Bản án số 857/2024/DS-PT ngày 25/09/2024 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 857/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 857/2024/DS-PT ngày 25/09/2024 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 857/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/09/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Đồng, về việc đề nghị hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 857/2024/DS-PT
Ngày: 25 - 9 - 2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ánh
Các Thẩm phán:
1. Bà Phạm Hồng Loan
2. Bà Phạm Thị Thảo
- Thư phiên tòa: Đinh Vũ Xuân Hương Thư Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 18/9/2024 và 25/9/2024, tại Phòng xử án dân sự Tòa án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai
vụ án dân sự thụ số
155/2024/TLPT-DS ngày 02/02/2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản”.
Do Bản án dân sự thẩm số 591/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án
nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4466/2024/QĐ-PT ngày
07/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 12977/2024/QĐ-PT ngày
28/8/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty TNHH X
Trụ sở: Số C, Tổ A, khu giãn dân M, phường M, quận H, thành phố
Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Hồ Thị Mặc C, sinh năm 1997; Địa chỉ:
Số A N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền ngày
03/4/2023), (có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1976 (có mặt).
Địa chỉ: Số A T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quốc Đ1, sinh năm 1992; Địa chỉ:
4 Lô B, chung T, B L, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ
2
Chí Minh (Giấy ủy quyền lập ngày 06/11/2023 tại Văn phòng công chứng C1,
Thành phố Hồ Chí Minh, số A, quyển số 02), (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Văn K
Công ty L, Đoàn Luật sư thành phố H, (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Thị H, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Số A T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).
4. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Đ (bị đơn).
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Theo đơn khởi kiện ngày 01/3/2021, đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi
kiện ngày 01/11/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Công ty
TNHH X (có bà Hồ Thị Mặc C đại diện) trình bày:
Ngày 28/01/2021, Công ty TNHH X (sau đây viết tắt Công ty X) ông
Nguyễn Văn Đ thỏa thuận với nhau vviệc vay tiền, Công ty X là bên cho vay,
còn ông Đ là bên vay. Theo thỏa thuận, Công ty X cho ông Đ vay số tiền
16.500.000.000 đồng, lãi suất 1,6%/tháng, thời hạn vay 01 tháng. Thực hiện
thỏa thuận, Công ty X đã giao đủ số tiền cho ông Đ, đồng thời ông Đ có ký Giấy
xác nhận vay tiền ngày 28/01/2021 cho Công ty X
Trong thời gian vay tiền, Công ty X yêu cầu ông Đ thực hiện việc trả lãi
theo thỏa thuận, nhưng ông Đ không thực hiện. Do bận làm ăn nên Công ty X
không liên hệ ông Đ để yêu cầu trả nợ. Đến tháng 02 năm 2021, Công ty X liên
lạc với ông Đ để yêu cầu trả nợ nhưng không liên lạc được.
Nay, Công ty X khởi kiện yêu cầu ông Đ trả số tiền gốc 16.500.000.000
đồn và tiền lãi như sau:
- Tiền lãi từ ngày 28/01/2021 đến ngày 28/02/2021 264.000.000 đ6òng
(lãi suất 1.6%/tháng);
- Tiền lãi từ ngày 01/3/2021 đến ngày 28/02/2023 9.900.000.000 đồng
(lãi suất 30%/năm).
- Tiền lãi từ ngày 01/3/2023 đến tháng 7/2023 2.062.500.000 đồng (lãi
suất 30%/năm).
Tổng số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 01/3/2023 28.726.500.000
đồng. Trả một lần ngay khi bản án hiệu lực pháp luật. Yêu cầu ông Đồng
thanh toán toàn bộ án phí theo quy định pháp luật. Công ty X yêu cầu một mình
ông Đ trả nợ gốc, lãi; Không yêu cầu Nguyễn Thị H vợ của ông Đ liên đới
trả nợ.
Tại phiên tòa thẩm: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ gốc
16.500.000.000 đồng tiền lãi, tổng cộng 28.726.500 đồng. Trả một lần
ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3
2. Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ (có ông Trần Quốc Đ1 đại diện) trình bày
như sau:
Ông Nguyễn Văn Đ không biết Công ty TNHH X công ty nào ông Đ
cũng không thực hiện bất kỳ giao dịch nào với công ty này, nên hoàn toàn không
khoản nợ như nguyên đơn yêu cầu. Ông Đ hoàn toàn không đồng ý với yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của
nguyên đơn.
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H bản tự
khai trình bày: vợ của ông Nguyễn Văn Đ, đối với tranh chấp trong vụ án
này là công việc riêng của chồng bà, bà hoàn toàn không biết và không can thiệp
vào, đề nghị Tòa án không đưa vào tham gia tố tụng trong vụ án này.
đơn xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết, xét xử vụ án.
Tại Bản án dân sthẩm số 591/2023/DS-ST ngày 27/9/2023, Tòa án
nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, đã tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH X.
Buộc ông Nguyễn Văn Đ nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH X
tổng số tiền 28.987.200.000 (hai mươi tám tỷ chín trăm tám mươi bảy triệu hai
trăm nghìn) đồng, trong đó tiền gốc 16.500.000.000 (mười sáu tnăm trăm
triệu) đồng tiền lãi tạm tính đến ngày 27/9/2023 là 12.487.200.000 (mười hai
tỷ bốn trăm tám mươi bảy triệu hai trăm nghìn) đồng.
Thời hạn thanh toán: Một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ phải chịu số tiền án phí dân sự thẩm
136.987.200 đồng.
Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí 6.600.000 đồng theo
Biên lai thu số 0071820 ngày 15/3/2021 số tiền 57.168.000 đồng theo Biên
lai thu số 0036010 ngày 28/7/2022 của Chi cục Thi hành án quận Tân Phú.
Ngoài ra, Bản án dân sự thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của đương
sự và các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
- Ngày 30/10/2023, Tòa án nhận được đơn kháng cáo đề ngày 28/10/2023
của ông Nguyễn Văn Đ (bị đơn), kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp
phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì ông không ký
bất kỳ giấy tờ vay nợ nào với Công ty TNHH X.
4
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 25/4/2024: Nguyên đơn không rút đơn
khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận
được với nhau về việc giải quyết vụ án.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Ông không tên vào “Giấy xác
nhận vay tiền” lập ngày 28/01/2021 với ng ty TNHH X. Ông không biết
ng ty X là công ty nào, ông cũng không vay nợ của Công ty X Vì vậy, ông đ
nghị Hội đồng xét xử trưng cầu Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ
Chí Minh giám định chký, chứ viết và dấu vân tay của ông trong “Giấy xác
nhận vay tiền” lập ngày 28/01/2021. Các mẫu so sánh, đề nghị Tòa án thu thập
tại quan Công an khi ông m chứng minh nhân dân căn cước công dân.
Ông sẽ nộp tạm ứng chi phí giám định.
* Ông Trần Quốc Đ1 đại diện bị đơn, thống nhất với ý kiến của bị đơn.
* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Hồ Thị Mặc C
đơn xin vắng mặt.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 18/9/2024: Nguyên đơn không rút đơn
khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận
được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp bsung tài liệu, chứng
cứ mới và không yêu cầu triệu tập thêm người tham gia tố tụng.
* Nguyên đơn Công ty TNHH X (ủy quyền cho Hồ Thị Mặc C đại diện),
văn bản trình bày: Nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị
đơn, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án thẩm. Hồ Thị Mặc C
đơn xin vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn - Luật sư Nguyễn Văn
K trình bày: Bị đơn kháng cáo yêu cầu Hội đồng xét xhủy bản án dân sự
thẩm, bởi các lý do sau đây:
- Cấp thẩm giải quyết vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Tại
đơn khởi kiện đơn khởi kiện bổ sung, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền nợ
gốc là 16.500.000.000 đồng và tiền lãi, tổng cộng 19.536.000.000 đồng,
nhưng bản án thẩm buộc bị đơn trả nợ gốc nợ lãi tổng cộng
28.987.200.000 đồng;
- Chứng cứ nguyên đơn đưa ra không đáp ứng nội dung yêu cầu khởi
kiện. Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn cho rằng bị đơn vay của nguyên đơn số tiền
16.500.000.000 đồng. Ngoài giấy xác nhận vay tiền, nguyên đơn không trình
bày về việc giao nhận tiền đâu, mệnh giá nào. Số tiền vay quá lớn, nên giấy
xác nhận vay tiền này không đáp ứng yêu cầu khởi kiện.
* Ông Nguyễn Văn Đ (bđơn) trình bày: Ông vẫn ủy quyền cho ông Trần
Quốc Đ1 đại diện, nhưng ông muốn tự mình trình bày tại phiên tòa, nội dung
nào ông không trả lời được thì người đại diện của ông sẽ trả lời. Ông đồng ý với
lời trình bày của Luật sư Nguyễn Văn K.
Ông không biết nguyên đơn ai, không vay tiền của nguyên đơn. Ông đã
vỡ nợ từ năm 2019, đã đưa vợ con đi nơi khác sinh sống, nhưng ông không đăng
5
tạm trú tại nơi mới nên không thể cung cấp sổ tạm trú cho Tòa án. Thời
điểm năm 2021, ông cũng không đi nước ngoài nên không chứng cứ về
việc đi khỏi nơi cư trú để cung cấp.
Ông không ý kiến đối với các kết luận giám định về “Giấy xác nhận
vay tiền” ngày 28/01/2021. Thời điểm trước, ông khống nhiều tờ giấy
trắng tại quan công chứng và giao cho người đại diện theo ủy quyền của ông
thay ông thực hiện các thủ tục pháp liên quan, nên ông không biết “Giấy xác
nhận vay tiền” ngày 28/01/2021 do ai làm ra. Ông yêu cầu hủy bản án sơ thẩm.
* Ông Trần Văn Đ2 người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Bị đơn đã tự trình bày, nên ông không bổ sung thêm. Lời khai của bị đơn về việc
ký khống vào giấy trắng đưa cho ông tại các cơ quan công chứng, là không đúng
sự thật. Ông sẽ tố cáo bị đơn về tội vu khống người khác.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý
kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án giai đoạn
phúc thẩm như sau: Thẩm phán, Thư Hội đồng xét xử thực hiện đúng các
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng pháp luật.
Kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Đ thực hiện trong thời hạn luật định,
hợp lệ nên chấp nhận.
Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu, chứng cứ tại hồ vụ án
căn cứ vào các quy định của pháp luật, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị
đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hvụ án được thẩm
tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, phát biểu và đề nghị của đại diện
Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng.
[1.1] Về thời hạn kháng cáo.
Ngày 27/9/2023, Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh
đưa vụ án ra xét xử và tuyên Bản án dân sự thẩm số 591/2023/DS-ST, bị đơn
vắng mặt tại phiên tòa. Ngày 16/10/2023, Tòa án tống đạt bản án sơ thẩm cho bị
đơn (có ông Trần Quốc Đ1 đại diện nhận). Ngày 30/10/2023, Tòa án nhận được
đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ (bị đơn). Đơn kháng cáo của bị đơn nộp
trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hợp lệ
nên chấp nhận.
[1.2] Sự có mặt, vắng mặt của đương sự.
Hồ Thị Mặc C (người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn) đơn
xin vắng mặt; Nguyễn Thị H (người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) đã
được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do, không
6
đơn xin vắng mặt. vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy
định tại đoạn 3 khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Việc cung cấp, thu thập bổ sung chứng cứ tại cấp phúc thẩm.
Tại cấp phúc thẩm, theo yêu cầu của bị đơn, Tòa án ban hành Quyết định
trưng cầu giám định số 10127/2024/QĐ-TCGĐ ngày 08/7/2024, trưng cầu Phân
viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh giám định chký, chữ viết
dấu vân tay của ông Nguyễn Văn Đ trong Giấy xác nhận vay tiền” lập ngày
28/01/2021.
Ngày 06/8/2024, Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh
đã gửi các Kết luận giám định số 4394/KL-KTHS số 4394/1/KL-KTHS cho
Tòa án. Hội đồng xét xử đã công bố các tài liệu, chứng cứ nói trên tại phiên tòa.
[1.4] Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn Đ (bị đơn) trình bày: Do ông Luật
Trần Hoàng V không thống nhất quan điểm, nên Luật đã từ chối bảo vệ
quyền lợi cho ông tại phiên tòa. Ông đã mời Luật sư Nguyễn Văn K. Để Luật sư
thời gian làm thủ tục, sao chụp nghiên cứu hồ nhằm bảo vệ tốt nhất
quyền và lợi ích hợp pháp của ông, nên ông yêu cầu hoãn phiên tòa.
Xét, vụ án thụ lý từ ngày 02/02/2024 và đã qua 02 lần xét xử. Tại cấp phúc
thẩm, bị đơn đã mời Luật Trần Hoàng V bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp.
Luật Trần Hoàng V đã làm thtục theo quy định, đã được sao chụp hồ vụ
án. Khi ông Nguyễn Văn Đ thay đổi người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp,
Luật Nguyễn Văn K cũng đã làm thủ tục bảo vệ đã được sao chụp hồ
vụ án. Căn cứ Điều 269 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xkhông
chấp nhận yêu cầu hoãn phiên tòa của bị đơn.
[2] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ (bị đơn) trình bày của người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, về việc yêu cầu hủy bản án dân sự
sơ thẩm, nhận thấy:
[2.1] Phía bđơn cho rằng, cấp thẩm giải quyết vượt quá phạm vi yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn, là không có căn cứ, bởi lẽ:
Tại Đơn khởi kiện ngày 03/3/2021 Đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi
kiện ngày 01/11/2021, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ gốc 16.500.000.000
đồng tiền lãi tạm tính đến ngày 31/10/2021, tổng cộng 19.536.000.000
đồng. Tại biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng
cứ hòa giải ngày 04/8/2023, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ gốc
16.500.000.000 đồng tiền lãi tạm tính đến tháng 7 năm 2023, tổng cộng
28.726.500.000 đồng. Tại phiên tòa thẩm, người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn và bị đơn có đơn xin vắng mặt.
Theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 6 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-
HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,
hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm,
thì: Thời gian chậm trả tiền lãi trên ngốc chưa trả bắt đầu kể tngày tiếp
theo liền kề của ngày phải trả lãi trên nợ gốc đến thời điểm xét xử thẩm, trừ
7
trường hợp các bên thỏa thuận khác”. Ngoài Giấy xác nhận vay tiền ngày
28/01/2021, hai bên không cung cấp chứng cứ nào khác về thỏa thuận tiền lãi và
thời gian trả lãi, nên cấp thẩm tính thời gian bị đơn phải trả lãi cho nguyên
đơn đến ngày xét xthẩm (27/9/2023), không vượt qphạm vi yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
[2.2] Căn cứ “Giấy xác nhận vay tiền” do ông Nguyễn Văn Đ lập ngày
28/01/2021, nội dung: Công ty TNHH X cho ông Phạm Văn Đ3 vay số tiền
16.500.000.000 đồng, thời hạn vay 01 tháng (từ ngày 28/01/2021 đến ngày
27/02/2021), phương thức vay bằng tiền mặt, lãi suất 1.6%/tháng. Kể từ thời
điểm ông Nguyễn Văn Đ tên vào văn bản này, ông Đ xác nhận là đã nhận đủ
số tiền do ông Nguyễn Văn T Giám đốc Công ty TNHH X chuyển giao. Ông Đ
cam kết số tiền trên nhân ông vay để hoạt động kinh doanh, không liên
quan đến vợ ông Nguyễn Thị H. Ông Đ cam kết sẽ trả lãi nợ đúng hạn
theo thỏa thuận. Phía dưới giấy xác nhận vay tiền có dấu vân tay, chữ ký và chữ
viết tên Nguyễn Văn Đ.
Quá trình giải quyết vụ án từ giai đoạn thẩm đến phiên tòa phúc thẩm
ngày 25/4/2024, ông Nguyễn Văn Đ cho rằng chữ ký, chữ viết dấu vân tay
trong “Giấy xác nhận vay tiền” ngày 28/01/2021, không phải của ông. Sau khi
các Kết luận giám định số 4394/KL-KTHS số 4394/1/KL-KTHS cùng
ngày 06/8/2024 của Phân viện Khoa học hình stại Thành phố Hồ Chí Minh,
xác định chký, chữ viết dấu vân tay trong Giấy xác nhận vay tiềnngày
28/01/2021, là của ông Nguyễn Văn Đ, thì ông Đ lại thay đổi lời khai.
Tại phiên tòa ngày 18/9/2024, ông Nguyễn Văn Đ không ý kiến đối
với các kết luận giám định, đồng thời cho rằng ông có ký khống vào các tờ giấy
trắng giao cho người đại diện theo ủy quyền thay ông thực hiện các thủ tục pháp
liên quan, nên ông không biết “Giấy xác nhận vay tiền” ngày 28/01/2021 do
ai làm ra. Tuy nhiên, ông Đ không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời
khai nói trên, cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh mối liên hệ giữa
những tgiấy trắng ông đã khống (như ông đã khai) với phía nguyên
đơn. Hơn nữa, ông Trần Quốc Đ1 người đại diện theo ủy quyền của bị đơn
trong vụ án, ông Đ1 mặt tại phiên tòa cho rằng lời khai của ông Nguyễn
Văn Đ về việc ông Đ ký khống vào tờ giấy trắng đưa cho ông Đ1, là không đúng
sự thật và vu khống đối với ông Đ1. Như vậy, ông Nguyễn Văn Đ đã không nhất
quán, không trung thực trong chính lời khai của mình.
[2.3] Về phía nguyên đơn.
Nguyên đơn là một pháp nhân, cho bị đơn vay số tiền 16.500.000.000
đồng, nên việc chi tiền phải phiếu chi hoặc y nhiệm chi. Mặt khác, căn cứ
Nghị định số 101/2012/CP ngày 22/11/2012, Nghị định số 80/2016/CP ngày
01/7/2016 và Nghị định số 16/2019/CP ngày 01/02/2019 của Chính phủ, thì việc
Công ty cho vay số tiền lớn bắt buộc phải chuyển khoản, không được giao bằng
tiền mặt.
8
Hơn nữa, căn cứ Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 và
Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ T1, thì trong quá trình
hoạt động, công ty phải thực hiện thủ tục báo cáo thuế. Nhưng hồ sơ vụ án chưa
xác định được nguyên đơn đã báo cáo thuế như thế nào? Nguồn tiền vào, ra
công ty thực hiện ra sao? khi quyết định những vấn đề liên quan đến tài sản
của công ty với số tiền lớn, phải có báo cáo tài chính thu, chi của công ty.
Ngoài ra, tại Giấy xác nhận vay tiền không thể hiện địa chỉ cụ thể, chỉ ghi
tại đường T, phường T, quận T. Như vậy, không hai bên giao nhận số tiền
16.500.000.000 đồng tại địa chỉ cụ thể hay giao nhận ngoài đường. Mặt khác,
theo Giấy xác nhận vay tiền thể hiện ông Nguyễn Văn T - Giám đốc Công ty X
là người giao tiền, vậy cần phải làm rõ ông T có mặt tại Thành phố Hồ Chí Minh
tại thời điểm giao tiền hay không? Ông T đem tiền mặt vào Thành phố Hồ Chí
Minh bằng cách nào? Khi giao tiền cho bị đơn, nguyên đơn giao loại tiền
(mệnh giá)?
Những vấn đnói trên, tại cấp thẩm chưa được đối chất m rõ. Tuy
nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn không mặt, nên Hội đồng xét xử
phúc thẩm cũng không thể làm được những mâu thuẫn này. vậy, cần chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và giao hồ sơ về
cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm để làm rõ các nội dung nói
trên.
[3] Chi phí tố tụng án phí dân sự thẩm sẽ được xem xét khi vụ án
được giải quyết lại theo trình tự thủ tục sơ thẩm.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm.
Ông Nguyễn Văn Đ không phải nộp. Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn Đ số
tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số
AA/2023/0000165 ngày 06/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân
Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh,
phát biểu đề nghị Hội đồng xét xkhông chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
ông Nguyễn Văn Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm, là không có căn cứ như đã phân
tích nói trên, nên không chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 308 khoản 1 Điều 310 của Bộ luật Tố tụng
dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
9
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Đ, về việc đề
nghị hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.
2. Hủy toàn bộ Bản án dân sự thẩm s591/2023/DS-ST ngày 27/9/2023
của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Giao hồ vụ án
về Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết lại
theo thủ tục sơ thẩm.
3. Chi phí tố tụng và án phí dân sự thẩm sẽ xem xét khi vụ án được giải
quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn Đ không phải nộp. Hoàn trả
cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng
theo Biên lai thu số AA/2023/0000165 ngày 06/11/2023 của Chi cục Thi hành
án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Các đương sự thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hp bn án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lut
Thi hành án dân s năm 2008 (sửa đổi, b sung năm 2014) thì người được thi
hành án dân sự, người phi thi hành án dân s quyn tha thun thi hành án,
quyn yêu cu thi hành án, t nguyn thi hành án hoc b ng chế thi hành án
theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Điều 9 ca Lut Thi
hành án dân s năm 2008 (sửa đi, b sung năm 2014); thi hiu thi hành án
đưc thc hiện theo quy định tại Điều 30 ca Lut Thi hành án dân s năm 2008
(sửa đổi, b sung năm 2014).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trịnh Thị Ánh
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
10
Tải về
Bản án số 857/2024/DS-PT Bản án số 857/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 857/2024/DS-PT Bản án số 857/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất