Bản án số 83/2026/HS-ST ngày 10/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 83/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 83/2026/HS-ST ngày 10/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 83/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/02/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Vào khoảng 11 giờ 10 phút, ngày 16 tháng 7 năm 2025, Võ Thị Thanh H lợi dụng sơ hở không có người trông coi, quản lý đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, dung lượng 256GB của chị Lê Thị Thùy T tại quầy trưng bày lầu 3 siêu thị Nhất H, số 61A T, phường N, Thành phố Hồ Chí Minh, có trị giá 8.480.000 đồng theo Kết luận định giá tài sản số 4304/KL-HĐĐGTS ngày 29/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự cấp Thành phố.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lp - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 83/2026/HS-ST
Ngày: 10/02/2026
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chtoạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Huynh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Quý
2. Bà Trần Hoàng Hạnh
- Thư phiên tòa: Phùng Nguyễn Hồng PH Thư ký Tòa án nhân dân
khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 02 năm 2026 tại trsở Tòa án nhân n khu vực 1 - Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý
số 05/2026/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2026, theo quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 65/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2026 và thông báo số
11/2026/TB-TA ngày 04 tháng 02 năm 2026 về việc thay đổi thời gian phiên tòa
xét xử ván đối với bị cáo:
Th Thanh H, gii tính: Nữ; Sinh ngày 09 tng 6 năm 1988 ti
Thành ph Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường t: 176/2 đưng X, phường K,
Thành ph Hồ C Minh; Ch hiện tại: 84 TL 16, phưng A, Thành ph Hồ
Chí Minh; Quốc tịch: Vit Nam; Dân tc: Kinh; n giáo: Không; Trình đ văn
hóa: 09/12; Ngh nghiệp: Tạp vụ; Con ông Văn A ã chết) và bà i Th
Thanh Nã chết); Chng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp
dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khi nơi cư trú tny 14 tháng 10 năm
2025 cho đến nay. (Có mặt)
Bị hi: Ch Lê Thị Thùy T, sinh năm 2004; Địa ch: 79/8A8 Đ, phường
N, Thành ph HChí Minh. (Vắng mt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ ván diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 10 phút ngày 16 tháng 7 năm 2025, ThThanh H
điều khiến xe gắn máy nhãn hiệu SUZUKI Attila, biển số 62M4-2137 đến siêu thị
Nht H, số 61A T, phường N, Thành phố Hồ Chí Minh để mua đồ. Trong lúc la
chọn hàng hóa trên lầu 3 thì H phát hiện tại quầy trưng bày để 01 (một) điện
thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, dung lượng 256GB, của chị Lê Thị Thùy T. H
quan sát xung quanh không thấy ai nên đã lén lút lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi
áo khoác đang mặc, sau đó đi bộ xuống cầu thang rồi lấy xe ra về.
Trên đường về nhà, H dừng xe kiểm tra điện thoại vừa lấy trộm thì phát
hiện máy bị khóa mật khẩu màn hình. H ghé vào một cửa hàng sửa chữa đin
thoại (không nhớ rõ địa chỉ) để nhcài đặt lại cH trình, chi phí 100.000 đồng, sau
khi cài đặt xong, H tháo sim điện thoại của chị T cất giữ gắn sim điện thoại của
H vào đsử dụng. Khoảng 5 phút sau khi H rời khỏi hiện trường, chị T quay li
vị trí quầy hàng để lấy điện thoại thì phát hiện chiếc điện thoại đã bị mất nên đến
Công an phường N trình báo sự vic.
Qua trích xuất dữ liệu camera an ninh tại siêu thị, quan Công an xác
định hình ảnh một người phụ nữ đeo khẩu T, đội nón bảo hiểm màu xanh, mặc áo
khoác tối màu, đeo kính đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm điện thoại Thị
Thanh H. Quá trình làm việc, H khai nhận toàn bhành vi phạm tội của mình, lời
khai phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án.
Theo Kết luận định giá tài sản số 4304/KL-HĐĐGTS ngày 29/8/2025 ca
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự cấp Thành phố, 01 (một) điện thoại
di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, dung lượng 256GB, sản xuất năm 2020, đã qua
sử dụng tại thời điểm ngày 16 tháng 7 năm 2025 có giá trlà 8.480.000 đồng (Bút
lục số 46, 47).
Vật chứng vụ án gồm có:
- 01 (một) điện thoại hiệu Iphone 12 Pro, 256Gb, s Imei:
356403874056894, vật chứng trong vụ án, do H lấy trộm, đã làm trả lại
cho chị Lê Thị Thùy T.
- 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu SUZUKI ATTILA biển số 62M4-2137; Số
khung: RLGKA12FD008472; Smáy: VMVTSBD008472, đã qua sdụng, do
không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị can Võ Thị Thanh H;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A20 màu đen, đã qua
sử dụng tài sản nhân bcan, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả
lại cho bị can Võ Thị Thanh H.
- 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh 01 (một) áo khoác vải màu đen dài
tay, phần lưng có viền vải màu trắng đang được tạm giữ theo Lệnh nhập kho vật
chứng số: C7475/LNK-VPCQCSĐT ngày 27/10/2025 (hiện đang lưu kho chờ xử
lý).
Tại bản Cáo trạng số 166/CT-VKS-KV1 ngày 31/12/2025, Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 1 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Võ Thị Thanh H
về tội “Trộm cắp tài sn”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình s
năm 2015, được sửa đổi, bổ sung các năm 2017, năm 2025.
3
Về trách nhiệm dân sự: ChThị Thùy T đã nhận lại tài sản và không yêu
cầu gì thêm.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Võ Thị Thanh H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng vi
lời khai tại quan điều tra nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Không ý kiến
tranh luận, chđề nghHội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án
nhnhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Thành phố Hồ Chí Minh gi
quyền công tphát biểu lời luận tội như sau: Giữ nguyên quyết định truy tố đối
với bị cáo Võ Thị Thanh H; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173;
Điều 50; đim i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm
2015, được sửa đổi, bsung các năm 2017, năm 2025, xử phạt bị cáo Thị
Thanh H:
Từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng
cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng đến 02 (hai) năm.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh và 01 (một)
áo khoác vải màu đen dài tay, phần lưng viền vải màu trng trang phc bị
cáo mặc khi thực hiện hành vi vi phạm, không còn giá trị sử dụng nên đề nghtịch
thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: ChThị Thùy T đã nhận lại tài sản, không
yêu cầu gì về bồi thưng dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhn định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra, Điều tra viên, Viện
kiểm sát nhân khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình
điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của
Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo những người
tham gia tố tụng không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành ttụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tng
của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Đối với việc vắng mặt của bị hại: Đã được Tòa án triệu tập hợp lnhưng
vắng mặt không do; Trong quá trình điều tra, bị hại đã nhận lại tài sản bị
chiếm đoạt không yêu cầu bồi thường dân snên Hội đồng xét xquyết
định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bluật Tố tụng hình sự phù
hợp.
[3]. Qua xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, b cáo Thị Thanh H đã thừa
nhận toàn bhành vi vi phạm theo nội dung bản o trạng của Viện kiểm sát.
Lời khai nhận của bcáo p hợp với lời trình bày của bị hại tại quan điu
tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng c tài liệu, chứng cứ do
quan điều tra thu thập trong h vụ án, đã được tranh tụng làm , chứng
minh tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 11 gi
10 phút, ngày 16 tháng 7 năm 2025, ThThanh H lợi dụng hở không
người trông coi, quản đã hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di
động hiệu Iphone 12 Pro, dung ợng 256GB của chThị Thùy T tại quầy
trưng bày lầu 3 siêu thNht H, số 61A T, phường N, Thành phố Hồ Chí Minh,
trgiá 8.480.000 đồng theo Kết luận định giá i sản s4304/KL-HĐĐGTS
ngày 29/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong t tụng hình s cấp Thành
ph.
Như vậy đủ cơ skết luận Thị Thanh H đã phạm vào tội “Trộm cắp
tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bluật Hình snăm 2015, được
sửa đổi, bổ sung năm 2017 năm 2025. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân
khu vực 1 Thành phố Hồ Chí Minh truy t bịo về tội danh điều luật như
trên là căn cứ, đúng pháp lut.
[4]. Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho hội, xâm phạm trc
tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác đưc pháp luật bảo vệ, gây
ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn của hội. Bị cáo người đủ khnăng nhận
thức hành vi trên là vi phạm pháp luật nhưng đã cố ý vi phạm, lợi dụng sơ hở của
người quản tài sản nên bcáo nảy sinh lòng tham, đã lấy trộm tài sản với mục
đích tiêu xài nhân. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải mức án nghiêm khắc,
tương xứng để răn đe giáo dục đối với bị cáo đảm bảo công tác phòng ngừa
chung trong xã hội.
[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1]. Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự.
[5.2]. Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo nhân thân tt; thái độ thành khn
khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
tài sản bị chiếm đoạt đã đưc thu hồi trlại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ
hình phạt cho bị cáo theo quy định tại đim h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điu 51 Bộ
luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.
[6]. Từ khi áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay bị
cáo không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nào khác, nơi trú ràng
nên Hội đồng xét xxem xét bị cáo đủ điều kiện hưởng án treo theo ớng dẫn
của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân ti cao; việc áp dụng hình phạt nhưng
cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[7]. Về nh phạt bsung: Theo quy đnh tại khoản 5 Điu 173 ca Bộ
luật nh s thì ngoài hình phạt chính thì b o cònthbị nh pht b sung
là phạt tiền. Tuy nhiên, b cáo không có tài sản, thu nhp n địnhn Hội đng
t x không áp dng nh phạt bổ sung cho bcáo.
[8]. Về trách nhiệm dân s: Bhại Thị Thùy T đã nhận lại tài sản bị
chiếm đoạt, không có yêu cầu thêm về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không
xem xét.
5
[9]. Về xử vật chứng của vụ án:
[9.1]. Đối với 01 (một) điện thoại hiệu Iphone 12 Pro, 256Gb, sImei:
356403874056894, đã thu hồi trả cho chủ sở hữu là chị Lê Thị Thùy T, bị hại
đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt không có yêu cầu vbồi thường dân snên
Hội đồng xét xử không xem xét.
[9.2]. Đối với 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu SUZUKI ATTILA biển số
62M4-2137; Skhung: RLGKA12FD008472; Smáy: VMVTSBD008472, đã
qua sử dụng, không liên quan đến hành vi phạm tội đã hoàn trlại cho bị cáo
H nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9.3]. Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A20 màu
đen, đã qua sử dụng, không liên quan đến hành vi phạm tội và đã hoàn trlại cho
bị cáo H nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9.4]. Đối với 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh 01 (một) áo khoác vải
màu đen dài tay, phần lưng có viền vải màu trắng là trang phục bị cáo H mặc khi
thực hiện hành vi trộm cắp, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
[10]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điu 173; Điều 50; điểm h, i, s khoản 1 khoản 2 Điu
51 Điều 65 Bộ lut Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017
năm 2025.
Xử phạt bị cáo Thị Thanh H 09 (chín) tháng vtội “Trộm cắp tài
sản”, nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án
thẩm 10 tháng 02 năm 2026.
Giao bị cáo Võ Thị Thanh H cho Ủy ban nhân dân phường An Phú Đông,
Thành phố Hồ Chí Minh trách nhiệm giám sát, giáo dục trong thời gian th
thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa pH nơi cư trú
trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian ththách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm
nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có
thquyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng
án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi trú thì thực hiện
theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
2. Căn cđiểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh 01 (một) áo khoác
vải màu đen dài tay, phần lưng có viền vải màu trắng.
(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số C7475/LNK-VPCQCSĐT ngày
27/10/2025 Quyết định chuyển vật chứng số 137/QĐ-VKSKV1 ngày
05/01/2026)
3. Căn cứ Luật Phí lệ phí; Nghquyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Thị Thanh H phải chịu án phí hình sthẩm 200.000 (hai
trăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sthì người được thi hành án dân s, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị ng chế thi hành án theo qui đnh tại c Điều 6,7 9
Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đưc thực hiện theo quy định ti
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Căn cứ Điều 331 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được
sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Bị cáo quyền kháng o trong thời hạn 15 (i lăm) ngày kể từ ngày
tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phn tòa quyền kháng cáo trong hạn 15 (mưi
lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định
pháp luật.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
- Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
- Vin kim t nhân dân khu vực 1 TP.HCM;
- Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
- UBND phường A, TP.HCM;
- Công an phường A, TP.HCM;
- Thi hành án Dân sự TP. Hồ Chí Minh;
- Bị cáo;
- Người tham gia tố tụng khác;
- Lưu VP, hồ vụ án.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Quang Huynh
Tải về
Bản án số 83/2026/HS-ST Bản án số 83/2026/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 83/2026/HS-ST Bản án số 83/2026/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất