Bản án số 86/2025/DS-ST ngày 05/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 86/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 86/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 86/2025/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 86/2025/DS-ST ngày 05/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng |
| Số hiệu: | 86/2025/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 05/06/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ông Nguyễn Viết Th mua hàng hoá mà không thanh toán nên bà H, bà D khởi kiện |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM KỲ
TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số: 86/2025/DS - ST
Ngày 05 - 6 - 2025.
V/v "Tranh chấp về nghĩa
vụ dân sự”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Bá.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Tình
2. Ông Phạm Bá Sang
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Hiệp - Thư ký Toà án nhân dân thành phố
Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ tham gia phiên tòa: Bà Hồ
Thị Hà Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ xét xử
sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 25/2025/TLST - DS ngày 17 tháng 02 năm
2025 về việc “Tranh chấp về nghĩa vụ dân sự” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
33/2025/QĐXXST - DS ngày 24 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
+ Bà Nguyễn Thị Mỹ H1, sinh năm 1991. Nơi đăng ký thường trú: Thôn TA,
xã TL, huyện P, tỉnh Quảng Nam. Nơi cư trú: đường Nguyễn Phong Sắc, phường
AM, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
+ Bà Phạm Thị Ngọc H2, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Khối phố MB, phường
AM, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt
+ Bà Trần Thuý D, sinh năm 1994. Nơi đăng ký thường trú: Thôn 5, xã TN,
thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Nơi cư trú: đường Huỳnh Thúc Kháng, phường AX,
thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt
+ Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nh, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Khối phố 5, thị trấn
N, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Có mặt
- Bị đơn:
+ Ông Nguyễn Viết Th, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Khối phố PA, phường AP,
thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt
+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Khối phố PA, phường AP,
thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án cũng như tại phiên toà các nguyên đơn trình bày:
Năm 2023, ông Nguyễn Viết Th mua Điện thoại di động và Ipad của bà D, bà Nh
bán lại cho bà H1, bà H2. Thời gian đầu ông Th thực hiện việc mua bán đảm bảo đủ số
lượng theo số tiền đã chuyển của các bên. Thời gian sau ông Th thực hiện việc mua bán
không đúng, đủ số lượng đã thoả thuận mặc dù tiền hàng đã nhận.
Tính đến tháng 8 năm 2023 ông Th nợ bà Nguyễn Thị Mỹ H1 số tiền
230.100.000 đồng; nợ bà Phạm Thị Ngọc H2 số tiền 614.200.000 đồng; nợ bà Trần
Thuý D số tiền 282.560.000 đồng; nợ bà Nguyễn Thị Quỳnh Nh số tiền 278.880.000
đồng. Sau nhiều lần đòi nợ mà ông Th cứ hứa hẹn nhưng không trả nên ngày 26/9/2023
các nguyên đơn làm đơn tố cáo đến Cơ quan công an, tại cơ quan Công an ông Th thừa
nhận có nợ các nguyên đơn số tiền như đã nêu trên. Ngày 02/02/2024, ông Th và gia
đình đã trả cho các nguyên đơn số tiền tổng cộng là 430.000.000 đồng bao gồm trả bà
H1 100.000.000 đồng; trả bà H2 200.000.000 đồng; trả bà D 60.000.000 đồng; trả bà
Nh 70.000.000 đồng. Đồng thời, ông Nguyễn Viết Th cùng với mẹ ruột là bà Nguyễn
Thị L viết giấy cam kết chậm nhất đến ngày 02/8/2024 sẽ trả dứt điểm số nợ còn lại.
Đến thời hạn trả nợ theo cam kết nhưng ông Th, bà Liễu không thực hiện nghĩa vụ trả
nợ như cam kết. Vì vậy, các nguyên đơn khởi kiện đến Toà án yêu cầu Toà án giải
quyết buộc ông Nguyễn Viết Th và bà Nguyễn Thị L phải trả số tiền còn nợ bao gồm:
Trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ H1 số tiền 117.100.000 đồng
Trả cho bà Phạm Thị Ngọc H2 số tiền 398.000.000 đồng
Trả cho bà Trần Thuý D số tiền 222.560.000 đồng
Trả cho bà Nguyễn Thị Quỳnh Nh số tiền 172.060.000 đồng.
Tại phiên toà, bà H1, bà H2 khai nhận vào tháng 1/2025, ông Th có trả cho mỗi
bà số tiền 20.000.000 đồng. Vì vậy, bà H1 yêu cầu Toà án buộc ông Th, bà Liễu phải
trả số tiền còn nợ là 97.100.000 đồng; bà H2 yêu cầu Toà án buộc ông Th, bà Liễu phải
trả số tiền còn nợ là 378.000.000 đồng.
Tại bản tự khai ngày 14/3/2025 bị đơn bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà là mẹ của
Nguyễn Viết Th, khoảng tháng 8 năm 2023 có nhiều người lạ mặt liên tục đến nhà bà
yêu cầu gặp Th để đòi nợ, khiến cho cuộc sống gia đình luôn bất an và lo lắng. Từ
khoảng tháng 8 năm 2023 đến tháng 9 năm 2023, bà đã vay mượn và lấy tiền tiết kiệm
của bản thân để trả nợ cho Th với số tiền 800.000.000 đồng. Tháng 11/2023, Cơ quan
Công an yêu cầu đến làm việc và bà được biết ông Th còn nợ số tiền 1.410.740.000
đồng. Vì lo lắng cho con nên đến ngày 02/02/2024 bà tiếp tục vay mượn để trả cho các
bà Nguyễn Thị Mỹ H1, Phạm Thị Ngọc H2, Trần Thuý D, Nguyễn Thị Quỳnh Nh số
tiền 430.000.000 đồng và đồng thời có ký vào giấy tự nguyện thoả thuận và giấy cam
kết trả nợ đề ngày 02/02/2024. Tuy nhiên, bà chỉ hứa hẹn với những người này là sẽ trả
nợ trong điều kiện, khả năng của bà chứ bà tuổi già, không có nhiều tiền và họ đồng ý
nên bà ký vào giấy này. Từ sau khi ký giấy, bà L cũng đã cố gắng gom góp để có tiền
trả nợ nhưng với khả năng của bản thân thì không thể trả thêm bất cứ khoản nợ nào
khác. Khoản nợ này vốn do anh Nguyễn Viết Th giao dịch buôn bán với các bà Nguyễn
3
Thị Mỹ H1, Phạm Thị Ngọc H2, Trần Thuý D, Nguyễn Thị Quỳnh Nh chứ hoàn toàn
không liên quan đến bà.
Nay các bà Nguyễn Thị Mỹ H1, Phạm Thị Ngọc H2, Trần Thuý D, Nguyễn Thị
Quỳnh Nh khởi kiện đến Toà án yêu cầu trả nợ thì bà Nguyễn Thị L đề nghị toà án xem
xét loại trừ trách nhiệm trả nợ của bà đối với toàn bộ khoản nợ nêu trên.
Bị đơn ông Nguyễn Viết Th mặc dù đã được Toà án Tống đạt Thông báo thụ lý vụ
án; thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ, hoà giải
Nhng vẫn không đến Toà án và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn để Toà án xem xét giải quyết. Toà án đã quyết định đưa vụ
án ra xét xử nhưng bị đơn vẫn vắng mặt đến lần thứ hai dù đã được triệu tập hợp lệ theo
quy định pháp luật.
Đại diện VKS tham gia phiên tòa có ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán đã thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền; xác định tư
cách tham gia tố tụng đúng và đầy đủ. Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán,
Thư ký được phân công đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố
tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã giải thích rõ quyền và nghĩa vụ của đương sự.
Nguyên đơn khi tham gia giải quyết vụ án đã chấp hành đúng các quy định của pháp
luật về tố tụng. Bị đơn, vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà nên Hội đồng xét xử căn cứ
Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung giải quyết: Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự; các tài liệu,
chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có cơ sở để xác định ông Nguyễn Viết Th có quan hệ
mua bán hàng hoá với bà Nguyễn Thị Mỹ H1, bà Phạm Thị Ngọc H2, bà Trần Thuý D,
bà Nguyễn Thị Quỳnh Nh và nợ số tiền Nh nguyên đơn khởi kiện và trình bày tại phiên
toà. Ngày 02/02/2024, ông Th, bà Liễu đã có văn bản tự nguyện thoả thuận và giấy cam
kết trả nợ cho nguyên đơn. Nh vậy, nghĩa vụ trả nợ không những ông Th phải thực hiện
mà bà Liễu cũng phải thực hiện. Do đó, cần buộc bị đơn ông Th, bà L phải có nghĩa vụ
trả nợ cho nguyên đơn.
Vì vậy, kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 116,
117, 118, 119, 274, 275, 276 của Bộ luật Dân sự năm 2015, xử chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ
H1 số tiền 97.100.000 đồng; Trả cho bà Phạm Thị Ngọc H2 số tiền 378.000.000 đồng;
Trả cho bà Trần Thuý D số tiền 222.560.000 đồng; Trả cho bà Nguyễn Thị Quỳnh Nh
số tiền 172.060.000 đồng.
Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên
đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán nợ
theo cam kết, thoả thuận. Bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh
4
Quảng Nam nên vụ án có quan hệ pháp luật là “Tranh chấp nghĩa vụ dân sự” và thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam theo
quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm
2015.
[1.2] Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Viết Th, bà Nguyễn Thị L Nhng
đây là lần triệu tập thứ hai. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố
tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[1.3] Tại phiên tòa, nguyên đơn bà H1, bà H2 thay đổi một phần yêu cầu khởi
kiện về giảm số tiền yêu cầu trả nợ so với đơn khởi kiện ban đầu. Hội đồng xét xử nhận
định việc thay đổi yêu cầu khởi kiện này là tự nguyện và phù hợp với quy định tại Điều
244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi giảm yêu cầu
trả nợ so với yêu cầu khởi kiện theo đơn khởi ban đầu.
[2] Nội dung tranh chấp: Bà Nguyễn Thị Mỹ H1, bà Phạm Thị Ngọc H2, bà
Trần Thuý D, bà Nguyễn Thị Quỳnh Nh có quan hệ mua bán hàng hoá với ông Nguyễn
Viết Th là con của bà Nguyễn Thị L. Trong quá trình giao dịch mua bán ông Th nợ tiền
các bà H1, H2, D, Nh mà không trả nợ nên các bà làm đơn tố cáo đến Cơ quan công an.
Tại cơ quan Công an, ông Nguyễn Viết Th thừa nhận việc mình nợ tiền các bà H1, H2,
D, Nh và cam kết trả nợ trong thời hạn từ 03 đến 06 tháng kể từ ngày 02/02/2024 với
sự tham gia ký kết, thoả thuận của bà Nguyễn Thị L. Ngày 04/3/2024 Cơ quan cảnh sát
điều tra đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự với lý do Nguyễn Viết Th nợ tiền
là giao dịch dân sự, không có sự việc phạm tội. Tính đến thời điểm hiện tại đã quá thời
hạn cam kết trả nợ mà bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi
kiện đến Toà án yêu cầu buộc ông Nguyễn Viết Th, bà Nguyễn Thị L phải thực hiện
nghĩa vụ trả nợ. Cụ thể là trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ H1 số tiền 97.100.000 đồng; trả
cho bà Phạm Thị Ngọc H2 số tiền 378.000.000 đồng; trả cho bà Trần Thuý D số tiền
222.560.000 đồng; trả cho bà Nguyễn Thị Quỳnh Nh số tiền 172.060.000 đồng. Bị đơn
bà Nguyễn Thị L cho rằng vì thương con nên có ký các giấy thoả thuận, cam kết trả nợ
chứ bà không quen biết, không giao dịch làm ăn với các nguyên đơn nên đề nghị Toà
án xem xét loại trừ trách nhiệm trả nợ cho bà.
[3] Hội đồng xét xử nhận định: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn
cung cấp “Giấy tự nguyện thoả thuận”; Giấy cam kết”; “Thông báo kết quả giải quyết
nguồn tin tội phạm”; Thông báo về việc không khởi tố vụ án hình sự”, có căn cứ xác
định ông Nguyễn Viết Th có quan hệ mua bán hàng hoá với bà Nguyễn Thị Mỹ H1, bà
Phạm Thị Ngọc H2, bà Trần Thuý D, bà Nguyễn Thị Quỳnh Nh và nợ tiền chưa trả.
Ngày 02/02/2024, ông Nguyễn Viết Th cùng với mẹ là bà Nguyễn Thị L tự nguyện lập
giấy thoả thuận, giấy cam kết trả nợ với các bà H1, H2, D, Nh và xác nhận số tiền nợ
theo đúng như trình bày của các nguyên đơn. Xét rằng, việc lập giấy thoả thuận; giấy
cam kết trả nợ là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên ông Th, bà
L phải có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn theo đúng nội dung thoả thuận, cam kết là
phù hợp với quy định tại các Điều 274, 275, 280 Bộ luật Dân sự.
[3] Xét ý kiến của bà Nguyễn Thị L cho rằng vì thương con nên có ký các giấy
thoả thuận, cam kết trả nợ chứ bà không quen biết, không giao dịch làm ăn với các
nguyên đơn nên đề nghị Toà án xem xét loại trừ trách nhiệm trả nợ cho bà. Hội đồng
5
xét xử nhận định: Quan hệ mua bán hàng hoá giữa ông Th và các bà H1, H2, D, Nh khi
xác lập, thực hiện thì ông Th là người có đầy đủ năng lực hành vi Dân sự nên ông Th
phải chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, do ông Th không thực hiện nghĩa vụ nên nguyên đơn
tố cáo đến Cơ quan chức năng có thẩm quyền thì ông Nguyễn Viết Th và bà Nguyễn
Thị L tự nguyện lập văn bản thoả thuận, cam kết trả nợ. Như vậy, kể từ thời điểm các
văn bản thoả thuận, cam kết trả nợ được lập ngày 02/02/2024 thì trách nhiệm thực hiện
nghĩa vụ của ông Nguyễn Viết Th đã được chuyển giao một phần cho bà Nguyễn Thị L
theo quy định tại Điều 370 Bộ luật dân sự.
[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận định có căn cứ để chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn; buộc bị đơn ông Nguyễn Viết Th, bà
Nguyễn Thị L phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho bà Nguyễn Thị Mỹ H1 số tiền
97.100.000 đồng; trả cho bà Phạm Thị Ngọc H2 số tiền 378.000.000 đồng; trả cho bà
Trần Thuý D số tiền 222.560.000 đồng; trả cho bà Nguyễn Thị Quỳnh Nh số tiền
172.060.000 đồng.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 26, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử nhận định: Do
yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn ông Nguyễn
Viết Th, bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên tổng số tiền mà Tòa án
tuyên buộc phải trả cho các nguyên đơn tương ứng với số tiền án phí là 38.091.600
đồng {36.000.000 đồng + 3% (69.720.000 đồng)}.
Các nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn lại số tiền
tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147; khoản 1 Điều 227;
Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 116, Điều 117, Điều 274, Điều 275,
Điều 280; Điều 288; Điều 370 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26, Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ
H1, bà Phạm Thị Ngọc H2, bà Trần Thuý D, bà Nguyễn Thị Quỳnh Nh đối với bị đơn
ông Nguyễn Viết Th, bà Nguyễn Thị L.
2. Buộc bị đơn ông Nguyễn Viết Th, bà Nguyễn Thị L phải có nghĩa vụ liên đới
trả nợ cho bà Nguyễn Thị Mỹ H1 số tiền 97.100.000 đồng (Chín mươi bảy triệu, một
trăm nghìn đồng); trả cho bà Phạm Thị Ngọc H2 số tiền 378.000.000 đồng (Ba trăm
bảy mươi tám triệu đồng); trả cho bà Trần Thuý D số tiền 222.560.000 đồng (Hai trăm
hai mươi hai triệu, năm trăm sáu mươi nghìn đồng); trả cho bà Nguyễn Thị Quỳnh Nh
số tiền 172.060.000 đồng (Một trăm bảy mươi hai triệu, không trăm sáu chục nghìn
đồng). Chia phần cho ông Nguyễn Viết Th, bà Nguyễn Thị L mỗi người phải chịu một
nửa nghĩa vụ trả nợ nêu trên đối với các bà Nguyễn Thị Mỹ H1, Phạm Thị Ngọc H2,

6
Trần Thuý D, bà Nguyễn Thị Quỳnh Nh.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí Dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Nguyễn Viết Th, bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số
tiền là 38.091.600 đồng (Ba mươi tám triệu, không trăm chín mươi mốt nghìn, sáu trăm
đồng).
Các nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H1, bà Phạm Thị Ngọc H2, bà Trần Thuý D,
bà Nguyễn Thị Quỳnh Nh không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ H1 số tiền tạm ứng án phí 2.927.500 đồng (Hai
triệu, chín trăm hai mươi bảy nghìn, năm trăm đồng) theo biên lai thu số 0001805 ngày
17/02/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự Th phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Hoàn trả cho bà Phạm Thị Ngọc H2 số tiền tạm ứng án phí 9.950.000 đồng (Chín
triệu, chín trăm năm chục nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001806 ngày 17/02/2025
của Chi cục Thi hành án Dân sự Th phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Hoàn trả cho bà Trần Thuý D số tiền tạm ứng án phí 5.564.000 đồng (Năm triệu,
năm trăm sáu mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001807 ngày 17/02/2025 của
Chi cục Thi hành án Dân sự Th phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Quỳnh Nh số tiền tạm ứng án phí 4.301.500 đồng
(Bốn triệu, ba trăm lẻ một nghìn năm trăm đồng) theo biên lai thu số 0001808 ngày
17/02/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự Th phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
4. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H1, bà Phạm Thị Ngọc H2, bà Trần Thuý D, bà
Nguyễn Thị Quỳnh Nh có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (05/6/2025).
Bị đơn ông Nguyễn Viết Th, bà Nguyễn Thị L vắng mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc
bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành
án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND tỉnh Quảng Nam Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Quảng Nam
- VKSND TP Tam Kỳ
- Các đương sự (Đã ký)
- Thi hành án.
- Lưu hồ sơ vụ án; án văn
Nguyễn Công Bá
7
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 02/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 30/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 29/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm