Bản án số 747/2026/DS-PT ngày 24/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 747/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 747/2026/DS-PT ngày 24/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 747/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: đến nay. Ông C yêu cầu ông Chung Văn D và bà Trương Thị N trả lại phần đất diện tích 1.296m², thuộc các điểm M3, M2, M1, M9, M10, M4, M3 theo Bản vẽ hiện trạng ngày 02/6/2025, tọa lạc tại ấp B, xã L, tỉnh Cà Mau. Trên đất có 02 cây dừa và 02 ống bọng thuộc sở hữu của ông D, bà N. Ông C đồng ý nhận các tài sản này và hoàn trả giá trị theo thỏa thuận là 3.473.200 đồng, gồm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 747/2026/DS-PT Bản án số 747/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 747/2026/DS-PT Bản án số 747/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 747/2026/DS-PT
Ngày: 24 - 9- 2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh
Các Thẩm phán: Bà Tiêu Hồng Phượng
Ông Ninh Quang Thế
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thủy Anh - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông
Trương Trung Tín - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 498/2026/TLPT-DS ngày 17 tháng 8
năm 2026 về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 300/2026/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 653/2026/QĐ-PT ngày
21 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Chung Văn C, sinh ngày: 01/01/1956 (có mặt).
Căn cước công dân số: ************; cấp ngày: 10/08/2021; nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Cư trú tại: Khóm C, Phường L, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn:
1. Ông Chung Văn D, sinh ngày: 15/04/1960 (có mặt).
Căn cước công dân số: ************; cấp ngày: 12/08/2021; nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
2. Bà Trương Thị N, sinh ngày: 15/10/1962 (vắng mặt).
Căn cước công dân số: ************; cấp ngày: 12/08/2021; nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Cùng cư trú tại: Ấp B, xã L, tỉnh Cà Mau.
2
Người đại diện theo ủy quyền của ông D, bà N: Ông Nguyễn Chí N1, sinh
ngày: 12/01/1985 và bà Chung Thị Â, sinh ngày: 02/02/1987; cùng cư trú tại: Ấp
T, xã L, tỉnh Cà Mau (Theo hợp đồng ủy quyền ngày 25/12/2024) (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Chung Thị T, sinh năm 1947; Cư trú tại: Ấp N, xã L, tỉnh Cà Mau
(vắng mặt).
2. Bà Chung Thị L, sinh năm 1945 (vắng mặt).
3. Bà Chung Thị T1, sinh năm 1961 (vắng mặt).
4. Ông Chung Văn N2, sinh năm 1948 (vắng mặt).
Cùng cư trú tại: Ấp H, xã L, tỉnh Cà Mau.
5. Bà Chung Thị T2, sinh năm 1948; Cư trú tại: Ấp H, xã T, tỉnh Cà Mau
(vắng mặt).
6. Ông Chung Văn P, sinh năm 1951; Cư trú tại: Khóm C, phường L, tỉnh
Cà Mau (có mặt).
- Người kháng cáo:
Ông Chung Văn P là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/12/2024 và lời trình bày trong quá trình giải
quyết vụ án, ông Chung Văn C cho rằng năm 1988, cha mẹ ông là cụ Chung Văn
C1 và cụ Đoàn Thị G cho ông Chung Văn D khoảng 15 công đất tầm lớn. Năm
2001, ông D kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy
CNQSDĐ) đối với các thửa 0492, 0493, tờ bản đồ số 03, tổng diện tích 24.470m²,
trong đó có 03 công đất của cụ C1 và cụ G chừa lại. Tại cuộc họp thân tộc năm
2005, ông D thừa nhận và đồng ý trả lại 03 công đất này.
Ông C trình bày trong 03 công đất ông D trả lại có 01 công cụ Chánh đã
chuyển nhượng cho ông để đối trừ khoản tiền 04 chỉ vàng ông đã chi phí chăm sóc,
điều trị bệnh cho cụ C1; 01 công thuộc cụ G và 01 công dùng làm khu mộ. Phần
đất cụ C1 chuyển nhượng cho ông được tính từ ranh đất ông Chung Thanh D1 đo
qua, có diện tích thực tế 1.296m². Ông C đã cho ông D thuê đất từ năm 2005 đến
năm 2018, sau đó cho con ông D thuê; đến năm 2020, ông D lấy lại đất và quản lý
cho đến nay.
Ông C yêu cầu ông Chung Văn D và bà Trương Thị N trả lại phần đất diện
tích 1.296m², thuộc các điểm M3, M2, M1, M9, M10, M4, M3 theo Bản vẽ hiện
trạng ngày 02/6/2025, tọa lạc tại ấp B, xã L, tỉnh Cà Mau. Trên đất có 02 cây dừa
và 02 ống bọng thuộc sở hữu của ông D, bà N. Ông C đồng ý nhận các tài sản này
và hoàn trả giá trị theo thỏa thuận là 3.473.200 đồng, gồm:
- 02 cây dừa, mỗi cây 800.000 đồng, tổng cộng 1.600.000 đồng;
3
- 02 ống bọng dài tổng cộng 2,8m, giá 669.000 đồng/m, tổng cộng 1.873.200
đồng.
Đại diện ông D và bà N thừa nhận trong diện tích đất hai người đang đứng
tên có 03 công đất của cụ C1 và cụ G; trong đó có 01 công thuộc ông C. Ông D, bà
N đồng ý giao cho ông Chính diện T3 1.296m² nhưng không đồng ý vị trí ông C
yêu cầu, mà đề nghị giao phần đất tính từ phía hậu giáp ông Nguyễn Hoàng H đo
lên. Đối với 02 cây dừa và 02 ống bọng trên đất, ông D và bà N đồng ý giao cho
ông C quản lý, sử dụng, với điều kiện ông C hoàn trả giá trị 3.473.200 đồng.
Ông Chung Văn P không đồng ý yêu cầu khởi kiện. Ông cho rằng trong 03
công đất ông D trả lại có 01 công làm khu mộ, còn 02 công được cụ G lập di chúc
ngày 28/10/2008 để lại cho ông; ông là người quản lý, sử dụng đất từ trước đến
nay.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 300/2026/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau, đã quyết định (tóm tắt):
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông C, buộc ông D và bà N giao
cho ông Chính diện T3 1.296m² theo bản vẽ hiện trạng ngày 02/6/2025; giao 02
cây dừa và 02 ống bọng trên đất cho ông C sở hữu. Ông C có nghĩa vụ hoàn trả
cho ông D và bà N giá trị 02 cây dừa và 02 ống bọng là 3.473.200 đồng.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, chi phí tố tụng, án phí
và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.
Ngày 14 tháng 7 năm 2026 ông Chung Văn P là người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan kháng cáo yêu cầu không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, với
lý do phần đất tranh chấp thuộc 02 công đất được cụ Đoàn Thị G lập di chúc để lại
cho ông và do ông quản lý, sử dụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Chung Văn P giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Đề nghị Hội
đồng xét xử sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận đơn kiện của nguyên đơn
hoặc hủy bản án sơ thẩm, tôi không đồng ý với bản án sơ thẩm vì 02 công đất mẹ
của tôi là cụ G lập di chúc cho tôi.
Ông Chung Văn C trình bày: Yêu cầu Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ
thẩm.
Ông Chung Văn D trình bày: Tôi có kháng cáo nhưng Thẩm phán nói do
ông Chung Văn P đã kháng cáo rồi nên không nhận đơn kháng cáo của tôi. Ông P
kháng cáo đúng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông P, sửa bản
án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận đơn kiện của ông C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát
biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng quy định
pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ
theo pháp luật quy định.
4
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự: không chấp nhận kháng cáo của ông Chung Văn P, giữ nguyên bản án
dân sự sơ thẩm số 300/2026/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 4 - Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét đơn kháng cáo của ông Chung Văn P là người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan nộp trong thời hạn quy định của pháp luật. Về tố tụng, quan hệ tranh
chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định
và thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
[2] Ông Nguyễn Chí N1, bà Chung Thị Â đã được triệu tập hợp lệ nhưng
vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227
Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Chung Văn D trình bày sau khi xét xử sơ thẩm
ông có làm đơn kháng cáo nhưng không được Thẩm phán cấp sơ thẩm chấp nhận.
Tuy nhiên, ông D không cung cấp được đơn kháng cáo, chứng từ gửi đơn hoặc tài
liệu khác chứng minh đã thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn luật định; hồ sơ
vụ án cũng không thể hiện Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận đơn kháng cáo của ông. Vì
vậy, không có căn cứ xác định ông D đã kháng cáo hợp lệ đối với bản án sơ thẩm.
Do đó, Hội đồng xét xử chỉ xem xét bản án sơ thẩm trong phạm vi kháng cáo hợp
lệ của ông Chung Văn P theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, không
xem xét ý kiến của ông Chung Văn D về vị trí phần đất 1.296m² theo thủ tục phúc
thẩm.
[4] Xét các yêu cầu kháng cáo của ông Chung Văn P Hội đồng xét xử thấy
rằng:
[4.1] Nguồn gốc phần đất tranh chấp do cụ Chung Văn C1 và cụ Đoàn Thị G
giao cho ông Chung Văn D quản lý. Năm 2001, ông D kê khai, đăng ký và được
cấp Giấy CNQSDĐ, trong đó có 03 công đất của cụ C1. Tại cuộc họp thân tộc năm
2005, ông D thừa nhận và đồng ý trả lại 03 công đất; trong đó, các đương sự và
những người làm chứng xác định có 01 công cụ Chánh đã chuyển nhượng cho ông
Chung Văn C. Ông D, bà Trương Thị N cũng thừa nhận phải giao cho ông C 01
công đất nhưng không thống nhất vị trí. Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông C,
buộc ông D, bà N giao diện tích 1.296m² theo bản vẽ hiện trạng ngày 02/6/2025.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ông D và bà N không kháng cáo nên không đặt ra xem xét
lại ý kiến của ông D, bà N về vị trí giao đất.
[4.2] Ông P kháng cáo cho rằng trong 03 công đất ông D trả lại có 01 công
làm khu mộ và 02 công được cụ Đoàn Thị G lập di chúc để lại cho ông. Tuy nhiên,
Tờ di chúc ngày 28/10/2008 đã được xác định không hợp pháp tại Bản án dân sự
sơ thẩm số 123/2014/DS-ST ngày 19/8/2014 và Bản án dân sự phúc thẩm số
209/2015/DS-PT ngày 28/9/2015 đã có hiệu lực pháp luật. Ngoài tờ di chúc này,
ông P không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cụ G đã tặng cho hoặc
ông có quyền sử dụng phần đất tranh chấp. Việc ông P đứng ra xây dựng nhà mộ
5
không phải là căn cứ làm phát sinh quyền sử dụng đất. Mặt khác, tại phiên tòa sơ
thẩm, ông P cũng thừa nhận cụ C1 có bán cho ông C 01 công đất, chỉ khai không
biết vị trí cụ thể.
Như vậy, ông P không có chứng cứ chứng minh phần đất 1.296m² cấp sơ
thẩm giao cho ông C thuộc quyền sử dụng của ông. Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của ông C là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, ông P không có tình tiết,
chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án.
[5] Từ những căn cứ và phân tích trên, cấp phúc thẩm không chấp nhận
kháng cáo của ông Chung Văn P giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[6] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với
nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[7] Án phí dân sự:
Án phí phúc thẩm: Ông Chung Văn P được miễn do là người cao tuổi và có
đơn xin miễn án phí (đã được miễn dự nộp án phí phúc thẩm).
[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Chung Văn P.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 300/2026/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Chung Văn C đối với ông
Chung Văn D và bà Trương Thị N.
Buộc ông Chung Văn D và bà Trương Thị N có nghĩa vụ trả cho ông Chung
Văn C phần đất diện tích 1.296m
2
(các điểm M3, M2, M1; M9, M10, M4, M3) tọa
lạc tạo ấp B, xã L, tỉnh Cà Mau.
(Kèm theo bản vẽ hiện trạng ngày 02/6/2025 của Trung tâm Kỹ thuật - Công
nghệ - Quan trắc tỉnh C).
Ông Chung Văn C có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ
tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
2. Buộc ông Chung Văn D và bà Trương Thị N có nghĩa vụ giao 02 cây Dừa
và 02 ống bọng của ông Chung Văn D và bà Trương Thị N có trên phần đất cho
ông Chung Văn C được quyền sở hữu.
6
Buộc ông Chung Văn C có nghĩa vụ trả lại cho ông Chung Văn D và bà
Trương Thị N giá trị 02 cây dừa và 02 ống bọng với số tiền là 3.473.200 đồng (Ba
triệu bốn trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm đồng).
Kể từ ngày ông D, bà N có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông C không thi
hành khoản tiền nêu trên thì ông C phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo
quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
3. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Chung Văn D và bà Trương Thị N phải chịu
chi phí đo đạc số tiền là 7.281.000 đồng, chi phí định giá là 7.000.000 đồng, tổng
là 14.281.000 đồng (Mười bốn triệu hai trăm tám mươi mốt nghìn đồng). Đối với
số tiền trên thì ông C đã nộp xong do đó buộc ông D và bà N có nghĩa vụ trả lại
cho ông chính.
Kể từ ngày ông C có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông D và bà N không thi
hành khoản tiền nêu trên thì ông D và bà N phải trả lãi đối với số tiền chậm thi
hành theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
4. Về án phí dân sự:
- Án phí sơ thẩm không có giá ngạch: Buộc ông Chung Văn D và bà Trương
Thị N phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
- Án phí phúc thẩm: Ông Chung Văn P được miễn.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều Điều 4, 7, 8, 34, 36 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi
hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 4 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
7
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Tiêu Hồng Phượng Ninh Quang Thế
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 4 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 747/2026/DS-PT Bản án số 747/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 747/2026/DS-PT Bản án số 747/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất