Bản án số 883/2026/DS-PT ngày 14/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 883/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 883/2026/DS-PT ngày 14/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 883/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Lương Thiện P "Tranh chấp liên quan đến yêu cầu công bố văn bản công chứng vô hiệu" Nguyễn Tấn P
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 883/2026/DS-PT Bản án số 883/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 883/2026/DS-PT Bản án số 883/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
——————
Bản án số: 883/2026/DS-PT
Ngày: 06-7-2026
V/v tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
vô hiệu, hợp đồng thế chấp quyền sử
dụng đất vô hiệu và tranh chấp hợp
đồng tín dụng”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
———————————————————
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Bà Trịnh Thị Phúc
- Thư ký phiên tòa: Ông Trung Kiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Gọn - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29 tháng 6 ngày 06 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án
nhân n tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 398/2026/TLPT-
DS ngày 22 tháng 5 năm 2026, về “tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất vô hiệu và
tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 73/2026/DS-ST ngày 23 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 12 - y Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 429/2026/QĐ-PT ngày 25
tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ông Lương Thiện P, sinh năm 1980 (vắng mặt đơn yêu
cầu giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh.
Địa chỉ cư trú hiện nay: ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Nguyễn Thanh
T, sinh năm 1987 (có mặt).
Địa chỉ: số B đường T, khu phố G, phường B, tỉnh Tây Ninh.
(Văn bản ủy quyền ngày 25/12/2024)
2. Bị đơn: ông Nguyễn Tấn P1, sinh năm 1998 (vắng mặt).
2
Địa chỉ: Số D, Đường C, T, khu phố N, phường N, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị đơn:Trần Thị Như N, sinh
năm 1997 (có mặt).
Địa chỉ: hẻm C, ấp S, xã C, tỉnh Tây Ninh.
(Văn bản ủy quyền ngày 25/6/2026)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H.
Địa chỉ: Số B bis, N, phường S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Hữu Đ - Tổng giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: bà Đỗ Thị Thành Q Phó phòng giám sát nợ;
hoặc ông Nguyễn Văn Đ1 - Chuyên viên xử lý nợ (bà Q có mặt, ông Đ1 vắng mặt).
Địa chỉ liên lạc: số A đường P, phường X, thành phố Hồ Chí Minh.
3.2 Bà Lương Thị T1, sinh năm 1984 (có mặt).
Địa chỉ đăng ký hộ khẩu: ấp M, xã B, tỉnh Tây Ninh.
Địa chỉ cư trú hiện nay: ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh.
3.3 Ông Lê Thành V, sinh năm 1979 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn B, xã L, tỉnh Lào Cai.
Địa chỉ cư trú hiện nay: ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh.
3.4 Bà Cù Thị Mỹ L, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh.
- Người kháng cáo: bị đơn ông Nguyễn Tấn P1 người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/12/2024, đơn khởi kiện bổ sung ngày 15/5/2025,
lời khai trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của
nguyên đơn là ông Nguyễn Thanh T trình bày:
Nguồn gốc thửa đất tranh chấp: năm 2018, ông Lương Thiện P được cha mẹ
ruột tặng cho riêng thửa đất số 193, tờ bản đồ số 26, diện tích 169,4m
2
, đất tại Khu
phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh). Ngày
26/11/2018 ông P được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CS06047. Ông P xác định thửa đất là tài sản riêng của ông P.
Ông P anh ruột của bà Lương Thị T1. Bà T1 hỏi vay của ông Nguyễn Tấn
P1 số tiền 200.000.000 đồng, ông P1 yêu cầu phải có tài sản đảm bảo bằng hình thức
ký kết hợp đồng chuyển nhượng. Bà T1 cần tiền nhưng bị nợ xấu ngân hàng, không
còn tài sản nên nhờ ông P dùng quyền sử dụng đất thửa số 193, tờ bản đồ số 26, diện
tích 169,4m
2
cho T1 mượn để thế chấp vay tiền của ông P1 thì ông P đồng ý. Ngày
25/01/2024, ông P và ông P1 ký và công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
3
dụng đất thửa số 193, tờ bản đồ số 26
tại Văn phòng C. Khi công chứng hợp đồng,
ông P ký trước rồi về, ông P1 đến ký sau nên cả hai không gặp nhau. Sau đó, ông P1
giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hồ sơ để đi làm thủ tục chuyển quyền sử
dụng đất sang tên ông P1.
Về nội dung giao dịch vay tiền thì T1 người trực tiếp hỏi vay tiền của
ông P1 và thỏa thuận thời hạn, lãi suất. Ông P hoàn toàn không tham gia. Từ khi ký
hợp đồng chuyển nhượng cho đến nay ông P1 không sử dụng nhà đất mà ông P vẫn
quản lý, ông P cho ông Thành V thuê từ năm 2023 đến nay với giá 1.000.000
đồng/tháng, các bên chỉ thoả thuận miệng, không lập hợp đồng thuê. Do ông P
bận công việc nên để cho T1 đứng ra thỏa thuận giá thuê nhà, thu tiền thuê hàng
tháng. Đến ngày 18/12/2024 Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H gửi thông
báo yêu cầu rời khỏi nđể bàn giao nhà đất thì ông P mới biết sự việc ông P1 sử
dụng thửa đất thế chấp vay tiền ngân hàng nên khởi kiện.
Ông P xác định việc chuyển nhượng không có thật, giả tạo nhằm che giấu
hợp đồng vay giữa T1 ông P1. Tại đơn khởi kiện đơn khởi kiện bổ sung
ngày 15/5/2025, cũng như phiên tòa xét xử sơ thẩm, ông P yêu cầu như sau:
- Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày
25/01/2024 giữa ông P ông P1 đối với thửa số 193, tờ bản đồ số 26, diện tích
169,4m
2
đất tại ấp T, B, tỉnh Tây Ninh, được công chứng tại Văn phòng C hiệu.
Về hậu quả pháp khi hợp đồng hiệu: ông P không yêu cầu gì, do T1
ông P1 giải quyết với nhau.
- Yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất trên giữa ông P1
Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H hiệu. Về hậu quả pháp khi hợp đồng
hiệu: ông P yêu cầu Ngân hàng trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản
chính cho ông P.
Đối với hợp đồng thuê nhà, đất: ông P không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Tấn P1 do ông Hòa Thái S là người đại diện theo ủy
quyền trình bày:
- Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Khoảng đầu tháng 01 năm 2024, bà T1 trực tiếp liên hệ ông P1 để giới thiệu
bán phần đất thửa đất số 193, tờ bản đồ 26, diện tích 169,4m
2
. Sau khi xem giấy tờ
đất thì biết do ông Lương Thiện P đứng tên quyền sử dụng. Lúc này bà T1 nói đất
này là của bà, nhưng nhờ anh ruột tên P đứng tên nên ông P1 đồng ý mua. Toàn b
thỏa thuận giao dịch là thực hiện với T1, ông P chỉ ký tên vào hợp đồng chuyển
nhượng, giữa ông P1 ông P không gặp mặt nhau, không thỏa thuận nội dung nào
trong giao dịch này.
Ông P1 T1 thỏa thuận giá mua bán 600.000.000 đồng. Ngày
25/01/2024, các bên đến Văn phòng C để ký hợp đồng chuyển nhượng. Khi đến
chuyển nhượng thì chgặp T1, phần tên của ông P đã được ông P trước
đó. Do tin tưởng lời của bà T1 và trong diễn biến sự việc thì ông P cũng đã đến ký
theo yêu cầu của T1 nên ông P1 đồng ý kết hợp đồng nhận chuyển nhượng
giao cho T1 số tiền 600.000.000 đồng. Giá ghi trong hợp đồng chuyển nhượng
200.000.000 đồng không phải giá chuyển nhượng thực tế chỉ ghi giá thấp
4
để giảm tiền thuế. Sau khi hợp đồng, bà T1 giao giấy bản chính giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất để ông P1 làm thủ tục chỉnh sang tên ông P1 tại trang 4 của
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Việc giao nhận tiền chuyển nhượng giao nhận tài sản: ngày 25/01/2024,
ông P1 chuyển khoản cho T1 số tiền 192.000.000 đồng trả tiền mặt cho T1
số tiền 408.000.000 đồng còn lại, nhưng không làm biên nhận tiền. Khi mua thì
hiện trạng trên đất có 01 căn nhà cấp 4 đang cho người khác thuê ở nên bà T1 bàn
giao khách thuê nhà lại cho ông P1, việc bàn giao không văn bản thỏa thuận.
Tháng 3 năm 2024, ông P1 có nhận tiền thuê nhà 01 tháng số tiền 1.000.000 đồng
từ người thuê nhưng không làm biên nhận tiền. Ông P1 không trực tiếp sử dụng nhà
đất này.
Nay ông P1 không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xác đnh tài sản đã mua hợp pháp, đã giao nhận tiền chuyển nhượng đầy đủ theo
quy định nên đây là tài sản của ông P1.
Sau khi nghe giải thích vhậu quả hợp đồng hiệu, ông P1 yêu cầu giải
quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu như sau: yêu cầu ông PT1 liên đới trả số tiền
600.000.000 đồng đã nhận tiền lãi từ ngày giao tiền (ngày 25/01/2024) đến khi
giải quyết vụ án với mức lãi suất 10%/năm.
- Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H, ý
kiến ông P1 như sau:
Ngày 06/02/2024 giữa Ngân hàng và ông P1 ký hợp đồng tín dụng để vay số
tiền 900.000.000 đồng, mục đích vay là để bổ sung vốn lưu động, thời hạn vay là 12
tháng, lãi suất vay 11,05%/năm, hợp đồng giải ngân vào ngày 07/02/2024. Để đảm
bảo khoản vay, ông P1 đã sử dụng tài sản thửa đất số 193, tờ bản đồ số 26 thế chấp
cho Ngân hàng.
Các bên tiến hành kết hợp đồng thế chấp số 4826/24MN/HĐBĐ ngày
06/02/2024 đăng giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng đất đai tỉnh T
Chi nhánh B, cập nhật thế chấp ngày 06/02/2024.
Cho đến thời điểm hiện nay ông P1 chưa thanh toán nợ gốc trlãi không
đầy đủ. Thời điểm Ngân hàng thẩm định tài sản, ông P1 có thông báo choT1, bà
T1 có biết việc ông P1 thế chấp thửa đất số 193 vay tiền Ngân hàng. Khi Ngân hàng
xuống làm việc có gặp bà T1. Còn người thuê đất thì khi xuống thẩm định không có
nhà. Nay ông P1 đồng ý trả nợ gốc lãi theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng,
đồng ý sử dụng tài sản thế chấp để đảm bảo khoản vay theo yêu cầu ca Ngân hàng.
Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 16/7/2025, lời khai trong quá trình giải quyết
vụ án và tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H trình bày:
Giữa Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố Hông Nguyễn Tấn P1 đã
hợp đồng tín dụng số: 5386/24MN/HĐTD ngày 06/02/2024 Đề nghị giải ngân
kiêm khế ước nhận nợ số: 5386/24MN/HĐTD/KUNN01 ngày 07/02/2024 để vay số
tiền 900.000.000 đồng, mục đích vay là để bổ sung vốn lưu động, thời hạn vay là 12
tháng, lãi suất vay trong hạn 11,05%/năm (lãi suất điều chỉnh theo biên độ), lãi
quá hạn: 150% lãi trong hạn, lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm, hợp đồng giải ngân vào
5
ngày 07/02/2024.
Để đảm bảo nợ vay, ông P1 đã sử dụng tài sản là thửa đất số 193, tờ bản đồ số
26, đất tại Khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh thế chấp cho Ngân hàng.
Ngày 06/02/2024, các bên tiến hành kết hợp đồng thế chấp s
4826/24MN/HĐBĐ, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C1 và đăng ký giao
dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T Chi nhánh B, cập nhật thế chấp
ngày 06/02/2024.
Thủ tục thẩm định tài sản thế chấp: mỗi ngân hàng sẽ trình tự thủ tục thẩm
định riêng được quy định văn bản nội bộ của Công ty. Theo Quy định số
1558/2020/-TGĐ ngày 30/7/2020 văn bản nội bộ của Ngân hàng quy định
trình tự thẩm định như sau: phải thu thập giấy tờ pháp của thửa đất dự định thế
chấp, tiến hành thẩm định tài sản, thu thập thông tin chủ sở hữu, sử dụng bất động
sản, thu thập thông tin quy hoạch, tình trạng pháp lý, tình trạng thực tế của bất động
sản sau đó xác định giá tài sản. Tùy theo số tiền vay mà Ngân hàng hoặc Hội sở sẽ
thẩm định. Đối với khoản vay này thì Ngân hàng trực tiếp thực hiện thủ tục thẩm
định. Ông P1 người trực tiếp dẫn Ngân hàng đến nhà đất thế chấp. Trong hồ
thẩm định Ngân hàng có chụp ảnh chung với ông P1, thời điểm thẩm định không
gặp người đang sử dụng, ông P1 có nói là nhà đang cho thuê. Nội dung này có thể
hiện mục V của Báo cáo kết quả định giá bất động sản. Ngân hàng không gặp
người thuê đang sử dụng nhà đất nên không xác minh, thông báo hay làm việc trực
tiếp được.
Quá trình trả gốc, lãi: nợ gốc ông P1 chưa thanh toán, nợ lãi trả đầy đủ đến
ngày 25/9/2024 thì ngưng cho đến nay. Ngân hàng nhiều lần liên hệ nhưng ông P1
vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Nay ý kiến ca Ngân hàng trong vụ án như sau:
- Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngân hàng không chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì Ngân hàng đã thực hiện đúng, đủ các
quy định của pháp luật liên quan trong hoạt động cho vay và nhận tài sản bảo đảm.
Đến thời điểm này quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 193, tờ bản
đồ số 26 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
gắn liền với đất số CP 370838, s vào số cấp GCN: CS06047 cấp ngày 26/11/2018
đã cập nhật thông tin chuyển nhượng sang cho ông Nguyễn Tấn P1 ngày
29/01/2024, không phải của ông P. Do đó, yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của
Ngân hàng là bên thứ ba ngay tình.
- Đối với hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và ông P1 thì Ngân hàng yêu cầu
ông P1 trả các khoản tiền sau:
+ Nợ gốc là 900.000.000 đồng;
+ Tiền lãi trong hạn từ ngày 25/9/2024 đến ngày 07/02/2025 với mức lãi suất
12,1%/năm là 38.776.163 đồng;
+ Tiền lãi quá hạn từ ngày 07/02/2025 đến ngày 23/3/2026 với mức lãi suất
150% lãi trong hạn là: 183.041.507 đồng;
+ Tiền lãi chậm trả lãi trong hạn với mức lãi suất 10%/năm từ ngày 25/3/2024
6
đến ngày 23/3/2026 là: 5.454.913 đồng, khấu trừ số tiền đã thanh toán 142.457
đồng, còn lại 5.312.456 đồng.
Tổng cộng gốc, lãi là: 1.127.130.126 đồng. Đồng thời, yêu cầu tiếp tục thanh
toán tiền lãi phát sinh theo hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Yêu cầu sử dụng tài sản đã thế chấp là quyền sử dụng đất tài sản gắn liền
với thửa đất số 193, tờ bản đồ số 26 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CP 370838, số vào số cấp GCN: CS06047
cấp ngày 26/11/2018 đã cập nhật thông tin chuyển nhượng sang cho ông Nguyễn Tấn
P1 ngày 29/01/2024 để đảm bảo nghĩa vụ trntheo Hợp đồng thế chấp quyền sử
dụng đất số 4826/24MN/HĐBĐ ngày 06/02/2024, được công chứng số: 871, quyển
số: 02/2024.TP/CC- SCC/HĐGD tại Văn phòng C1.
Nếu xử tài sản thế chấp nhưng không đủ thanh toán thì ông Nguyễn Tấn
P1 vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng cho đến khi hết
nợ.
Thời điểm vay, ông P1 không gia đình nên Ngân hàng chỉ yêu cầu một
mình ông P1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lương Thị T1 trình bày:
Do cần tiền nên hỏi ông P1 vay số tiền 200.000.000 đồng thì ông P1
đồng ý nhưng phải có tài sản đảm bảo dưới hình thức chuyển nhượng sang tên ông
P1. Sau khi trao đổi với ông P thì ông P đồng ý cho bà mượn giấy đất vay tiền. Ngày
25/01/2024, tại Văn phòng C, ông P đã hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 193,
tờ bản đồ s 26 cho ông P1 để đảm bảo nợ vay của bà T1.
là người vay tiền của ông P1, ông P không liên quan đến khoản vay. Mọi
thỏa thuận giao dịch giữa ông P1. Việc vay tiền không lập văn bản, khoản
vay không thời hạn, lãi suất thỏa thuận 3%/tháng. Ngày 25/01/2024, ông P1
chuyển khoản trực tiếp cho bà s tiền 192.000.000 đồng sau khi đã trừ khoản tiền cò
môi giới 8.000.000 đồng. Ngoài ra không nhận số tiền nào khác, không nhận
số tiền 408.000.000 đồng như lời ông P1 trình bày. Khoản vay trên bà chưa trả gốc
và chưa trả lãi.
Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng, bà đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho ông P1 để làm thủ tục sang tên nhưng nhà đất ông P vẫn đang sử dụng và đã
cho ông Thành V thuê từ khoảng năm 2023 cho đến nay. người trực tiếp
đứng ra cho thuê và thu tiền thuê nhà hàng tháng, mỗi tháng 1.000.000 đồng, người
thuê đưa trực tiếp tiền thuê cho ông P bận việc nên nhờ đứng ra cho thuê
giúp.
Khi Ngân hàng xuống thẩm định, ông P1 có gọi điện thoại cho bà nói là buổi
sáng có Ngân hàng xuống xem đất. Bà T1 hỏi lý do thì ông P1 nói là việc riêng của
ông P1. Khi Ngân hàng đến thẩm định tài sả thì bà T1 có nói là nhà của anh ruột bà
thế chấp cho ông P1 để vay tiền sau đó bà đi về, giữa ông P1Ngân hàng T2 như
thế nào không biết. Ngân hàng cũng không nói cho biết việc ông P1 vay tiền
Ngân hàng lấy nhà đất thế chấp. Sau này Ngân hàng gửi thông báo mới biết sự
việc.
7
Nay ý kiến ca bà như sau:
- Thống nhất theo yêu cầu của ông P tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất lập ngày 25/01/2024, công chứng ngày 25/01/2024 tại Văn phòng
C đối với đất thửa số 193, tờ bản đồ số 26, diện tích 169,4m
2
và hợp đồng thế chấp
giữa ông P1 và Ngânng đối với thửa đất trên vô hiệu. Lý do: bà chỉ nhận của ông
P1 số tiền vay 200.000.000 đồng, không có nhận số tiền 600.000.000 đồng.
- Sau khi nghe giải thích hậu quả hợp đồng vô hiệu, bà T1 chấp nhận trả cho
ông P1 số tiền vay gốc 200.000.000 đồng tiền lãi theo yêu cầu của ông P1. Đối
với số tiền 8.000.000 đồng trả tiền cò là dotự nguyện nên không yêu cầu trả lại.
Tất cả các giao dịch giữa bà ông P1 nên nợ riêng của bà, không liên quan đến
ông P. Bà tự nhận trách nhiệm trả nợ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thành V trình bày:
Ông đang thuê nhà đất thửa số 193, tờ bản đồ số 26 để sinh sống từ năm 2023
đến nay. Ông chỉ biết bà Lương Thị T1 cho ông thuê, còn ai đứng tên đất ông không
biết, chỉ nghe bà T1 nói là của anh trai bà T1 đứng tên.
Ông thuê với giá 1.000.000 đồng/tháng, không làm hợp đồng thuê, trả tiền
hàng tháng, ông trả trực tiếp cho T1. Ông không biết ai tên Nguyễn Tấn P1, ông
trả tiền thuê đất cho T1, không trả cho ông P1 hay ai khác. Quá trình thuê nhà
không thấy Ngân hàng hay ai đến hỏi ông về việc thuê nhà của ai.
Nay ý kiến của ông như sau: việc tranh chấp ông không có ý kiến, Tòa án giải
quyết theo quy định pháp luật. Đối với hợp đồng thuê nhà thì ông không yêu cầu Tòa
án giải quyết, tự các bên sẽ thỏa thuận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Cù Thị Mỹ L trình bày:
ông Lương Thiện P vợ chồng đăng kết hôn ngày 18/5/2023.
Nguồn gốc nhà đất ông P đang tranh chấp với ông Nguyễn Tấn P1 thửa số 193, tờ
bản đồ số 26, diện tích 169,4 đất tại ấp T, B, tỉnh Tây Ninh được cha mẹ
chồng cho riêng ông P, cho trước khi ông P đăng kết hôn. Do đó, xác
định thửa số 193, tờ bản đsố 26, diện tích 169,4 m² tài sản riêng của ông P. Đề
nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật, không ý kiến hay yêu
cầu gì. Đối với các thủ tục tố tụng Tòa án đã thực hiện thống nhất, không ý
kiến.
Sự việc tranh chấp đã được Tòa án cấp sơ thẩm hòa giải nhưng các đương sự
không thỏa thuận với nhau.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 73/2026/DS-ST ngày 23 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 12 - y Ninh đã xử:
Căn cứ vào Điều 227, 228, khoản 2 Điều 92, Điều 157, 158, 165, 166 Bộ luật
Tố tụng Dân sự; Điều 117, Điều 122, khoản 1 Điều 124, Điều 131, khoản 2 Điều
133, 317, 319, 357, 407, 463, 466, 500, 501, 502, 503 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 27,
45 Luật Đất đai 2024; khoản 2 Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Điều 7, Điều 8, khoản 1 Điều 13 Nghquyết số 01/2019 NQ-HĐTP ngày 11/01/2019
của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về
lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 13 Thông số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016
8
quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
đối với khách hàng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp yêu cầu tuyên
bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, hợp đồng thế chấp quyền
sử dụng đất vô hiệu ” của ông Lương Thiện P đối với ông Nguyễn Tấn P1.
1.1 Tuyên bố hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày
25/01/2024, công chứng số: 917, quyển số 01/2024 TP/CC-SCC/HĐGD ngày
25/01/2024 tại Văn phòng C giữa ông Lương Thiện P ông Nguyễn Tấn P1 đối với
quyền sử dụng đất thửa số 193, tờ bản đồ số 26, diện tích 169,4m
2
đất tại Khu phố
B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh).
1.2 Tuyên bố hiệu hợp đồng thế chấp số 4826/24MN/HĐ ngày
06/02/2024, được công chứng số: 871, quyển số: 02/2024.TP/CC- SCC/HĐGD tại
Văn phòng C1 giữa ông Nguyễn Tấn P1Ngân hàng TMCP Phát triển Thành ph
H đối với quyền sử dụng đất thửa số 193, tờ bản đồ số 26, diện tích 169,4m
2
đất tại
Khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh).
2. Về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:
2.1 Ông Lương Thiện P được quyền quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất thửa
số 193, tờ bản đồ số 26, diện tích 169,4m
2
đất tại Khu phố B, ấp T, B, tỉnh y
Ninh cùng các tài sản trên đất là 01 căn nhà cấp 4, 01 mái hiên.
2.2 Bà Lương Thị T1 có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Tấn P1 số tiền tổng
cộng là 242.938.000 đồng (hai trăm bốn mươi hai triệu chín trăm ba mươi tám
nghìn đồng). Trong đó nợ gốc là 200.000.000 đồng, tiền lãi là 42.938.000 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo ngày 23/3/2026 cho đến khi thi hành án xong, bên phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi
suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín
dụng” của Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H đối với ông Nguyễn Tấn P1.
3.1 Ông Nguyễn Tấn P1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Phát triển
Thành phố H số tiền tổng cộng 1.127.130.126 đồng (một tỷ một trăm hai mươi
bảy triệu một trăm ba mươi nghìn một trăm hai mươi sáu đồng), trong đó:
+ Nợ gốc là 900.000.000 đồng;
+ Tiền lãi trong hạn từ ngày 25/9/2024 đến ngày 07/02/2025 với mức lãi suất
12,1%/năm là 38.776.163 đồng;
+ Tiền lãi quá hạn từ ngày 07/02/2025 đến ngày 23/3/2026 với mức lãi suất
150% lãi trong hạn là: 183.041.507 đồng;
+ Tiền lãi chậm trả lãi trong hạn với mức lãi suất 10%/năm từ ngày 25/3/2024
đến ngày 23/3/2026: 5.312.456 đồng.
9
Kể t ngày tiếp theo ngày 23/3/2026 cho đến khi thi hành án xong, ông
Nguyễn Tấn P1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận
nợ giữa Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H và ông Nguyễn Tấn P1.
Trường hợp các bên thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng
thời kỳ thì lãi suất tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án
cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP
Phát triển Thành phố H.
3.2 Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H
về việc xử lý tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất và tài sản trên thửa đất số 193, tờ
bản đồ số 26, diện tích 169,4m
2
đất tại Khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh
(nay là ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh) theo hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ.
Buộc Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H trả lại cho ông Lương Thiện
P 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 193, tờ bản đồ số 26,
diện tích 169,4m
2
được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp cho ông Lương
Thiện P theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06047 ngày 26/11/2018, cập
nhật chỉnh lý trang 04 sang tên ông Nguyễn Tấn P1 ngày 29/01/2024.
quan thẩm quyền trách nhiệm thu hồi giấy chứng nhận đã cấp và điều
chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận phù hợp với kết quả giải quyết của
Tòa án. Trường hợp Ngân hàng không giao nộp giấy chứng nhận thì ông P có trách
nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc kê khai, đăng
ký quyền sử dụng đất theo quy định ca pháp luật.
4. Đối với hợp đồng thuê nhà, đất: do các đương sự không yêu cầu nên không
xem xét giải quyết.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Tấn P1 phải chịu án phí dân sự thẩm số tiền 46.414.000
đồng (bốn mươi sáu triệu bốn trăm mười bốn nghìn đng).
Lương Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 12.147.000 đồng
(mười hai triệu một trăm bốn mươi bảy nghìn đồng).
Ông Lương Thiện P không phải chịu án phí dân sự thẩm. Ông Lương Thiện
P được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng)
theo biên lai thu số 0012521 ngày 08/01/2025 biên lai thu số 0012725 ngày
16/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh (nay
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12, thuộc Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh).
Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H không phải chịu án phí dân sự
thẩm. Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H được nhận lại số tiền tạm ứng án
phí đã nộp 21.175.000 đồng (hai mươi mốt triệu một trăm bảy mươi lăm nghìn
đồng) theo biên lai thu số 0001476 ngày 23/7/2025 của Thi hành án dân sự Tây Ninh.
6. Về chi phí tố tụng: ông Nguyễn Tấn P1 phải chịu chi phí xem xét, thẩm
định tại chỗ và định giá số tiền 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng). Do ông Lương
Thiện P đã tạm ứng nên ông Nguyễn Tấn P1 trách nhiệm hoàn trả lại cho ông
Lương Thiện P tiền chi phí tố tụng trên.
10
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về quyền, thời hạn kháng cáo, quyền
nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.
Ngày 30 tháng 3 năm 2026, bị đơn ông Nguyễn Tấn P1 kháng cáo một phần
bản án sơ thẩm, không đồng ý vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
đề nghị công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; trong trường hợp
hợp đồng chuyển nhượng bị vô hiệu thì bà T1, ông P phải trả cho ông số tiền chuyển
nhượng quyền sử dụng đất là 600.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất
10%/năm.
Ngày 09 tháng 4 năm 2026, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng
TMCP Phát triển Thành phố H kháng cáo một phần bản án thẩm, đề nghị công
nhận hiệu lực của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người
kháng cáo không rút yêu cầu kháng o, các đương sự không thỏa thuận được với
nhau về việc giải quyết vụ án.
Bị đơn ông Nguyễn Tấn P1 do Trần Thị Như N đại diện theo ủy quyền trình
bày nội dung kháng cáo: Ông P1 không đồng ý hiệu hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất. Ông P đã hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho
ông P1. Ông P1 chuyển khoản cho T1 số tiền 192.000.000 đồng trả tiền mặt
cho T1 số tiền 408.000.000 đồng còn lại, nhưng không làm biên bản nhận tiền.
Ông P1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thế chấp cho Ngân hàng
để vay tiền, tiền chuyển nhượng ông P1 đã thanh toán cho T1. Trên đất nhà
cho người khác thuê, ông P1 không thu tiền thuê nhà. Trong trường hợp hợp đồng
chuyển nhượng bị vô hiệu thì bà T1, ông P phải trả cho ông số tiền chuyển nhượng
đất là 600.000.000 đồng tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm, thời gian tính lãi từ
ngày 25/01/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm với số tiền 129.000.000 đồng.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP Phát triển Thành
phố H do bà Đỗ Thị Thành Q người đại diện theo ủy quyền trình bày kháng cáo:
Ngân hàng kháng cáo một phần bản án sơ thẩm đối với hợp đồng thế chấp, đề nghị
công nhận hiệu lực của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất. Ngân hàng nhận thế
chấp đúng quy định của pháp luật. Do đó, đnghị Hội đồng xét xử bảo vệ Ngân hàng
là người thứ 3 ngay tình.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lương Thị T1 trình bày: Do cần
tiền nên hỏi ông P1 vay số tiền 200.000.000 đồng thì ông P1 đồng ý nhưng
phải có tài sản đảm bảo dưới hình thức chuyển nhượng sang tên ông P1. Sau khi trao
đổi với ông P thì ông P đồng ý cho bà mượn giấy đất vay tiền. Ngày 25/01/2024, tại
Văn phòng C, ông P đã hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 193, tờ bản đồ số
26 cho ông P1 để đảm bảo nợ vay của bà. người vay tiền của ông P1, ông P
không liên quan đến khoản vay. Mọi thỏa thuận giao dịch là giữa bà và ông P1. Việc
vay tiền không lập văn bản, khoản vay không thời hạn, lãi suất thỏa thuận
3%/tháng. Ngày 25/01/2024, ông P1 chuyển khoản trực tiếp cho số tiền
192.000.000 đồng sau khi đã trkhoản tiền 8.000.000 đồng. Ngoài ra không
có nhận số tiền nào khác, không nhận số tiền 408.000.000 đồng như lời ông P1 trình
11
bày. Khoản vay trên bà chưa trả gốc chưa trả lãi. Nhà và đất vẫn do ông P đang
quản lý, sử dụng cho ông V thuê, bà thu tiền thuê nhà giúp ông P. Nhà và đất vẫn do
ông P có toàn quyền quyết định.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm
đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của đương
sự trong thời hạn luật định đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo, quan điểm giải quyết vụ án:
Thửa đất số 193, tờ bản đồ số 26, diện tích 169,4m
2
đất tại Khu phB, thị trấn
B, huyện B, tỉnh Tây Ninh (nay ấp T, B, tỉnh Tây Ninh) của ông Lương Thiện
P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2018.
Ngày 25/01/2024, ông P Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa
193 cho ông Nguyễn Tấn P1; ngày 29/01/2024, ông P1 được chỉnh lý, cập nhật đứng
tên thửa đất này. Ngày 06/02/2024, ông P1 thế chấp thửa đất này tại Ngân hàng
TMCP Phát triển Thành phố H (H) để đảm bảo cho khoản vay 900.000.000 đồng.
Theo kết quả thẩm định lời trình bày của các đương sự, trên thửa 193
căn nhà cấp 4; hiện đang cho ông Lê Thành V thuê; các đương sự thống nhất giá trị
quyền sử dụng thửa đất 193 là 920.689.000 đồng; căn nhà trên đất mái hiên trên
đất trị giá 102.602.700 đồng; tổng cộng đất tài sản trên đất 1.023.291.700 đồng.
Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông P và ông P1: Đây
là giao dịch giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tiền giữa bà T1 và ông P1. Thực tế
ông P1 không thanh toán tiền cho ông P (chủ sở hữu đất) và cũng không chứng minh
được việc giao 408.000.000 đồng tiền mặt cho bà T1 như đã khai. Các bên chưa
việc giao nhận đất thực tế. Mặt khác, người thuê nhà ông V đã ở đó từ trước khi
ký hợp đồng và vẫn tiếp tục trả tiền thuê cho bà T1 (đại diện ông P), không biết ông
P1 là ai. Hợp đồng vay bị che giấu giữa bà T1 và ông P1 có hiệu lực, bà T1 phải trả
nợ gốc 200.000.000 đồng và tiền lãi.
Như vậy, các bên khi kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
không nhằm mục đích chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực sự mà nhằm bảo đảm
cho khoản tiền vay giữa ông P1 và bà T1. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa ông P ông P1 chỉ được lập dưới hình thức bên ngoài để che giấu giao
dịch vay tài sản giữa ông P1 T1. Do đó, a án cấp sơ thẩm xác định hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông P với ông P1 hiệu do giả tạo, che giấu
hợp đồng vay giữa bà T1 với ông P1 là cón cứ. Ông P1 yêu cầu trong trường hợp
hợp đồng bị hiệu thì yêu cầu ông P, T1 liên đới trả 600.000.000 đồng và tiền
lãi. Xét thấy, do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu, giả tạo che
giấu hợp đồng vay nên không có việc chuyển nhượng mà chỉ có việc ông P1 cho bà
T1 vay tiền. Ông P1 không chứng minh được có giao số tiền 600.000.000 đồng cho
T1; cũng không chứng minh được ông P vay số tiền này. Vì vậy, không chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của ông P1 đối với nội dung này.
Xét Hợp đồng thế chấp ngày 06/02/2024 giữa ông P1 với H đối với thửa đất
193: Ngân hàng xác nhận tại thời điểm thẩm định không gặp người đang sử dụng
12
đất, ông P1 có nói là nhà đang cho thuê. Như vậy Ngân hàng biết ông P1 không trực
tiếp quản lý, sử dụng đất nhưng không xác minh để làm rõ ai là đang người sử dụng
đất, không làm rõ vì sao ông V sử dụng đất; chỉ nghe lời trình bày một phía của ông
P1 mà vẫn nhận thế chấp. Ngân hàng không được xem người thba ngay tình. Do
đó, khi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị tuyên vô hiệu, hợp đồng thế
chấp này cũng vô hiệu theo.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo
của ông Nguyễn Tấn P1; không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP Phát
triển Thành phố H; căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên án
sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tấn P1 và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H được thực hiện đúng theo
quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận để
xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Thanh T, bà Trần Thị Như N, bà Lương ThT1
mặt, các đương sự còn lại vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
Các đương sự tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập
ngày 25/01/2024, công chứng số: 917, quyển số 01/2024 TP/CC-SCC/HĐGD ngày
25/01/2024 tại Văn phòng C giữa ông Lương Thiện P ông Nguyễn Tấn P1; hợp
đồng thế chấp số 4826/24MN/HĐBĐ ngày 06/02/2024, được công chứng số: 871,
quyển số: 02/2024.TP/CC- SCC/HĐGD tại Văn phòng C1 giữa ông Nguyễn Tấn P1
Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H đối với quyền sử dụng đất thửa số 193,
tờ bản đsố 26, diện tích 169,4m
2
đất tại Khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây
Ninh (nay là ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh); hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP
Phát triển Thành phố H đối với ông Nguyễn Tấn P1.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận
một phần yêu cầu khởi kiện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng
TMCP Phát triển Thành phố H.
Sau khi xét xử thẩm, bị đơn ông Nguyễn Tấn P1 người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H kháng cáo không đồng
ý bản án sơ thẩm, đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các
đương sự còn lại không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị. Tại phiên tòa
phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận với nhau việc giải quyết vụ án. Căn cứ
Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án
sơ thẩm có kháng cáo, liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tấn P1 về việc yêu cầu công nhận
hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập giữa ông
Lương Thiện P với ông Nguyễn Tấn P1, thấy rằng:
13
[3.1] Thửa đất số 193, tờ bản đồ số 26, đất tại Khu phố B, thị trấn B, huyện B,
tỉnh Tây Ninh (nay là ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh) được Sở Tài nguyên Môi trường
tỉnh T cấp cho ông Lương Thiện P theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
CS06047 ngày 26/11/2018 diện tích 169,4m
2
, trong đó đất tại đô thị 60m
2
,
đất trồng cây lâu năm là 109,4m
2
. Trên đất có 01 căn nhà cấp 4. Nguồn gốc thửa đất
và nhà là do ông P được cha mẹ tặng cho ngày 06/11/2018.
Ngày 25/01/2024 tại Văn phòng C, ông P ông P1 hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất. Ngày 29/01/2024, ông P1 được chỉnh lý, cập nhật đứng
tên thửa đất tại trang 4 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[3.2] Về kết quả thẩm định, định giá thửa đất số 193 tài sản trên đất thể
hiện:
Theo kết quả định giá, thẩm định tài sản ngày 23/12/2025 thể hiện tại thời
điểm tranh chấp thửa 193 có căn nhà cấp 4; hiện đang cho ông Lê Thành V thuê, có
giá 110.000.000 đồng/m ngang (đất chiều ngang 8,37m), tương đương
5.435.000 đồng/m
2
trị giá 920.689.000 đồng. Giá trị tài sản trên đất: 01 căn nhà cấp
4 xây dựng năm 2008, diện tích 4,5m x 9,5m kết cấu: nhà móng xây gạch, cột
gạch, tường gạch, nền gạch bông, mái tole, trần lót xốp ở phòng ngủ, có nhà vệ sinh
trong có giá 99.812.700 đồng; 01 mái hiên có diện tích 4,5m x 2,5m có kết cấu mái
tole, nền gạch bông, cột cây giá 2.790.000 đồng. Tổng giá trị tài sản tranh chấp là
1.023.291.700 đồng.
Theo kết quả xác minh tại thời điểm chuyển nhượng vào năm 2024, thị trường
giá đất tại địa phương dao động từ 120.000.000 đồng 130.000.000 đồng/m ngang.
Như vậy, việc bị đơn trình bày chuyển nhượng thửa đất số 193 với giá 600.000.000
đồng thấp, không tương xứng giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm chuyển
nhượng.
[3.3] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lương Thiện
P với ông Nguyễn Tấn P1 ngày 25/01/2024, được Văn phòng C, quyển số 01/2024.
TP/CC-SCC/HĐGD, đối với thửa đất số 193, tờ bản đồ số 26, diện tích 169,4m
2
đất
tại khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh):
[3.3.1] Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 25/01/2024 được
lập đúng hình thức, công chứng tại Văn phòng C sau đó ông Nguyễn Tấn P1
đã được quan đăng ký đất đai thực hiện thủ tục đăng biến động, cập nhật tên
người sử dụng đất. Tuy nhiên, các đương sự không thống nhất mục đích của việc
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Theo khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định khi các bên xác
lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch
giả tạo hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực nếu đáp ứng điều kiện luật
định. Vì vậy, để xác định bản chất của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
nêu trên cần đánh giá toàn diện diễn biến giao dịch, mục đích xác lập giao dịch, việc
thực hiện quyền nghĩa vụ của các bên sau khi kết hợp đồng ng như các chứng
cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[3.3.2] Các tài liệu, chứng cứ trong hồ cùng lời khai của các đương sự
trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đều thể hiện thống nhất rằng người
14
trực tiếp có nhu cầu về tiền là bà Lương Thị T1 chứ không phải ông Lương Thiện P.
Chính bà T1 người trực tiếp liên hệ ông Nguyễn Tấn P1 để vay tiền; toàn bộ quá
trình thỏa thuận về số tiền, lãi suất, điều kiện bảo đảm khoản vay đều diễn ra giữa
T1 ông P1. Ông P không tham gia quá trình thương lượng, cũng không trực tiếp
nhận bất kỳ khoản tiền nào từ ông P1.
Ông P1 cho rằng đã thanh toán tiền chuyển nhượng cho bà T1 tổng cộng
600.000.000 đồng (chuyển khoản 192.000.000 đồng, giao tiền mặt 408.000.000
đồng). Tuy nhiên, ngoài chứng từ chuyển khoản số tiền 192.000.000 đồng cho bà T1,
ông P1 không cung cấp được chứng cứ nào chứng minh đã giao tiếp số tiền mặt
408.000.000 đồng như trình bày. Việc giao một khoản tiền lớn bằng tiền mặt nhưng
không lập giấy biên nhận, không người làm chứng, không tài liệu xác nhận
trong khi giao dịch liên quan đến chuyển nhượng bất động sản giá trị lớn không
phù hợp với thông lệ giao dịch dân sự thông thường, nên lời trình bày của ông P1
không đủ căn cứ pháp lý để chấp nhận.
Trong khi đó, T1 xác định vay của ông P1 200.000.000 đồng, (thực tế
nhận 192.000.000 đồng, còn 8.000.000 đồng tiền môi giới). Số tiền 200.000.000
đồng mà bà T1 thừa nhận vay cũng chính là giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Điều này cho thấy giá ghi trong hợp đồng không
phản ánh giá trchuyển nhượng thực tế của tài sản mà chỉ số tiền tương ứng khoản
vay được các bên sử dụng để hợp thức hóa hình thức chuyển nhượng quyền sử dụng
đất. Lời khai của T1 phù hợp với chứng từ chuyển khoản do chính ông P1 cung
cấp và phù hợp với lời trình bày của nguyên đơn về mục đích sử dụng giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất để bảo đảm khoản vay cho bà T1.
[3.3.3] Quá trình thực hiện hợp đồng sau khi ký kết cũng không thể hiện bản
chất của một giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực sự. Theo kết quả xem
xét, thẩm định tại chỗ và lời khai của người đang trực tiếp sử dụng tài sản là ông
Thành V thì từ năm 2023, trước thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng, ông V đã
thuê căn nhà trên đất để ở; việc thuê do bà Lương Thị T1 trực tiếp giao dịch và thu
tiền thuê. Sau khi hợp đồng chuyển nhượng được ký kết, tình trạng quản lý, sử dụng
nhà đất hoàn toàn không thay đổi; ông V vẫn tiếp tục sử dụng nhà đất, tiếp tục giao
tiền thuê cho bà T1 và không biết ông Nguyễn Tấn P1 là ai.
Mặc ông P1 cho rằng sau khi nhận chuyển nhượng đã được bàn giao tài
sản nhận tiền thuê nmột lần nhưng ông không cung cấp được chứng cứ
chứng minh cho lời khai này. Trong khi, cả ông V T1 đều xác nhận ông P1
chưa bao giờ trực tiếp quản lý, sử dụng hoặc khai thác nhà đất; việc thu tiền thvẫn
do bà T1 thực hiện cho ông P như trước khi ký hợp đồng. Như vậy, ngoài việc hoàn
tất thủ tục đăng biến động trên giấy chứng nhận, toàn bộ hiện trạng quản lý, sử
dụng tài sản vẫn được duy trì như trước thời điểm hợp đồng. Đây tình tiết khách
quan phản ánh việc các bên không có ý chí thực sự chuyển giao quyền sử dụng đất.
Do đó, có đủ cơ sở xác định ý chí thực sự của các bên khi ký hợp đồng ngày
25/01/2024 không nhằm chuyển quyền sử dụng đất từ ông P sang ông P1 mà nhằm
sử dụng quyền sử dụng đất của ông P làm tài sản bảo đảm cho khoản tiền bà T1 vay
của ông P1. Do đó, Tòa án cấp thẩm tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất vô hiệu do giả tạo theo khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự có căn cứ, đúng
15
quy định pháp luật. Kháng cáo của ông Nguyễn Tấn P1 yêu cầu công nhận hiệu lực
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có căn cứ để chấp nhận.
[3.3.4] Về hậu quả của giao dịch vô hiệu:
Theo quy định tại Điều 124 Bộ luật dân sự, hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa ông P với ông P1 bị vô hiệu do giả tạo nên hợp đồng bị che giấu
hợp đồng vay giữa T1 với ông P1 hiệu lực. vậy, Tòa án cấp thẩm giải
quyết hợp đồng vay, buộc T1 trả tiền gốc 200.000.000 đồng tiền lãi cho ông
P1 căn cứ. Ông P1 kháng cáo yêu cầu trong trường hợp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu thì yêu cầu ông P, bà T1 liên đới trả
600.000.000 đồng tiền lãi nhưng không chứng minh được ông P vay số tiền
này. Vì vậy, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông P1 đối với nội dung này.
[3.4] Xét kháng cáo của Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H vviệc
yêu cầu ng nhận hiệu lực Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
4826/24MN/HĐBĐ ngày 06/02/2024, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Ngày 06/02/2024, sau khi được quan đăng đất đai cập nhật biến động
sang n trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Nguyễn Tấn P1 đã Hợp
đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 4826/24MN/HĐBĐ với Ngân hàng TMCP Phát
triển Thành ph H để bảo đảm khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số
5386/24MN/HĐTD.
Ngân hàng cho rằng việc nhận thế chấp được thực hiện đúng trình tự, thủ tục
theo quy định pháp luật; tại thời điểm kết hợp đồng thế chấp, ông P1 người
đứng tên hợp pháp trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên Ngân hàng bên
thứ ba ngay tình thuộc trường hợp được bảo vệ theo khoản 2 Điều 133 Bộ luật
Dân sự năm 2015.
Xét thấy, theo khoản 2 Điều 133 Bộ luật Dân sự quy định cơ chế bảo vệ người
thứ ba ngay tình trong trường hợp giao dịch dân sự hiệu nhằm bảo đảm sự ổn định
của giao lưu dân sự. Tuy nhiên, để được hưởng chế bảo vệ này thì người thứ ba
phải chứng minh mình xác lập giao dịch một cách ngay tình, tức tại thời điểm giao
kết không biết cũng không thể biết quyền định đoạt tài sản của bên chuyển giao
có khiếm khuyết. Việc bên chuyển giao đã đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất chỉ một trong những căn cứ đxác lập niềm tin pháp lý, nhưng không
phải là căn cứ duy nhất và cũng không làm phát sinh mặc nhiên tình trạng ngay tình
nếu thực tế tồn tại các dấu hiệu khách quan buộc bên nhận giao dịch phải kiểm tra,
xác minh thêm.
Ngân hàng cho vay nhận tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay không chỉ chịu sự
điều chỉnh của Bộ luật Dân sự còn phải tuân thủ Luật Các tổ chức tín dụng
các quy định rủi ro trong tín dụng. Hoạt động thẩm định tài sản bảo đảm là một quy
trình nghiệp vụ bắt buộc nhằm đánh giá đồng thời tình trạng pháp lý, tình trạng quản
lý, sử dụng và khả năng xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chính đại diện Ngân hàng thừa nhận trước
khi quyết định cho vay phải tiến hành khảo sát thực địa, xác minh hiện trạng tài sản,
người quản lý, sử dụng tài sản và thu thập các thông tin liên quan. Kết quả thẩm định
16
của Ngân hàng cũng thể hiện tại thời điểm khảo sát, căn nhà trên đất đang có người
sử dụng; ông Nguyễn Tấn P1 không trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản chỉ giải
thích tài sản đang cho thuê.
Như vậy, ngay trong quá trình thẩm định, Ngân hàng đã phát hiện dấu hiệu
cho thấy người đứng tên trên Giấy chứng nhận không phải là người trực tiếp chiếm
hữu, quản lý, khai thác tài sản. Đây là tình tiết pháp lý quan trọng vì trong thực tiễn
giao dịch dân sự, việc bên thế chấp không trực tiếp quản lý tài sản luôn là yếu tố cần
được làm đxác định nguồn gốc, quá trình chuyển giao quyền quản khả năng
phát sinh tranh chấp đối với tài sản bảo đảm.
Tuy nhiên, mặc dù nhận thấy dấu hiệu bất thường này, Ngân hàng không làm
việc trực tiếp với người đang quản lý, sử dụng tài sản; không xác minh căn cứ phát
sinh việc chiếm hữu của người thuê; không yêu cầu xuất trình hợp đồng thuê hoặc
các tài liệu thể hiện việc bàn giao tài sản sau khi chuyển nhượng; cũng không kiểm
tra việc bên nhận chuyển nhượng đã thực sự tiếp nhận quyền quản lý, khai thác tài
sản hay chưa. Việc thẩm định chỉ dừng lại ở việc ghi nhận lời trình bày của ông P1
và căn cứ vào thông tin đăng ký trên Giấy chứng nhận để quyết định nhận thế chấp.
Trong khi đó, qua lời khai của ông Lê Thành V, bà Lương Thị T1 và nguyên
đơn ông Lương Thiện P và kết quả xác minh của Tòa án, người đang trực tiếp quản
lý, sử dụng tài sản từ trước thời điểm chuyển nhượng đến sau thời điểm thế chấp vẫn
là ông V. Việc giao, nhận tiền thuê vẫn do bà T1 thực hiện; ông V hoàn toàn không
biết ông P1 người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Mặc dù, Ngân hàng không biết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giao dịch giả tạo. Tuy nhiên, xuất phát từ việc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ
thẩm định theo yêu cầu của một tổ chức tín dụng hoạt động chuyên nghiệp. Do đó,
không có căn cứ xác định Ngân hàng là bên thứ ba ngay tình theo khoản 2 Điều 133
Bộ luật Dân sự.
Mặt khác, như đã phân tích, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
25/01/2024 giữa ông Lương Thiện P và ông Nguyễn Tấn P1 là giao dịch giả tạo, vô
hiệu theo khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự. Khi giao dịch làm phát sinh quyền định
đoạt của ông P1 bị tuyên vô hiệu và Ngân hàng không thuộc trường hợp được pháp
luật bảo vệ theo khoản 2 Điều 133 B luật Dân sự thì quyền thế chấp của ông P1 đối
với thửa đất cũng không có căn cứ pháp để đảm bảo khoản nợ vay. Vì vậy, Hợp
đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 4826/24MN/HĐBĐ ngày 06/02/2024 giữa ông
Nguyễn Tấn P1 Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H cũng vô hiệu theo quy
định của pháp luật.
Tòa án cấp thẩm tuyên hiệu Hợp đồng thế chấp buộc Ngân hàng hoàn
trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lương Thiện P căn cứ, đúng
quy định ca pháp luật.
Ngân hàng kháng cáo nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ mới làm
thay đổi bản chất vụ án hoặc chứng minh mình đã thực hiện đầy đủ nghĩa vthẩm
định để được xác định bên thứ ba ngay tình. Vì vậy, không căn cứ chấp nhận
kháng cáo của Ngân hàng.
17
Từ những phân tích nêu trên, bị đơn ông Nguyễn Tấn P1 người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H kháng cáo nhưng
không cung cấp chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ ánn không có cơ sở chấp
nhận. Chấp nhận toàn bộ đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: bị đơn ông Nguyễn Tấn P1 người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H phải chịu án phí
phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.
[5] Các phần khác của bản án thẩm không bkháng cáo, kháng nghị hiệu
lực thi hành ktừ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tấn P1.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 73/2026/DS-ST ngày 23 tháng 3 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh.
Căn cứ vào Điều 227, 228, khoản 2 Điều 92, Điều 157, 158, 165, 166 Bộ luật
Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 122, khoản 1 Điều 124, Điều 131, khoản 2 Điều 133,
317, 319, 357, 407, 463, 466, 500, 501, 502, 503 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 27, 45
Luật đất đai 2024; khoản 2 Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7,
Điều 8, khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019 NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi
suất, phạt vi phạm; Điều 13 Thông số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy
định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối
với khách hàng; các Điều 26, 27, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp yêu cầu tuyên
bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, hợp đồng thế chấp quyền
sử dụng đất vô hiệu ” của ông Lương Thiện P đối với ông Nguyễn Tấn P1.
1.1 Tuyên bố hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày
25/01/2024, công chứng số: 917, quyển số 01/2024 TP/CC-SCC/HĐGD ngày
25/01/2024 tại Văn phòng C giữa ông Lương Thiện P ông Nguyễn Tấn P1 đối với
quyền sử dụng đất thửa số 193, tờ bản đồ số 26, diện tích 169,4m
2
đất tại Khu phố
B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh).
1.2 Tuyên bố hiệu hợp đồng thế chấp số 4826/24MN/HĐ ngày
06/02/2024, được công chứng số: 871, quyển số: 02/2024.TP/CC- SCC/HĐGD tại
18
Văn phòng C1 giữa ông Nguyễn Tấn P1Ngân hàng TMCP Phát triển Thành ph
H đối với quyền sử dụng đất thửa số 193, tờ bản đồ số 26, diện tích 169,4m
2
đất tại
Khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh).
2. Về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:
2.1 Ông Lương Thiện P được quyền quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất thửa
số 193, tờ bản đồ số 26, diện tích 169,4m
2
đất tại Khu phố B, ấp T, B, tỉnh y
Ninh cùng các tài sản trên đất là 01 căn nhà cấp 4, 01 mái hiên.
2.2 Bà Lương Thị T1 có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Tấn P1 số tiền tổng
cộng là 242.938.000 đồng (hai trăm bốn mươi hai triệu chín trăm ba mươi tám
nghìn đồng). Trong đó nợ gốc là 200.000.000 đồng, tiền lãi là 42.938.000 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo ngày 23/3/2026 cho đến khi thi hành án xong, bên phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi
suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín
dụng” của Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H đối với ông Nguyễn Tấn P1.
3.1 Ông Nguyễn Tấn P1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Phát triển
Thành phố H số tiền tổng cộng 1.127.130.126 đồng (một tỷ một trăm hai mươi
bảy triệu một trăm ba mươi nghìn một trăm hai mươi sáu đồng), trong đó:
- Nợ gốc là 900.000.000 đồng;
- Tiền lãi trong hạn từ ngày 25/9/2024 đến ngày 07/02/2025 với mức lãi suất
12,1%/năm là 38.776.163 đồng;
- Tiền lãi quá hạn từ ngày 07/02/2025 đến ngày 23/3/2026 với mức lãi suất
150% lãi trong hạn là: 183.041.507 đồng;
- Tiền lãi chậm trả lãi trong hạn với mức lãi suất 10%/năm từ ngày 25/3/2024
đến ngày 23/3/2026: 5.312.456 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo ngày 23/3/2026 cho đến khi thi hành án xong, ông
Nguyễn Tấn P1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận
nợ giữa Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H và ông Nguyễn Tấn P1.
Trường hợp các bên thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng
thời kỳ thì lãi suất tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án
cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP
Phát triển Thành phố H.
3.2 Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H
về việc xử lý tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất và tài sản trên thửa đất số 193, tờ
bản đồ số 26, diện tích 169,4m
2
đất tại Khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh
(nay là ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh) theo hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ.
Buộc Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H trả lại cho ông Lương Thiện
P 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 193, tờ bản đồ số 26,
diện tích 169,4m
2
được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp cho ông Lương
19
Thiện P theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06047 ngày 26/11/2018, cập
nhật chỉnh lý trang 04 sang tên ông Nguyễn Tấn P1 ngày 29/01/2024.
quan thẩm quyền trách nhiệm thu hồi giấy chứng nhận đã cấp và điều
chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận phù hợp với kết quả giải quyết của
Tòa án. Trường hợp Ngân hàng không giao nộp giấy chứng nhận thì ông P có trách
nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc kê khai, đăng
ký quyền sử dụng đất theo quy định ca pháp luật.
4. Đối với hợp đồng thuê nhà, đất: do các đương sự không yêu cầu nên không
xem xét giải quyết.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Tấn P1 phải chịu án phí dân sự thẩm số tiền 46.414.000
đồng (bốn mươi sáu triệu bốn trăm mười bốn nghìn đng).
Lương Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 12.147.000 đồng
(mười hai triệu một trăm bốn mươi bảy nghìn đồng).
Ông Lương Thiện P không phải chịu án phí dân sự thẩm. Ông Lương Thiện
P được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng)
theo biên lai thu số 0012521 ngày 08/01/2025 biên lai thu số 0012725 ngày
16/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh (nay
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12, thuộc Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh).
Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H không phải chịu án phí dân sự
thẩm. Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H được nhận lại số tiền tạm ứng án
phí đã nộp 21.175.000 đồng (hai mươi mốt triệu một trăm bảy mươi lăm nghìn
đồng) theo biên lai thu số 0001476 ngày 23/7/2025 của Thi hành án dân sự Tây Ninh.
6. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Buộc ông Nguyễn Tấn P1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền
án phí, khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án đã nộp theo biên
lai thu số 0006324 ngày 30/3/2026 của Thi hành án dâ sự tỉnh Tây Ninh.
Buộc Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H phải chịu 300.000 đồng (ba
trăm nghìn đồng) tiền án phí, khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm
ứng án đã nộp theo biên lai thu số 0007624 ngày 13/4/2026 của Thi hành án sự
tỉnh Tây Ninh.
7. Về quyền yêu cầu thi hành án:
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân
sự.
8. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày
tuyên án.
20
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 12 - Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 12 - Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Thị Hồng Vân
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 883/2026/DS-PT Bản án số 883/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 883/2026/DS-PT Bản án số 883/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất