Bản án số 76/2026/DS-PT ngày 08/09/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 76/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 76/2026/DS-PT ngày 08/09/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Trị
Số hiệu: 76/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 76/2026/DS-PT Bản án số 76/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 76/2026/DS-PT Bản án số 76/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH QUẢNG TRỊ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 76/2026/DS-PT
Ngày: 08 - 9 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng góp vốn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Việt Trung
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thái Sơn;
Ông Nguyễn Xuân Diệu.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Trị
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà:
Bà Cao Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên;
Ngày 08 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị, xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 59/2026/TLPT-DS ngày 17 tháng
7 năm 2026 về việc“Tranh chấp hợp đồng góp vốn”, do Bản án dân sự sơ thẩm
số 13/2026/DS-ST ngày 08 tháng 6 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 8,
tỉnh Quảng Trị bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
72/2026/QĐXXPT-DS ngày 17 tháng 8 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số
112/2026/QĐ-PT ngày 28 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Thu S, sinh năm 1988; nơi cư trú: Số A L,
Khối C, xã K, tỉnh Quảng Trị, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Trung H, sinh năm 1983; nơi công tác: Đồn Biên phòng
cửa khẩu cảng C; địa chỉ: Khu phố G, xã C, tỉnh Quảng Trị, có đơn xin xét xử
vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Phạm Hùng T, sinh năm 1980; nơi cư trú: Số A L, Khối C, xã K,
tỉnh Quảng Trị, có đơn xin xét xử vắng mặt.
+ Bà Nguyễn Thị Như Q, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn H, xã V, tỉnh
Quảng Trị, vắng mặt.
* Người kháng cáo: Ông Lê Trung H - là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo hồ sơ, lời khai của các đương sự và bản án sơ thẩm thì nội dung vụ
án như sau:
* Nguyên đơn bà Đoàn Thị Thu S trình bày tại đơn khởi kiện, bản tự khai,
hòa giải và tại phiên tòa:
Do có nguyện vọng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất đối với thửa đất số 1773, tờ bản đồ số 20, diện tích 624,1m
2
,
theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số DD 444028
mang tên ông Trần Minh T1 và bà Trần Thị Hương G, địa chỉ thửa đất tại thôn
Đ, xã V, huyện V (nay là xã V, tỉnh Quảng Trị), với giá chuyển nhượng là
520.000.000 đồng, bà S cùng ông Lê Trung H đã ký kết hợp đồng góp vốn ngày
05/3/2022 tại nhà vợ chồng bà S, ông Phạm Hùng T, địa chỉ A L, khối C, xã K,
tỉnh Quảng Trị.
Sau khi ký kết hợp đồng, ông Phạm Hùng T là chồng bà S đã chuyển tiền
vào tài khoản của ông Lê Trung H 03 lần, cụ thể: Lần thứ nhất: ngày 05/3/2022,
chuyển số tiền 50.000.000 đồng; lần thứ hai: ngày 04/4/2022, chuyển số tiền
50.000.000 đồng; lần thứ ba: ngày 21/4/2022, chuyển số tiền 160.000.000 đồng.
Tổng số tiền đã chuyển cho ông Lê Trung H là 260.000.000 đồng.
Tuy nhiên, sau khi nhận đủ số tiền trên, ông Lê Trung H không thực hiện
được việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất như đã cam kết trong hợp
đồng góp vốn. Vì vậy, bà Đoàn Thị Thu S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết
buộc ông Lê Trung H phải trả lại cho bà số tiền 260.000.000 đồng. Bà S không
yêu cầu tính lãi.
* Bị đơn ông Lê Trung H và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình
bày:
Ông H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông H cho
rằng sau khi nhận tiền từ vợ chồng bà S, ông T, ông H đã chuyển tiền cho bà
Nguyễn Thị Như Q để thực hiện việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Cụ thể: Ngày 07/3/2022, ông H chuyển cho bà Q số tiền 50.000.000 đồng qua số
tài khoản 040092866396 mở tại Ngân hàng TMCP S1. Ngày 05/4/2022, ông H
chuyển cho bà Q 02 lần, với số tiền là 3.000.000 đồng và 27.000.000 đồng qua
số tài khoản 040092866396 mở tại Ngân hàng TMCP S1. Ngày 20/4/2022, ông
H chuyển cho bà Q số tiền 20.000.000 đồng qua số tài khoản 040092866396 mở
tại Ngân hàng TMCP S1. Ngày 21/4/2022, ông H chuyển cho bà Q số tiền
160.000.000 đồng qua số tài khoản 040092866396 mở tại Ngân hàng TMCP S1.
Ông H cho rằng các lệnh chuyển tiền này đều được thực hiện sau khi ông nhận
tiền từ vợ chồng bà S, ông T. Hiện nay bà Nguyễn Thị Như Q không thực hiện
việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất như đã thỏa thuận. Toàn bộ số tiền
do bà Q giữ, ông H không giữ bất kỳ khoản tiền nào. Do đó, ông H không đồng
ý trả lại số tiền 260.000.000 đồng theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Hùng T trình bày:
Ông T là chồng của bà Đoàn Thị Thu S. Việc chuyển tiền cho ông Lê Trung H
là để thực hiện hợp đồng góp vốn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ông
3
T xác nhận đã chuyển tiền vào tài khoản của ông Lê Trung H 03 lần với tổng số
tiền 260.000.000 đồng như bà S trình bày. Do ông H không thực hiện được việc
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo cam kết nên bà S khởi kiện yêu
cầu ông H trả lại số tiền 260.000.000 đồng là có căn cứ. Ông T hoàn toàn đồng ý
với yêu cầu khởi kiện của bà S và không có yêu cầu độc lập.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Như Q trình bày:
Bà Q không tham gia giao kết hợp đồng góp vốn ngày 05/3/2022 và hoàn toàn
không biết nội dung, hình thức của hợp đồng. Các khoản tiền mà ông H chuyển
cho bà không liên quan đến số tiền bà đã giao dịch. Cụ thể nội dung chuyển
quyền không thể hiện giao dịch góp vốn giữa các bên và không có tài liệu chứng
cứ nào chứng minh bà Q trực tiếp nhận tiền từ giao dịch góp vốn.
Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2026/DS-ST ngày 08/6/2026 của Toà án nhân
dân khu vực 8, tỉnh Quảng Trị đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147,
khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều
1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025; Điều 116, 117, 118, 119, Điều 357,
Điều 280, Điều 398, Điều 401, Điều 429, Điều 351, Điều 468 Bộ luật dân sự
2015; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Căn cứ Luật Thi hành án
dân sự; Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị Thu
S đối với bị đơn ông Lê Trung H về việc “Tranh chấp hợp đồng góp vốn”. Buộc
ông Lê Trung H phải trả cho bà Đoàn Thị Thu S và ông Phạm Hùng T số tiền
260.000.000 đồng (Hai trăm sáu mươi triệu đồng).
2. Về lãi chậm thi hành án. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bà
Đoàn Thị Thu S có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Lê Trung H chậm thực
hiện nghĩa vụ trả tiền thì ông Lê Trung H còn phải trả tiền lãi đối với số tiền
chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều
357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về quan hệ giữa ông Lê Trung H và bà Nguyễn Thị Như Q. Không
xem xét, giải quyết trong vụ án này đối với quan hệ giao nhận tiền giữa ông Lê
Trung H và bà Nguyễn Thị Như Q. Trường hợp ông Lê Trung H cho rằng
quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì có quyền khởi kiện bằng vụ
án dân sự khác theo quy định pháp luật.
Ngoài ra bản án còn tuyên án phí, quyền kháng cáo và thi hành án cho các
đương sự.
Ngày 12/6/2026, bị đơn kháng cáo với nội dung: Bản án sơ thẩm chưa
đánh giá khách quan các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như thu
thập chứng cứ không đầy đủ làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của bị
đơn. Đề nghị sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn theo đó bị đơn không có trách nhiệm hoàn trả số tiền 260.000.000
đồng cho nguyên đơn. Ngày 08/7/2026, bị đơn kháng cáo bổ sung đề nghị xem
4
xét trách nhiệm của bà Nguyễn Thị Như Q là vợ cũ của bị đơn đối với khoản
tiền góp vốn đang tranh chấp theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa phát biểu
quan điểm về vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình tiến hành tố tụng, giải quyết vụ án người tiến
hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều
308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên
bản án sơ thẩm số 13/2026/DS-ST ngày 08/6/2026 của Toà án nhân dân khu vực
8, tỉnh Quảng Trị.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về việc thụ lý kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị đơn đúng theo quy
định của pháp luật, trong thời hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm nên căn cứ Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án được thụ lý
để xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[1.2]. Về việc tham gia tố tụng: Nguyên đơn bà Đoàn Thị Thu S, bị đơn
ông Lê Trung H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Hùng T có
đơn xin xét xử vắng mặt; bà Nguyễn Thị Như Q là người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần 2 không có lý do.
Xét thấy, sự vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ
án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định
tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3]. Về quan hệ tranh chấp:
Bà Đoàn Thị Thu S khởi kiện yêu cầu ông Lê Trung H trả lại số tiền
260.000.000 đồng đã giao cho ông H theo thỏa thuận góp vốn ngày 05/3/2022
để thực hiện việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất. Đối tượng tranh chấp trong vụ án là nghĩa vụ hoàn trả số tiền 260.000.000
đồng phát sinh từ việc thực hiện thỏa thuận góp vốn giữa bà Đoàn Thị Thu S và
ông Lê Trung H. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là
“Tranh chấp hợp đồng góp vốn” là có căn cứ. Mặt khác, bị đơn ông Lê Trung H
công tác tại Đồn Biên phòng cửa khẩu C, địa chỉ tại khu phố G, xã C, tỉnh
Quảng Trị nên Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh Quảng Trị thụ lý, giải quyết vụ
án là đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và điểm a
khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
5
[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn ông Lê Trung H về việc xem
xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1]. Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng góp vốn:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ngày 05/3/2022, bà Đoàn Thị
Thu S và ông Lê Trung H ký hợp đồng góp vốn để thực hiện việc nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 1773,
tờ bản đồ số 20, diện tích 624,1m², theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và
quyền sử dụng đất số DD 444028 mang tên ông Trần Minh T1 và bà Trần Thị
Hương G, với giá chuyển nhượng 520.000.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng, ông
Phạm Hùng T là chồng bà S đã chuyển vào tài khoản của ông Lê Trung H 03
lần, gồm: ngày 05/3/2022 số tiền 50.000.000 đồng; ngày 04/4/2022 số tiền
50.000.000 đồng và ngày 21/4/2022 số tiền 160.000.000 đồng, tổng cộng
260.000.000 đồng. Ông T xác nhận việc chuyển tiền này nhằm thực hiện hợp
đồng góp vốn và ông H cũng thừa nhận đã nhận đủ số tiền trên. Như vậy, có đủ
căn cứ xác định bà Đoàn Thị Thu S và ông Lê Trung H đã xác lập quan hệ hợp
đồng góp vốn; ông H đã nhận số tiền 260.000.000 đồng từ phía bà S, ông T để
thực hiện nội dung như thỏa thuận.
[2.2]. Về hiệu lực và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng:
Hợp đồng góp vốn ngày 05/3/2022 được các bên lập bằng văn bản, các
bên tham gia giao kết trên cơ sở tự nguyện; tại thời điểm giao kết các bên có đủ
năng lực hành vi dân sự và mục đích, nội dung của hợp đồng không vi phạm
điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Vì vậy, giao dịch làm phát sinh
quyền, nghĩa vụ của các bên theo quy định của Điều 117, Điều 119 và Điều 401
Bộ luật Dân sự năm 2015.
Sau khi nhận tiền, ông Lê Trung H không thực hiện được việc nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất như nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng
góp vốn. Bà S không yêu cầu tiếp tục thực hiện giao dịch mà yêu cầu ông H
hoàn trả số tiền 260.000.000 đồng đã nhận. Ông H đã nhận tiền nhưng không
thực hiện được việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo thỏa thuận và
cũng không hoàn trả số tiền đã nhận từ bà S, ông T. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện
của bà S buộc ông H hoàn trả số tiền 260.000.000 đồng là có căn cứ.
[2.3]. Xét ý kiến của ông Lê Trung H về việc đã chuyển tiền cho bà
Nguyễn Thị Như Q:
Ông H cho rằng sau khi nhận tiền từ phía bà S và ông T, ông H đã chuyển
tiền cho bà Nguyễn Thị Như Q (vợ ông H) để thực hiện việc nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất; hiện nay bà Q là người giữ số tiền 260.000.000 đồng
nên ông H không còn tiền và không có nghĩa vụ trả lại cho bà S. Các giao dịch
chuyển tiền mà ông H trình bày gồm nhiều lần chuyển cho bà Q trong thời gian
từ ngày 07/3/2022 đến ngày 21/4/2022. Hội đồng xét xử xét thấy: Việc ông H
chuyển tiền cho bà Nguyễn Thị Như Q là giao dịch giữa ông H và bà Q. Trong
quan hệ giao dịch giữa bà S và ông H là giao dịch hợp đồng góp vốn để nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Trong hợp đồng góp vốn có tên bà Nguyễn
6
Thị Như Q nhưng không xác định quyền, nghĩa vụ của bà Q trong hợp đồng góp
vốn; bà Q có tên trong hợp đồng nhưng không có chữ ký của bà Q; giữa bà S và
bà Q không có quan hệ giao dịch gì với nhau trong hợp đồng góp vốn giữa bà S
với ông H. Ông H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ thể hiện bà S đã thay
đổi người có nghĩa vụ phải thực hiện hoặc đồng ý chuyển nghĩa vụ hoàn trả số
tiền 260.000.000 đồng từ ông H sang bà Q. Do đó, việc ông H chuyển tiền cho
bà Q không làm chấm dứt nghĩa vụ của ông H đối với bà S.
Mặt khác, bà Nguyễn Thị Như Q trình bày không tham gia giao kết hợp
đồng góp vốn ngày 05/3/2022, không biết nội dung, hình thức của hợp đồng và
cho rằng các khoản tiền ông H chuyển cho bà Q không liên quan đến giao dịch
góp vốn giữa ông H và bà S. Hồ sơ vụ án cũng không có tài liệu, chứng cứ xác
định bà Q là người cùng ký kết hoặc trực tiếp thực hiện hợp đồng góp vốn giữa
bà S và ông H.
Vì vậy, không có căn cứ để xác định bà Q là người có nghĩa vụ trực tiếp
phải hoàn trả số tiền 260.000.000 đồng cho bà S thay cho ông H.
[2.4]. Về đề nghị xem xét trách nhiệm của bà Nguyễn Thị Như Q:
Tại đơn kháng cáo bổ sung, ông H đề nghị xem xét trách nhiệm của bà Q
đối với số tiền góp vốn đang tranh chấp. Hội đồng xét xử thấy rằng, nguyên đơn
chỉ khởi kiện yêu cầu ông Lê Trung H trả lại số tiền 260.000.000 đồng; ông H
không có yêu cầu phản tố; bà Nguyễn Thị Như Q không có yêu cầu độc lập. Do
đó, quan hệ giao nhận tiền giữa ông H và bà Q không phải là đối tượng yêu cầu
giải quyết trong vụ án này. Việc không xem xét quan hệ giữa ông H và bà Q
trong cùng vụ án không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông H.
Trường hợp ông H cho rằng bà Q có nghĩa vụ hoàn trả số tiền đã nhận hoặc có
hành vi làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì ông H có
quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
[2.5]. Về đề nghị thu thập thêm chứng cứ, triệu tập người có quyền sử
dụng thửa đất:
Tại phiên tòa sơ thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn
đề nghị tạm ngừng phiên tòa để triệu tập người có quyền sử dụng thửa đất tham
gia tố tụng với tư cách người làm chứng để làm rõ vai trò của bà Nguyễn Thị
Như Q và làm căn cứ xác định ông H không phải là người có nghĩa vụ hoàn trả
tiền. Hội đồng xét xử xét thấy: Tranh chấp trong vụ án này phát sinh từ hợp
đồng góp vốn ngày 05/3/2022 giữa bà S và ông H. Người có quyền sử dụng thửa
đất mà các bên sẽ nhận chuyển nhượng không phải là người giao kết hợp đồng
góp vốn với các bên, không trực tiếp nhận số tiền 260.000.000 đồng từ phía bà
S, ông T và cũng không phải người bị yêu cầu hoàn trả số tiền trong vụ án. Mặt
khác, trong hồ sơ vụ án đã có hợp đồng góp vốn, các chứng từ chuyển tiền, lời
khai của các bên và các tài liệu liên quan đủ để xác định ông H là người nhận
tiền và việc thực hiện mục đích của hợp đồng không thành. Vì vậy, việc thu thập
thêm lời khai của người có quyền sử dụng thửa đất không phải là chứng cứ cần
thiết để xác định nghĩa vụ hoàn trả tiền của ông H trong phạm vi vụ án này. Do
7
đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm không chấp nhận đề nghị nêu trên của người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là có căn cứ.
[2.6]. Về việc đánh giá chứng cứ và trách nhiệm hoàn trả tiền:
Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ cùng thể hiện ông H đã nhận tổng số
tiền 260.000.000 đồng từ phía bà S, ông T để thực hiện việc nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất theo thỏa thuận. Ông H thừa nhận việc nhận tiền và
chỉ đưa ra lý do đã chuyển tiền cho bà Q để không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả
cho bà S. Tuy nhiên, ông H không chứng minh được việc bà S đồng ý để bà Q
trở thành người có nghĩa vụ trả tiền thay ông H. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định
ông H là người có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 260.000.000 đồng đã nhận cho bà S.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị Thu S,
buộc ông Lê Trung H hoàn trả số tiền 260.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp
với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và quy định của pháp luật.
[2.7]. Về lãi suất: Bà Đoàn Thị Thu S không yêu cầu ông Lê Trung H trả
lãi đối với số tiền 260.000.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải
quyết yêu cầu về lãi là phù hợp.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy kháng cáo
của ông Lê Trung H không có căn cứ chấp nhận. Bản án sơ thẩm đã đánh giá
đúng các tài liệu, chứng cứ, xác định đúng nghĩa vụ của bị đơn và giải quyết phù
hợp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, cần chấp nhận quan điểm của
VKSND tỉnh Quảng Trị, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Trung
H, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2026/DS-ST ngày 08/6/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh Quảng Trị.
[3]. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn
ông Lê Trung H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo
quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn ông Lê Trung H, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số
13/2026/DS-ST ngày 08/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh Quảng Trị.
2. Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1
Điều 147, khoản 1 Điều 148, Điều 271, Điều 273, Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân
sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025; Điều 116, 117, 118,
119, Điều 280, Điều 351, Điều 357, Điều 398, Điều 401, Điều 429, khoản 2
Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:
8
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị Thu S đối
với bị đơn ông Lê Trung H về việc “Tranh chấp hợp đồng góp vốn”. Buộc ông
Lê Trung H phải trả cho bà Đoàn Thị Thu S và ông Phạm Hùng T số tiền
260.000.000 đồng (Hai trăm sáu mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có
đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành khoản
tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi tương ứng với số tiền
chậm thi hành án, tại thời điểm thanh toán. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền
được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi
suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa
thuận thì thực hiện theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật
Dân sự.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại
Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải
thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,
tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về án phí:
- Về án phí sơ thẩm: Bị đơn ông Lê Trung H phải chịu 13.000.000 đồng
án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Đoàn Thị Thu S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà
Đoàn Thị Thu S số tiền tạm ứng án phí đã nộp 6.500.000 đồng (sáu triệu năm
trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0002355 ngày 15/12/2025 của Thi
hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.
- Về án phí phúc thẩm: Bị đơn ông Lê Trung H phải chịu 300.000 đồng án
phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án
phí phúc thẩm đã nộp tại phiếu thu số 0003195 ngày 22/6/2026 của Thi hành án
dân sự tỉnh Quảng Trị (Ông Lê Trung H đã nộp đủ án phí phúc thẩm).
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (08/9/2026).
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Trị;
- TAND KV 8 - Quảng Trị;
- THADS tỉnh Quảng Trị;
- Các đương sự;
- Lưu: HSVA, Toà Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Trần Việt Trung
9
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 76/2026/DS-PT Bản án số 76/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 76/2026/DS-PT Bản án số 76/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất