 01
gói ma túy nước vui màu đỏ, giống với gói ma túy nước vui T3 mua được của
T4 trước đó. Sau khi mua được ma túy nước vui, T3 đi lên phòng 601 lấy 02 lon
nước húc cùng với bát sứ đi lên tầng 7 của quán, mở 02 lon nước húc, đổ
1,5 lon vào ấm rồi đun cho đủ ấm thì đổ ra bát loa rồi cầm bát loa chứa nước
húc đang ấm và gói ma túy nước vui vừa mua được đi xuống phòng 601 đến vị
trí mọi người đang ngồi trên giường, c gói ma túy nước vui, đổ chất bột ma
túy vào bát, dùng vỏ gói khuấy cho tan ma túy với nước bò húc đang ấmtrong
bát loa rồi múc 1,5 chén ma túy nước vui uống trước. Những người mặt tại
phòng tiếp tục cùng nhau sử dụng ma túy nước vui T3 pha số ma túy
ketamine còn lại. Quá trình sử dụng ma tuý, T1 đưa 01 chén ma túy nước vui
cho H1, H1 cầm lấy uống hết khoảng một nửa chén rồi đưa lại cho T1, T1 cầm
đổ lại vào bát để mọi người sử dụng.
Đến khoảng hơn 07 giờ cùng ngày, do không muốn Á phục vụ nên N1 đã
bảo Á ra về nhờ Khánh L1 gọi thêm 01 nữ nhân viên khác lên để phục vụ,
Khánh L1 đồng ý và B gọi thêm 01 nhân viên lên phòng 601 phục vụ khách.
Khoảng 20 phút sau, Thị T5 - sinh ngày 26/7/2006 ở M, huyện T, tỉnh Lai
Châu (nay M, tỉnh Lai Châu) đến phòng 601 để phục vụ thay Ánh. Khi T5
vào t N1 múc 02 chén ma y nước vui đưa kẻ 03 đường nhỏ ma túy
ketamine mời Thêm, T5 sử dụng rồi N1, T5 nằm gần nhau tận hưởng sự phê pha
của ma túy.
Đến khoảng hơn 08 giờ 30 phút cùng ngày, do đã sử dụng hết số ma túy
nước vui nên T3, N1, T1, A, T thống nhất mua tiếp 01 gói ma túy nước vui nữa
để sử dụng. T3 tiếp tục liên hệ nhiều lần gọi điện thoại đến các số điện thoại
0877.156.205, 0777.205.624 0982.503.113 của V, T4 người thanh niên
giao ma túy nước vui cho T3 trước đó để mua ma túy nhưng đều không liên lạc
được.
Đến khoảng hơn 10 giờ cùng ngày, do mọi người đã sdụng hết số ma
túy ketamine mà Anh mua trước đó, n N1 bảo T3: Mua ke đi”, T3 hỏi lại:
Mua bao nhiêu, nửa của nửa uốn nhé” (ý T3 là hỏi mọi người mua thêm 06 chỉ
ma túy ketamine) thì N1, T1, A, T đồng ý. Do biết một người đàn ông tên là H2
6
(thường gọi là Hòa S) sinh năm 2000 ở thị trấn V, huyện V bán ma túy
ketamine, nên T3 đã sử dụng số điện thoại của T3 gọi đến số 0965.340.444 để
hỏi mua của H2 06 chỉ ma túy ketamine, Hòa đồng ý bán và T3 hẹn H2 đem đến
quán K1 để giao bán. Khoảng 20 phút sau, T3 nhìn thấy cuộc gọi nhỡ của H2,
thì hiểu H2 đã đến nên đi xuống cửa quán gặp H2, tại đây H2 đưa cho T3 01 túi
nilon không màu bên trong chứa 06 chỉ ma túy ketamine, T3 cầm túi ma túy
ketamine và hẹn sẽ trả tiền sau rồi đem vào phòng đưa cho A. Anh để túi ma túy
đó lên trên chiếc đĩa sứ tN1 cầm đổ một ít ma y ketamine ra đĩa sứ, rồi xào
để cho mọi người sử dụng. H thấy N1 xào chưa kỹ nên tự cầm thẻ nhựa trên
đĩa tiếp tục giằm cho nát, mịn số ma túy ketamine trên để cho mọi người dễ sử
dụng sử dụng cảm giác phơn, đồng thời kẻ thành các đường nhỏ cho
mọi người sử dụng.
Khoảng hơn 13 giờ cùng ngày, do bận việc nên T đi về trước, lúc này
trong phòng chỉ còn 09 người là A, T1, T3, N1, H, Khánh L1, H1, Kiều LT5
trong phòng 601 nằm sử dụng ma túy ketamine tận hưởng sự phê pha của
ma túy.
Khoảng 14 giờ 20 ngày 03/10/2023, tổ công tác Công an huyện V (c)
đến quán K1 kiểm tra. Khi thấy Công an kiểm tra do hoảng sợ, các đối tượng
trong phòng 601 bỏ chạy lên phòng ngủ của nhân viên tại tầng 8 của quán để ẩn
náu. Tổ công tác kiểm tra phòng 601 phát hiện thấy nhiều đồ đạc phục vụ việc
sử dụng trái phép chất ma tuý, nhưng không ai tại phòng. Tổ công tác mở
rộng kiểm tra phát hiện tại phòng ngủ của nhân viên tại tầng 8, của quán 09
người Nguyễn Hải N1, Nguyễn Lương A, Phan Văn T1, Kiều Anh T3, Trần
Thị Thu H, Bàn Thị Kiều L, Thị T5, Thị Khánh L1, Hoàng Thị H1. Tổ
công tác đã đưa các đối tượng trên quay trở lại phòng 601, các đối tượng đã thừa
nhận hành vi sdụng trái phép chất ma tuý tại phòng 601, tổ công tác đã lập
biên bản sự việc và thu giữ vật chứng gồm:
- Tạm giữ của Kiều Anh T3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại
Iphone XS màu đen đã c; của Phan Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu
Apple loại Iphone XS màu trắng đã c; của Nguyễn Lương A 01 điện thoại di
động nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Pro màu xanh đã c; của Thị T5 01
điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 màu đen đã c; của Trần Thị
Thu H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Pro Max màu trắng
đã c; của Thị Khánh L1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone
8 Plus màu đen đã c; của Bàn Thị Kiều L 01 điện thoại di động nhãn hiệu
Apple loại Iphone XS màu trắng đã c; của Hoàng Thị H1 01 điện thoại di động
nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Pro Max đã c.
- T6 tại phòng 601:
7
+ Thu trên mặt chiếc đệm được chải ở dưới nền nhà gần cửa ra vào và gần
nhà vệ sinh 01 đĩa sứ màu trắng, bên trên mặt đĩa bám dính chứa các hạt
tinh thể màu trắng, đáy đĩa bám dính chất màu đen. được niêm phong trong
01 hộp bìa cát tông được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật hiệu
A2; 01 thẻ nhựa (dạng thẻ của mạng Vietnamobile) có bám dính các hạt tinh thể
màu trắng được niêm phong trong 01 phong bì thư theo đúng quy định của pháp
luật hiệu A3; 01 ống hút được cuốn bằng ttiền polime mệnh giá 10.000đ
được giữ cố định bằng 03 vỏ đầu lọc của điếu thuốc lá, mặt trong của ống hút có
bám dính các hạt tinh thể màu trắng được niêm phong trong 01 phong thư
theo đúng quy định của pháp luật hiệu A4; các hạt tinh thể màu trắng được
thu lại, cho vào trong 01 túi nilon không màu có mép vuốt màu trắng được niêm
phong theo đúng quy định của pháp luật ký hiệu A1.
+ T6 trên kệ gỗ (cách cửa ra vào phòng khoảng 03m): 02 bật lửa gas màu
đỏ đã c, đã qua sử dụng, 01 loa màu đen nhãn hiệu harman/kardon.
+ T6 trên nền nhà dưới vị trí để bật lửa, loa nêu trên 01 bộ đèn nháy màu
đen đã c. (BL: 51-53, 149-481)
Quá trình điều tra, Trần Thị Thu H3- sinh năm 1995, trú tại V, huyện
V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay V - tỉnh Phú Thọ) quản của quán tự nguyện
giao nộp 01 bát loa sứ màu trắng, miệng tròn, đường kính bát 18cm, cao 8cm;
02 chén thủy tinh trong suốt miệng tròn đường kính 4cm, cao 4,5cm; 01 bộ ấm
đun nước siêu tốc.
* Kết quả xét nghiệm, giám định ma tuý các đối tượng liên quan:
quan CSĐT Công an huyện V đã phối hợp cùng Trạm y tế thị trấn V
tiến hành kiểm tra nhanh ma tuý thu mẫu nước tiểu của các đối Nguyễn Hải
N1, Nguyễn Lương A, Phan Văn T1, Kiều Anh T3, Trần Thị Thu H, Bàn Thị
Kiều L, Thị T5, Thị Khánh L1, Hoàng Thị H1, Hoàng Thị Ngọc Á. Các
mẫu thu giữ được niêm phong theo quy định, hiệu lần lượt từ M1 đến M10.
Kết quả kiểm tra nhanh các mẫu nước tiểu đều dương tính với ma tuý MDMA
và Ketamine.
Ngày 03/10/2023, quan CSĐT Công an huyện V Quyết định trưng
cầu giám định số 548/QĐ-ĐCSKT-MT trưng cầu Phòng K3 - Công an tỉnh V
giám định chất ma tuý đối với các mẫu ký hiệu A1, A2, A3, A4.
Ngày 08/10/2023, Phòng K3 - Công an tỉnh V Bản kết luận giám định
số 2740, xác định:
Tinh thể màu trắng của mẫu hiệu A1 gửi giám định khối lượng
0,2832g (Không phảy hai tám ba hai gam, không kể bao bì) ma túy, loại
8
Ketamine.
Trên bề mặt của chiếc đĩa s hình tròn, màu trắng của mẫu hiệu A2
gửi giám định có bám dính chất ma túy, loại Ketamine.
Trên bề mặt của chiếc thẻ nhựa in chữ “vietnamobile” của mẫu
hiệu A3 gửi giám định có bám dính chất ma túy, loại Ketamine.
Trên ng hút được cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000VNĐ của mẫu
hiệu A4 gửi giám định có bám dính chất ma túy, loại Ketamine.
Không xác định được khối lượng chất bám dính trên các mẫu hiệu A2,
A3, A4 do lượng mẫu quá ít.
Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan
trưng cầu gồm: Mẫu A1 = 0,2325 gam, 01 chiếc đĩa shình tròn màu trắng của
mẫu A2, 01 thẻ nhựa in chữ “vietnammobile” của mẫu A3 và 01 ống hút được
cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cố định bằng 03 mảnh giấy màu
vàng dạng vỏ đầu lọc thuốc của mẫu A4 được niêm phong chung trong một
hột giấy catton, trên giáp lại có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong
và hình dấu của Phòng K3 - Công an tỉnh V.
Ngày 03/10/2023, quan CSĐT Công an huyện V các Quyết định
trưng cầu giám định số 549, 550, 551, 552, 553, 554, 555, 556, 557, 558 trưng
cầu Phòng Kỹ thuận hình sự - Công an tỉnh V giám định chất ma tuý trong mẫu
nước tiểu của Nguyễn Hải N1, Nguyễn Lương A, Phan Văn T1, Kiều Anh T3,
Trần Thị Thu H, Bàn Thị Kiều L, Lù Thị T5, Thị Khánh L1, Hoàng Thị H1,
Hoàng Thị Ngọc Á.
Ngày 09/10/2023, Phòng K3 - Công an tỉnh V Bản kết luận giám định
số 2743, xác định:
Tìm thấy chất ma túy MDMA Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng
ghi là mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Hải N1… ký hiệu M1 gửi đến giám định.
Ngày 10/10/2023, Phòng K3 - Công an tỉnh V lần lượt các Bản kết
luận giám định số 2746, 2747, 2748, 2750, 2751, 2752, 2753, 2754, 2755 xác
định:
- Tìm thấy chất ma túy MDMA Ketamine trong mẫu chất lỏng màu
vàng ghi mẫu nước tiểu thu của Bàn Thị Kiều L…. hiệu M6 gửi đến giám
định.
- Tìm thấy chất ma túy MDMA Ketamine trong mẫu chất lỏng màu
vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Trn Thị Thu H…. hiệu M5 gửi đến giám
định.
9
- Tìm thấy chất ma túy MDMA Ketamine trong mẫu chất lỏng màu
vàng ghi mẫu nước tiểu thu của Kiều Anh T3….. Phúc hiệu M4 gửi đến
giám định.
- Tìm thấy chất ma túy MDMA Ketamine trong mẫu chất lỏng màu
vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Lù Thị T5….ký hiệu M7 gửi đến giám định.
- Tìm thấy chất ma túy MDMA Ketamine trong mẫu chất lỏng màu
vàng ghi mẫu nước tiểu thu của Thị Khánh L1…… hiệu M8 gửi đến
giám định.
- Tìm thấy chất ma túy MDMA Ketamine trong mẫu chất lỏng màu
vàng ghi mẫu nước tiểu thu của Hoàng Thị H1…. hiệu M9 gửi đến giám
định.
- Tìm thấy chất ma túy MDMA Ketamine trong mẫu chất lỏng màu
vàng ghi là mẫu nưc tiểu thu của Hoàng Thị Ngọc Á, …… ký hiệu M10 gửi đến
giám định.
- Tìm thấy chất ma túy MDMA Ketamine trong mẫu chất lỏng màu
vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Lương A….. ký hiệu M2 gửi đến giám
định.
- Tìm thấy chất ma túy MDMA Ketamine trong mẫu chất lỏng màu
vàng ghi mẫu nước tiểu thu của Phan Văn T1…. hiệu M3 gửi đến giám
định.
Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan
trưng cầu gồm: 0,00 ml mẫu ng toàn bộ bao gói được niêm phong kín, trên
giáp lại chữ của người tham gia đóng gói, niêm phong hình dấu của
Phòng K3 - Công an tỉnh V.
quan điều tra đã thông báo kết luận giám định nêu trên cho Nguyễn
Hải N1, Nguyễn Lương A, Phan Văn T1, Kiều Anh T3, Trần Thị Thu H, Bàn
Thị Kiều L, Thị T5, Thị Khánh L1, Hoàng Thị H1, Hoàng Thị Ngọc Á;
các đối tượng không có ý kiến gì về nội dung bản kết luận nêu trên.
Quá trình điều tra xác định:
Khoảng 02 giờ ngày 03/10/2023, Nguyễn Hải N1, Nguyễn Lương A,
Phan Văn T1, Kiều Anh T3 cùng Bùi Xuân T bàn bạc thống nhất góp tiền thuê
phòng nghỉ tại quán K1 địa chỉ Khu T nhà P thuộc thôn Đ, T, huyện V,
tỉnh Vĩnh Phúc để nghỉ, thuê nhân viên phục vụ và tổ chức sử dụng ma tuý cùng
nhau. 06 nhân viên được nhóm trên thuê phục vụ sử dụng ma tuý cùng
nhóm gồm: Trần Thị Thu H, Bàn Thị Kiều L - sinh ngày 10/11/2007, Thị T5
sinh ngày 26/7/2006, Thị Khánh L1, Hoàng Thị H1, Hoàng Thị Ngọc Á sinh
10
ngày 26/10/2005 phục vụ.
Quá trình tổ chức sử dụng ma tuý tại phòng 505 và 601 của quán karaoke,
vai trò của từng đối tượng thực hiện như sau:
- Nguyễn Lương A là người mua 2 viên ma tuý kẹo, 6 chỉ ma tuý
Ketamine, xào ma tuý một lần, đưa cho Thị Khánh L1 nửa viên ma tuý kẹo
mời sử dụng;
- Kiều Anh T3 người trực tiếp mua 02 túi ma tnước vui06 chỉ
ma tuý ke, pha ma tuý “nước vui” 2 lần cho mọi người sử dụng;
- Phan Văn T1 đưa tờ tiền 50.000 đồng để cuốn thành ống hút sử dụng ma
tuý, đưa nửa viên ma tuý kẹo, đưa “nước vui” cho H1 sử dụng;
- Nguyễn Hải N1 múc ma tuý “nước vuikẻ chỉ ma túy ke cho T5 sử
dụng, tự xào ma tuý ke đưa tờ tiền 10.000 đồng cho H cuốn làm ống hút để
cùng mọi người sử dụng ma tuý;
- Trần Thị Thu H dằm nát ma tuý ke kthành đường nhỏ cho mọi
người sử dụng 02 lần, lấy nước húc chỉ vị trí dụng cụ cho T3 pha ma tuý
“nước vui”, cuốn tờ tiền 10.000 đồng thành ống hút để sử dụng ma tuý.
- Bùi Xuân T đã bàn bạc thống nhất với nhau việc sẽ góp tiền để thuê một
phòng của quán karaoke I, thuê nhân viên và mua ma tuý; T nói chuyện với T4
để nợ tiền mua ma túy nước vui sau khi T3 và A hỏi về việc trả tiền mua ma túy
nước vui và không ai đủ tiền trả; T cùng A, T1, N1, T3 thống nhất mua thêm
ma túy nước vui, ma túy ketamine để sử dụng và cùng tổ chức cho Bàn Thị Kiều
L, Lù Thị T5, Hoàng Thị Ngọc Á, Thị Khánh L1, Hoàng Thị H1 sử dụng trái
phép chất ma túy.
Các đối tượng tổ chức sử dụng ma tuý tại phòng 601 đến khoảng 14 giờ
20 phút ngày 03/10/2023, Bùi Xuân T và Hoàng Thị Ngọc Á ra về trước.
Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Lương
A, Phan Văn T1, Kiều Anh T3, Nguyễn Hải N1, Trần Thị Thu H đã được xét xử
tại Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 20/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh
Tường nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
Về xử vật chứng đã điều tra, làm trong vụ án đã được giải quyết tại
Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 20/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh
Tường nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
Đối với Bùi Xuân T sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã về trước, khi
được cơ quan chức năng triệu tập thì không chấp hành bỏ trốn, ngày
12/10/2024 CQĐT- Công an huyện V ra quyết định truy nã đối với T, đến ngày
11
ngày 09/9/2025 T ra đầu thú và đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình
như đã nêu trên.
Tại quan điều tra, bị cáo Bùi Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội của bản thân như đã nêu trên.
Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự thẩm số:
19/2026/HS-ST ngày 28 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 -
Phú Thọ đã căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều
51; các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Xuân T 07
(bảy) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tổ chc sử dụng trái phép chất ma túy”.
Ngày 30/01/2026, bị cáo T đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình
phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ thực hành quyền công tố
tại phiên toà sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích đánh giá hành vi phạm tội
và xem xét các tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đã phát
biểu quan điểm, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo T,
giảm hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự, sửa Bản án sơ thẩm số 19/2026/HS-ST ngày 28 tháng 01 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều
51; các Điều 17, 38, 58, 54 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Xuân T từ
04 năm 06 tháng đến 5 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt
bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ tngày 09/9/2025 đến
ngày 18/9/2025.
Bị cáo T không có ý kiến gì, không bào chữa gì khác xin Hội đồng xét
xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định hợp lệ, nên
được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp
thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự. Tại cấp thẩm tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không
ý kiến hoặc khiếu nại do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến
12
hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3]. Về nội dung vụ án: Khoảng 02 giờ ngày 03/10/2023, Bùi Xuân T
cùng Nguyễn Hải N1, Nguyễn Lương A, Phan Văn T1, Kiều Anh T3 bàn bạc
thống nhất góp tiền thuê phòng nghỉ tại quán K1, địa chỉ: Khu T nhà P
thuộc xã T, tỉnh Phú Thọ để nghỉ, thuê nhân viên phục vụ và tổ chức sử dụng ma
tuý cùng nhau. Cả nhóm thuê 06 nhân viên phục vụ gồm Trần Thị Thu H, Bàn
Thị Kiều L, sinh ngày 10/11/2007, Thị T5 sinh ngày 26/7/2006, Thị
Khánh L1, Hoàng Thị H1, Hoàng Thị Ngọc Á sinh ngày 26/10/2005 phục vụ
sử dụng ma tuý cùng. Quá trình tổ chức sử dụng ma tuý tại phòng 505 601
của quán K1, Lương A người mua 2 viên ma tuý kẹo, 6 chỉ ma tuý Ketamine,
tự xào ma tuý ke một lần, đưa cho Thị Khánh L1 nửa viên ma tuý kẹo; Kiều
Anh T3 người trực tiếp mua 02 túi ma tuý “nước vui” 06 chỉ ma tke,
pha ma tuý “nước vui” cho mọi người sử dụng; Phan Văn T1 đưa tờ tiền 50.000
đồng để cuốn thành ống hút sử dụng ma tuý, đưa nửa viên ma tuý kẹo, đưa
“nước vui” cho H1 sử dụng; Nguyễn Hải N1 múc ma tuý nước vui” cho T5 sử
dụng, tự xào ma tuý ke đưa tờ tiền 10.000 đồng cho H cuốn làm ống hút sử
dụng ma tuý; Bùi Xuân T thống nhất góp tiền đtổ chức sdụng trái phép chất
ma túy ng N1, A, T3, T1; Trần Thị Thu H dằm nát ma tuý ke kẻ thành
đường nhỏ cho mọi người sử dụng 02 lần, lấy nước bò húc chỉ vị tdụng cụ
cho T3 pha ma tuý “nước vui”, cuốn tờ tiền 10.000 đồng thành ống hút để sử
dụng ma tuý.
[3.1]. Các đối tượng tổ chức sử dụng ma tuý tại phòng 601 đến khoảng 14
giờ 20 phút ngày 03/10/2023 thì Bùi Xuân T Hoàng Thị Ngọc Á ra về trước.
Sau đó, tổ công tác Công an huyện V (c) kiểm tra phát hiện thu giữ tại
phòng 601 quán K1 các đồ vật, tài sản liên quan gồm 08 điện thoại di động
các loại, thu trên mặt chiếc đệm được chải ở dưới nền nhà gần cửa ra vào và gần
nhà vệ sinh 01 đĩa smàu trắng, bên trên mặt đĩa có bám dính chất ma túy, loại
Ketamine, đáy đĩa bám dính chất màu đen; 01 thẻ nhựa (dạng thẻ của mạng
V1) có bám dính chất ma túy, loại Ketamine; 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền
polime mệnh giá 10.000 đồng được giữ cố định bằng 03 vỏ đầu lọc của điếu
thuốc lá, mặt trong của ống hút bám dính chất ma túy, loại Ketamine; 02 bật
lửa gas màu đỏ; 01 loa màu đen nhãn hiệu harman/kardon; 01 bộ đèn nháy màu
đen.
[3.2]. Đây vụ án đồng phạm trong đó Bùi Xuân T đã cùng Nguyễn
Lương A, Kiều Anh T3, Nguyễn Hải N1Phan Văn T1 đã bàn bạc thống nhất
với nhau việc sẽ góp tiền đthuê một phòng của quán karaoke I, thuê nhân viên
mua ma tuý với số lượng 02 viên ma túy kẹo và 12 chỉ ma túy ketamine 2
túi ma t“nước vui”. Khi T3 hỏi mọi người mua ma túy nước vui để sử
13
dụng không, thì T lời nói thúc đẩy T3 mua ma túy nước vui và cho T3 số điện
thoại của người bán ma túy nước vui để T3 liên hệ; T trực tiếp liên hệ với người
bán ma túy tên là T4 để nợ tiền mua ma túy nước vui sau khi T3 A hỏi v
việc trả tiền mua ma túy nước vui; T cùng A, T1, N1, T3 thống nhất mua thêm
ma túy nước vui, ma túy ketamine vsử dụng, khi đã sử dụng hết ma túy
cùng tổ chức cho Bàn Thị Kiều L, Thị T5, Hoàng Thị Ngọc Á, Thị
Khánh L1, Hoàng Thị H1 sử dụng trái phép chất ma túy với cả nhóm, trong đó
Kiều L, T5, Á là người chưa đủ 18 tuổi. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội T bỏ
trốn đến ngày 09/9/2025 ra đầu thú tại Cơ quan điều tra.
[4]. Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo T
07 năm 09 tháng vtội Tổ chc sử dụng trái phép chất ma túytheo quy
định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự căn cứ, đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5]. Xét kháng cáo của bị cáo T xin giảm hình phạt, Hội đồng xét xử thấy:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, nên được áp dụng tình tiết giảm nh
trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, sau khi có Quyết định truy nã, bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú nên được
hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51
của Bộ luật Hình sự.
[6]. Quá trình chuẩn bị xét xử tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo T trình
bày sự việc ngày 01/10/2024, bị cáo có thành tích cứu cháu Nguyễn V Gia H4,
sinh năm 2014, vợ chồng chị V Thị H5anh Nguyễn Văn C tại thôn H, xã C,
huyện V, tỉnh Yên Bái (nay C, tỉnh Lào Cai) khỏi đuối nước, đồng thời
xuất trình các tài liệu liên quan đến thành tích cứu cháu H4 vợ chồng anh C
chị H5 khỏi đuối nước, gồm: Đơn xin xác nhận đề ngày 02/10/2024 có xác nhận
của Phó trưởng Công an C; Biên bản vụ việc đề ngày 01/10/2024 sự
chứng kiến, xác nhận của trưởng thôn Trần Thị T7, ông Văn T8 - Tổ
trưởng an ninh trật tự thôn H, ông Văn C1 - Phó trưởng Công an C,
Mùa Thị T9 cán bộ Công an ghi nội dung biên bản; thư cảm ơn viết tay của anh
Nguyễn Văn C ngày 01/10/2024.
[6.1]. Để đảm bảo tính khách quan, trung thực đối với thành tích của bị
cáo T, trên sở lời trình bày và các tài liệu bị cáo giao nộp, Tòa án tỉnh Phú
Thọ đã báo vợ chồng anh C, chị H5 đến trụ sở Tòa án tỉnh để làm việc đối với
các nội dung liên quan. Vào hồi 14 giờ 00 phút, ngày 17 tháng 6 năm 2026 anh
Nguyễn Văn C, sinh năm 1987, CCCD số: ************ đã mặt tại trụ sở
Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để làm việc. Tại buổi làm việc anh C khẳng định,
sự việc anh T thành tích cứu giúp vợ chồng anh cháu H4 khỏi đuối nước
14
ngày 01/10/2024 hoàn toàn thật, đúng như những anh bị cáo T đã
trình bày, nếu sai anh xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Anh xác
nhận Biên bản vụ việc ngày 01/10/2024, ghi nhận lại nội dung sự việc đúng,
bản thân anh và những người tên trong biên bản ký, xác nhận đúng; thư
cảm ơn do chính tay anh viết tên, trong đó ghi nhận lại sự việc, cám ơn công
lao cứu giúp của anh T. Bản thân anh gia đình luôn biết ơn anh T kính
mong Tòa án xem xét khoan hồng cho anh T vì công lao cứu giúp gia đình anh.
[6.2]. Ngoài ra ngày 19/6/2026, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú
Thọ đã trực tiếp tiến hành xác minh tính khách quan, trung thực của sự việc. Tại
biên bản làm việc giữa đại diện Viện kiểm sát tỉnh Phú Thọ với ông Đặng Kim
S1 Trưởng Công an xã C, ông Văn C1 Cán bộ Công an xã (ông C1 trước
khi sáp nhập Phó Trưởng Công an C, người đơn xin xác nhận ngày
02/10 Biên bản vviệc ngày 01/10/2024) đều khẳng định, sự việc sáng ngày
01/10/2024 bị cáo T thành tích cứu giúp vợ chồng anh C và cháu H4 khỏi
đuối nước hoàn toàn đúng sự thật, sự việc đã được Công an xã ghi nhận tại
biên bản vụ việc được lập cùng ngày mà bị cáo T đã giao nộp.
[7]. Việc bị cáo lập công cứu được anh C, chị H5 cháu H4 khỏi đuối
nước một hành động dng cảm, thể hiện sự quên mình lợi ích chính đáng
của người khác, hành động có ý nghĩa nhân đạo cao cả cho xã hội. Do đó, bị cáo
được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội đã lập
công chuộc tội” quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7.1]. Ngoài ra bị cáo T xuất trình tài liệu thể hiện ngày 29/01/2026 bị cáo
ủng hộ Quỹngười nghèo xã V, tỉnh Phú Thọ số tiền 3.000.000đ; bị cáo có mẹ
đẻ Đỗ Thị Kiều N em gái ruột của liệt sỹ Đỗ Văn Đ, bản thân N
không lập gia đình riêng, hiện bà là người trực tiếp chăm sóc mẹ đẻ Nguyễn Thị
C2, sinh năm 1934 (C2 mđẻ của liệt sĐ). Đây các tình tiết giảm nhẹ
mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
[8]. Bị cáo T phạm tội tổ chức sử dụng ma túy, sau khi bị phát hiện đã bỏ
trốn khỏi nơi trú, gây khó khăn cho quá trình điều tra, do đó về nguyên tắc
cần xử nghiêm để đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục chung. Tuy nhiên, sau
đó bị cáo đã hết sức ăn năn hối cải, tự nguyện ra đầu thú để được hưởng sự
khoan hồng của pháp luật; bị cáo mặc phạm tội liên quan đến ma túy, nhưng
không phải là đối tượng nghiện, chỉ vì ham chơi đua đòi, dẫn đến việc phạm tội.
[8.1]. Bị cáo trước khi phạm tội chấp hành tốt chính sách pháp luật của
nhà nước, bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ bị cáo không lập gia đình
riêng, một mình nuôi con nuôi mẹ già thuộc diện chính sách (mliệt sỹ); bị
cáo tuổi đời còn rất trẻ, sau khi phạm tội đã hành động dng cảm, đã không
15
ngại nguy hiểm, quên mình cứu sống cùng lúc 3 sinh mạng, giúp ngăn chặn
thảm kịch đối với gia đình anh C. Do đó bị cáo đáng được hưởng chính sách
nhân đạo, khoan hồng của pháp luật hình sự Việt Nam. Hội đồng xét xử thấy
rằng cần thiết giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, áp dụng Điều 54 của Bộ
luật Hình sự, xphạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt,
cng đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng phòng ngừa chung, tạo điều kiện để
bị cáo yên tâm chấp hành án, tích cực cải tạo tốt để sớm được trở về với gia đình
và xã hội.
[9]. Từ phân tích trên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo T,
sửa bản án thẩm giảm một phần hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị của đại
diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp, căn cứ được Hội đồng xét xử
chấp nhận.
[10]. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải
chịu án phí phúc thẩm.
[11]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 ca Bộ luật
Tố tụng hình sự: Chp nhn kháng cáo của bị cáo Bùi Xuân T, sửa Bản án hình
sự thẩm số: 19/2026/HSST ngày 28 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân
khu vc 10 - Phú Th.
Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T phạm tội Tổ chc sử dụng trái phép chất
ma túy”.
1. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều
51; các Điều 17, 38, 58, 54 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Bùi Xuân T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp nh
hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian đã bị tạm
giữ từ ngày 09/9/2025 đến ngày 18/9/2025.
2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo T không phải chịu
án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
16
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT X
Nguyễn Văn Nghĩa Nguyn Th Thu Hin
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Xuân Trọng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 96/2026/HS-PT Bản án số 96/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 96/2026/HS-PT Bản án số 96/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất