Bản án số 459/2026/DS-PT ngày 23/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 459/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 459/2026/DS-PT ngày 23/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 459/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Trần Thị NGọc Bội tranh chấp hợp đồng mau bán tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 459/2026/DS-PT Bản án số 459/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 459/2026/DS-PT Bản án số 459/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 459/2026/DS-PT
Ngày: 23-9-2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- 
-  phiên t: Ông Trần Minh Quang;
Ông Lê Ngọc Minh và bà Lưu Thị Thu Hường;
- : Bà Nguyễn Thị Khánh Chi – Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân tỉnh Đắk Lắk.
- i din Vin kim sát nhân dân tk Lk tham gia phiên tòa: Ông
Phan Văn Công - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 199/2026/DS - PT ngày
15/7/2026 về việc: “Tranh chấp hợp đồng mau bán tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 86/2026/DS-ST ngày 15/5/2026 của Tòa án
nhân khu vực 1 – Đắk Lắk bị kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 416/2026/QĐ-PT ngày 19
tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
- n: Bà Trần Thị Ngọc B; địa chỉ: Thôn 6, xã Ea Kar, huyện Ea
Kar, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Tạ Quang
Tòng – Văn phòng luật sư THT – Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: Khu C, tầng
1, tòa nhà Trung tâm văn hóa tỉnh Đắk Lắk – số 02 Hùng Vương, phường Buôn
Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
- B n: Ông Hồ Khắc N; địa chỉ: 432/3 Trần Phú, phường Buôn Ma Thuột,
tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
2
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tạ Thanh Hoàng; địa chỉ: 978 Hùng
Vương, phường Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
- Ngi có quyn li ngha v liên quan: Ông Nguyễn Hoàng Chi Thi; địa chỉ
1: Khu dân cư số 10, tổ dân phố 3, thị trấn Mộ Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng
Ngãi (nay là xã Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi).
Địa chỉ 2: Thôn Tiến Hội, phường An Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:

B trình bày:
Bà B có trang trại chăn nuôi đồng thời cũng hợp đồng với một số hộ dân cư
ngụ tại huyện Ea Kar để nuôi lợn gia công.
Vào đêm ngày 20/10/2024 ông Hồ Khắc N có giao cho bà B số lượng lợn
giống là 490 con, giá trị là 1.149.913.500đ (
).
Theo đề nghị của ông Hồ Khắc N, bà đã chuyển khoản vào tài khoản số
5652966868 của ông Nguyễn Hoàng Chí Thi tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thương
Việt Nam, số tiền là 1.049.913.500đ. Chuyển cho ông Hồ Khắc N số tiền
100.000.000 đồng vào tài khoản số 6340135346 tại Ngân hàng BIDV Đắk Lắk
Là chỗ quen biết thân tình và tin tưởng lẫn nhau, mặc dù chưa ký kết hợp đồng,
chúng tôi đã nhận lợn giống và đã chuyển tiền theo đề nghị của ông Hồ Khắc N,
đồng thời đã chuyển giao số lợn giống nói trên cho 5 hộ gia đình gồm ông Đỗ Đức
Xô, cư ngụ tại thôn 8, thị trấn Ea Kar, ông Nguyễn Đình Hà, số nhà 07, xã Xuân
Phú, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk, bà Phạm Thị Bông, cư ngụ tại thôn 8, thị trấn Ea
Kar, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk, bà Nguyễn Thị Quỳnh, cư ngụ tại thôn 1, xã Xuân
Phú, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk, bà Vũ Thị Thoa, cư ngụ tại thôn 7, xã Xuân Phú
huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk. Khi giao lợn giống, ông N có cung cấp cho chúng tôi
một bản phô tô phiếu kiểm dịch động vật.
Sáng ngày 21/10/2024, ông Đỗ Đức Xô gọi điện thoại báo cho bà B rằng lợn
giống mới nhận có biểu hiện không ổn. Tại nhà ông Xô, bà đã tiến hành kiểm tra thì
phát hiện số lợn giống mà ông N đã giao cho ông Xô có biểu hiện bị bệnh, sau đó
kiểm tra tại các hộ nhận nuôi số lợn giống do ông N giao thì thấy tất cả lợn giống
đều có biểu hiện sưng mắt, mắt đổ ghèn, tiêu chảy và co giật.
Bà B đã chụp ảnh, quay video và gọi điện thoại báo cho ông Hồ Khắc N, ông
N xuống tận nơi, kiểm tra toàn bộ tại các gia đình nuôi lợn, và đã tiến hành điều trị
3
(). Đến ngày
23/10/2024 đã có lợn giống chết.
Ngày 31/10/2024, bà B đã yêu cầu xét nghiệm để tìm nguyên nhân lợn chết,
ông Hồ Khắc N đã gọi ông Đại – nhân viên làm việc với ông N – đến tiến hành các
thủ thuật xét nghiệm, kết quả xét nghiệm đã cho thấy đàn lợn giống do ông N giao
đã bị nhiễm dịch tả lợn Châu Phi và dịch tả lợn tai xanh.
Sau khi xác nhận đàn lợn giống 490 con đã bị dịch như xét nghiệm, ông Hồ
Khắc N đã đến tại nhà bà, sau đó đến tại 5 hộ gia đình nhận nuôi để xin lỗi và cho
xe đến nhận lại toàn bộ lợn giống và vận chuyển đi.
Vào ngày 01/11/2024 ông Hồ Khắc N đã tự viết biên bản “
", trong giấy xác nhận, ông N cam kết sẽ hoàn trả lại cho bà
số tiền 1.149.913.500₫ (Một tỷ một trăm bốn chín triệu chín trăm mười ba ngàn
năm trăm đồng) trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày 01/11/2024, là số tiền mà tôi đã
trả cho 490 con lợn giống do ông N vận chuyển đến.
Liên tục trong khoảng thời gian trước Tết Nguyên đán Ất Tỵ, tôi trao đổi với
ông N về các biên pháp khắc phục hậu quả, ông N chỉ hứa hẹn nhưng không có
giải pháp cụ thể.
Vào ngày 03/1/2025, bà mời ông Hồ Khắc N đến nhà tôi tại TDP 4, thị trấn
Ea Kar, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk để tiếp tục giải quyết, tại đây, với sự có mặt
của ông Đỗ Đức Xô, cư ngụ tại thôn 8, thị trấn Ea Kar, ông Nguyễn Đình Hà, số
nhà 07, xã Xuân Phú, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk, bà Phạm Thị Bông, cư ngụ tại
thôn 8, thị trấn Ea Kar, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk, bà Nguyễn Thị Quỳnh, cư ngụ
tại thôn 1, xã Xuân Phú, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk, bà Vũ Thị Thoa, cư ngụ tại
thôn 7, xã Xuân Phú huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk
Tại cuộc gặp này, ông Hồ Khắc N đã phản ứng rất tiêu cực bằng việc xé tờ
giấy “g" do ông N đã tự viết trước đó, nhằm
trốn tránh nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết.
Bà B đã mời Công an thị trấn đến làm việc, tại đây, cán bộ Công An thị trấn
Ea Kar lập biên bản và đã lập lại giấy xác nhận nợ kể trên.
Vì vậy, bà B làm đơn này, kính đề nghị Tòa án xem xét để giải quyết:
Buộc ông Hồ Khắc N phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà B số tiền
1.149.913.500 đồng mà ông N đã nhận của bà B, theo giấy xác nhận do ông N đã
tự viết trước đó, cùng với lãi suất tiền vay theo quy định của Ngân hàng kể từ ngày
bà B đã trả tiền mua lợn giống cho đến khi có bản án có hiệu lực pháp luật.

4
Vào ngày 11/10/2024, ông Hồ Khắc N nhận thay cho ông Nguyễn Hoàng Chi
Thi số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) từ bà Trần Thị Ngọc B, nội
dung chuyển khoản là “Trần Thị Ngọc bộ chuyển tiền cọc 500 heo con”, không thể
hiện cọc heo cho ai, ở đâu và các nội dung khác liên quan đến nghĩa vụ của ông N.
Bà B chuyển 100.000.000 đồng cho ông N chỉ phát sinh Nghĩa vụ của ông N đối
với số tiền100.000.000 đồng.
Sau đó, ông N đã giao lại toàn bộ số tiền 100.000.000 đồng cho ông Thi và
ông Thi trích lại 50.000.000 đồng tiền môi giới cho ông N. Việc tranh chấp
50.000.000 triệu đồng giữa ông N và ông Thi nếu sau này phát sinh tranh chấp
giữa hai bên sẽ được giải quyết bằng quan hệ khác.
Ông N không yêu cầu, không cung cấp số tài khoản của ông Thi để bà B
chuyển tiền cho ông Thi. Ông N chỉ là người giới thiệu cho bà B gặp ông Thi để
thỏa thuận việc cọc, mua bán heo với nhau; ông N chỉ giúp ông Thi, bà B theo dõi
bệnh tật của heo, xử lý giúp các vấn đề phát sinh sau khi bà B thực hiện giao dịch
dân sự với ông Thi, người khác nếu có khi liên quan đến ông Thi. Ông N không
thỏa thuận các điều khoản hợp đồng hay bất kì các nội dung khác có liên quan với
bà B về việc đặt cọc số heo 500 con.
Theo nguyên tắc, bà B nhận đủ heo từ ông Thi hoặc người khác thì bà mới
chuyển tiền đầy đủ cho ông Thi. Sau khi nhận heo về, phát sinh trách nhiệm, lỗi
bệnh tật hay rủi ro gì thì bà B phải chịu không liên quan gì đến ông N. Bà B cũng
không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh ông N còn nợ tổng số tiền theo đơn
khởi kiện của bà.
Ba bên gồm ông N, ông Thi và bà B không có thỏa thuận sau khi giao heo
phát sinh bệnh tật, chết, vấn đề phát sinh sau khi bàn giao heo trách nhiệm thuộc
về ai, ai là người phải đền bù, ai phải hoàn trả tiền cho bà B. Bà B phải chịu rủi ro
về toàn bộ số heo đã nhận từ ông Thi và những người khác.
Bà B có đưa cho ông N giấy xác nhận đề ngày 20/10/2024 để yêu cầu ông N
xác nhận và ký. Tuy nhiên, giấy này thể hiện nhiều nội dung không đúng sự thật,
thể hiện số tiền ông N nhận của bà B không đúng, không đúng về nghĩa vụ thu hồi,
đền bù heo đối với ông N cho nên ông N không đồng ý và xé giấy này. Điều này,
thể hiện ý chí của ông N không xác nhận sự việc giao dịch giữa ông N với bà B về
số tiền đã giao cho ông Thi. Tại Công an có thẩm quyền ông N cũng không đồng ý
với toàn bộ nội dung Biên bản của Công an đã lập và không đồng ý ký vào giấy
của bà B cấp là bản phô tô để khôi phục. Như vậy, tài liệu, chứng cứ này không có
thật, không giám định được chữ ký, chữ viết, không xác thực được nội dung có
5
liên quan, ông N không đồng ý nên không thể dùng để là nguồn chứng cứ để giải
quyết vụ án.
Tại Vi bằng số 51/2026/VB–TPLĐA ngày 25/3/2026 do bà B cung cấp cho
Tòa án: Không có nội dung nào thể hiện trách nhiệm của ông N phải hoàn tiền cho
bà B khi heo bà B đã nhận của ông Thi, người khác khi bị bệnh, bị chết. Bà B cũng
xác nhận đã nhận đủ số tổng số heo và giao tiền cho ông Thi. 
B 

            
Như vậy, bà B xác định giao dịch với ông N đối với số tiền 100.000.000
đồng, với tổng số tiền bà B giao cho ông Thi đã hoàn thành; Bà B xác định bà có
trách nhiệm và lỗi của bà nên bà B mới chuyển tiền trả lại cho ông Đức, bà Huyền
và người khác (nếu có).
N 
 B B  

Tuy nhiên, bà B lại không yêu cầu Thừa phát lại trích toàn bộ nội
dung khởi kiện, nội dung Đơn khởi kiện ra là cố tình phủ nhận giao dịch giữa bà B
với ông Thi đẩy hết trách nhiệm sang cho ông N là không phù hợp.
Đề nghị Tòa án đánh giá sự việc bà B yêu cầu ông N xác nhận vào giấy ngày
20/10/2024 bị ông N từ chối và xé giấy. Từ ngày 15/12/2024, sau khi ông N gửi đơn
để bà B kiện ông Thi sau đó bà B đã xác nhận và nhiều lần liên hệ với ông N và bà
B không có ý kiến gì phản đối về đơn khởi kiện mà ông N gửi cho bà B để bà kiện
ông Thi. Mãi đến tận ngày 06/01/2025, bà B mới yêu cầu Công an thị trấn Ea Kar
lập biên bản giải quyết nhưng không được ông N đồng ý với nội dung biên bản này
là khoảng thời gian không liên tục, thể hiện ý chí bà B thừa nhận bà giao dịch trực
tiếp với ông Thi, đồng ý kiện ông Thi trước đó không được mới quay sang khởi kiện
ông N.
Như vậy, đối tượng khởi kiện của vụ án của bà B phải là giao dịch nhận tiền,
giao dịch cọc hay giao dịch liên quan giữa bà B và ông Thi; người khởi kiện ở đây
phải là ông Thi; ông N chỉ liên quan đến số tiền 100.000.000 đồng nhận từ bà B,
nếu có nghĩa vụ hoàn trả chỉ phát sinh nghĩa vụ 100.000.000 đồng giữa ông N với
ông Thi, bà B.
Quan điểm của phía bị đơn đối với vụ án là đề nghị Tòa án không chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Ngọc B. Đề nghị Tòa án cũng xem xét
6
gỡ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với ông Hồ Khắc N, bà Vũ Thị
Lương.

 Bà Thoa là người mua lợn giống từ bà Trần Thị
Ngọc B để nuôi kinh doanh. Vào đêm 20/10/2024 – Ông Hồ Khắc N – người bán
lợn giống cho bà B – trực tiếp vận chuyến đến tại nhà bà Thoa để giao số lợn
giống là 50 con. Đến sáng ngày 21/10/2024, khi thăm chuồng lợn, bà Thoa phát
hiện số lợn này có dấu hiệu mắc bệnh.
Bà Thoa đã gọi điện thoại báo cho bà B, sau đó, ông N và bà B đến tại nhà để
kiếm tra tình trạng dịch bệnh trên số lợn giống mà bà Thoa đã nhận từ ông Hồ
Khắc N. Ông N và các nhân viên đã tiến hành việc điều trị nhưng không có kết
quả, nhiều con lợn đã ngả lăn ra chết.
Ông N đã xin lỗi về việc lợn bị bệnh chết sau đó đã cho xe vận chuyển toàn
bộ 50 con lợn giống đã giao cho bà Thoa trước đó để đưa đi nơi khác.
Vảo ngày 03/1/2025, qua điện thoại của bà B, bà Thoa đến tại nhà của bà B tại
TDP 4, thị trân Ea Kar, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk để dự cuộc gặp giữa bà B, ông
N với những người nhận nuôi lợn gôm bà Nguyên Thị Quỳnh, ông Đô Đức Xô,
ông Nguyễn Đình Hà, bà Phạm Thị Bông. Tại đây, bà Thoa đã nhìn thấy ông Hồ
Khắc N có hành vi giật và xé tờ giấy xác nhận nợ và thu hồi heo giống do ông N
đã viết trước đây.
Ngay lúc đó, bà B mời Công an thị trấn Ea Kar đến làm việc, cán bộ Công An
thị trấn đã lập biên bản làm việc, đồng thời đã yêu cầu ông N lập lại giấy xác nhận
nợ kê trên.
Vì vậy, bà Thoa đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết để chấp nhận đơn khởi
kiện của nguyên đơn, với các nội dung đã trình bày trên.
 Bà là người mua lợn giống từ bà Trần Thị
Ngọc B để nuôi kinh doanh. Vào đêm 20/10/2024 – ông Hồ Khắc N – người bán
lợn giống cho bà B – trực tiếp vận chuyến đến tại nhà bà Quỳnh để giao số lợn
giống là 100 con. Đến sáng ngày 21/10/2024, khi thăm chuồng lợn, bà phát hiện số
lợn này có dấu hiệu mắc bệnh.
Bà đã gọi điện thoại báo cho bà B, sau đó, ông N và bà B đến tại nhà bà để
kiểm tra tình trạng dịch bệnh trên số lợn giống mà bà đã nhận từ ông Hồ Khắc N.
Ông N và các nhân viên đã tiến hành việc điều trị nhưng không có kết quả, nhiều
con lợn đã ngả lăn ra chết.
7
Ông N đã xin lỗi về việc lợn bị bệnh chết sau đó đã cho xe vận chuyển toàn
bộ 100 con lợn giống đã giao cho bà trước đó để đưa đi nơi khác.
Vào ngày 03/1/2025, qua điện thoại của bà B, bà đến tại nhà của bà B tại
TDP 4, thị trấn Ea Kar, huyện Ea Kar, tinh Đắk Lắk để dự cuộc gặp giữa bà B, ông
N với những người nhận nuôi lợn gồm bà Vũ Thị Thoa, bà Phạm Thị Bông, ông
Đô Đức Xô, ông Nguyễn Đình Hà. Tại đây, bà đã trực tiếp nhìn thấy ông Hồ Khắc
N có hành vi giật và xé tờ giấy xác nhận nợ và thu hồi heo giống do ông N đã viết
trước đây.
Ngay lúc đó, bà B mời Công an thị trấn Ea Kar đến làm việc, cán bộ Công An
thị trấn đã lập biên bản làm việc, đồng thời đã yêu cầu ông N lập lại giấy xác nhận
nợ kể trên.
Vì vậy, bà đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết để chấp nhận đơn khởi kiện của
nguyên đơn, với các nội dung đã trình bày trên.
 Bà là người mua lợn giống từ bà Trần Thị Ngọc
B để nuôi kinh doanh. Vào đêm 20/10/2024 – ông Hồ Khắc N – người bán lợn
giống cho bà B – trực tiếp vận chuyển đến tại nhà bà để giao số lợn giống là 80
con. Đến sáng ngày 21/10/2024, khi thăm chuồng lợn, bà phát hiện số lợn này có
dấu hiệu mắc bệnh.
Bà đã gọi điện thoại báo cho bà B, ngay sau đó, ông N và bà B đến tại nhà bà
để kiểm tra tình trạng dịch bệnh trên số lợn giống là bà đã nhận từ ông Hồ Khắc N.
Ông N và các nhân viên đã tiến hành việc điều trị nhưng không có kết quả, nhiều
con lợn đã ngả lăn ra chết. Ông N đã xin lỗi tôi về việc lợn bị bệnh chết sau đó đã
cho xe vận chuyển toàn bộ 80 con lợn giống đã giao cho tôi trước đó để đưa đi nơi
khác. Vào ngày 03/1/2025, qua điện thoại của bà B, tôi đên tại nhà của bà B tại
TDP 4, thị trấn Ea Kar, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk để dự cuộc gặp giữa bà B, ông
N với những người nhận nuôi lợn gồm bà Nguyễn Thị Quỳnh, bà Vũ Thị Thoa,
ông Đỗ Đức Xô, ông Nguyễn Đình Hà. Tại đây, bà đã trực tiếp nhìn thấy ông Hồ
Khắc N có hành vi giật và xé tờ giấy xác nhận nợ và thu hồi heo giống do ông N
đã viết trước đây.
Ngay lúc đó, bà B mời Công an thị trấn Ea Kar đến làm việc, cán bộ Công An
thị trấn đã lập biên bản làm việc, đồng thời đã yêu cầu ông N lập lại giấy xác nhận
nợ kể trên.
Vì vậy, bà đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết để chấp nhận đơn khởi kiện của
nguyên đơn, với các nội dung đã trình bày trên.
 Ông là người mua lợn giống từ bà Trần Thị
Ngọc B để nuôi kinh doanh. Vào đêm 20/10/2024 – ông Hồ Khắc N – người bán
8
lợn giống cho bà B – trực tiếp vận chuyển đến tại nhà ông để giao số lợn giống là
50 con. Đến sáng ngày 21/10/2024, khi thăm chuồng lợn, ông phát hiện số lợn này
có dấu hiệu mắc bệnh.
Ông đã gọi điện thoại báo cho bà B, ngay sau đó, ông N và bà B đến tại nhà
để kiểm tra tình trạng dịch bệnh trên số lợn giống mà ông đã nhận từ ông Hồ Khắc
N. Ông N và các nhân viên đã tiến hành việc điều trị nhưng không có kết quả,
nhiều con lợn đã ngả lăn ra chết.
Ông N đã xin lỗi về việc lợn bị bệnh chết sau đó đã cho xe vận chuyển toàn
bộ 50 con lợn giống đã giao cho ông trước đó để đưa đi nơi khác.
Vào ngày 03/1/2025, qua điện thoại của bà B, ông đến tại nhà của bà B tại
TDP 4, thị trấn Ea Kar, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk để dự cuộc gặp giữa bà B, ông
N với những người nhận nuôi lợn gồm bà Nguyễn Thị Quỳnh, bà Vũ Thị Thoa, bà
Phạm Thị Bông, ông Đô Đức Xô. Tại đây, ông đã trực tiếp nhìn thấy ông Hồ Khắc
N có hành vi giặt và xé tờ giấy xác nhận nợ và thu hồi heo giống do ông N đã viết
trước đây.
Ngay lúc đó, bà B mời Công an thị trần Ea Kar đến làm việc, cán bộ Công An
thị trấn đã lập biên bản làm việc, đồng thời đã yêu cầu ông N lập lại giấy xác nhận
nợ kể trên.
Vì vậy, ông đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết để chấp nhận đơn khởi kiện
của nguyên đơn, với các nội dung đã trình bày trên.
 Ông là người mua lợn giống từ bà Trần Thị Ngọc
B đê nuôi kinh doanh. Vào đêm 20/10/2024 – ông Hồ Khắc N – người bán lợn
giống cho bà B – trực tiếp vận chuyển đến tại nhà ông để giao số lợn giống là 50
con. Đến sáng ngày 21/10/2024, khi thăm chuồng lợn, ông phát hiện số lợn này có
dấu hiệu mắc bệnh.
Ông đã gọi điện thoại báo cho bà B, ngay sau đó, ông N và bà B đến tại nhà
ông để kiểm tra tình trạng dịch bệnh trên số lợn giống mà ông đã nhận từ ông Hồ
Khắc N. Ông N và các nhân viên đã tiến hành việc điều trị nhưng không có kết
quả, nhiều con lợn đã ngả lăn ra chết.
Ông N đã xin lỗi ông về việc lợn bị bệnh chết sau đó đã cho xe vận chuyển
toàn bộ 50 con lợn giống đã giao cho ông trước đó để đưa đi nơi khác.
Vào ngày 03/1/2025, qua điện thoại của bà B, ông đến tại nhà của bà B tại
TDP 4, thị trấn Ea Kar, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk để dự cuộc gặp giữa bà B, ông
N với những người nhận nuôi lợn gồm bà Nguyễn Thị Quỳnh, bà Vũ Thị Thoa, bà
Phạm Thị Bông, ông Đô Đức Xô. Tại đây, ông đã trực tiếp nhìn thấy ông Hồ Khắc
9
N có hành vi giặt và xé tờ giấy xác nhận nợ và thu hồi heo giống do ông N đã viết
trước đây.
Ngay lúc đó, bà B mời Công an thị trấn Ea Kar đến làm việc, cán bộ Công An
thị trấn đã lập biên bản làm việc, đồng thời đã yêu cầu ông N lập lại giấy xác nhận
nợ kể trên.
Vì vậy, ông đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết để chấp nhận đơn khởi kiện
của nguyên đơn, với các nội dung đã trình bày trên.
Tại bản án sơ thẩm số 86/2026/DS-ST ngày 15/5/2026 của Tòa án nhân
khu vực 1 – Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 146, khoản
1 Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ: Điều 430; Điều 431; Điều 432; Điều 445 Bộ luật dân sự năm 2015
Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc B.
Buộc bị đơn ông Hồ Khắc N phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Trần Thị
Ngọc B tổng số tiền 1.278.001.500 đồng. (Trong đó nợ gốc là 1.149.913.500 đồng
và nợ lãi là 128.088.000 đồng).
yêu



Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 08/2025/QĐ –
BPKCTT ngày 28/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột về áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” được
quy định tại Điều 126 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho
các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 29/5/2026 bị đơn ông Hồ Khắc N có đơn kháng cáo với nội dung: Đề
nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ đơn khởi kiện của
nguyên đơn hoặc hủy toàn bộ án sơ thẩm và giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân Khu
vực 1 – Đắk Lắk giải quyết lại theo quy định.
10
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện; bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung
đơn kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng
các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Toà áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân
sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu,
chứng cứ lời trình bày của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Hồ Khắc N làm đúng hạn luật
định và đã nộp tạm ứng án phí nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc
thẩm.
Trong vụ án này giao dịch giữa nguyên đơn và bị đơn là giao dịch mua bán
tài sản, thực tế là mua bán heo giống. Tại các Bút lục 354, 355, 356 đều thể hiện
việc giữa nguyên đơn và bị đơn có thoả thuận nội dung mua bán heo giống, nhưng
Toà cấp sơ thẩm thụ lý quan hệ tranh chấp “Kiện đòi lại tài sản” là không chính
xác. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định lại quan hệ tranh chấp là “Tranh
chấp hợp đồng mua bán tài sản”. Cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét kháng cáo của bị đơn về việc cho rằng giữa nguyên đơn và bị đơn
không có quan hệ mua bán heo, bị đơn chỉ là người giới thiệu và nhận tiền hộ ông
Nguyễn Hoàng Chi Thi số tiền 100.000.000đ, HĐXX thấy rằng:
Mặc dù bị đơn cho rằng người trực tiếp giao dịch mua bán heo với nguyên
đơn là ông Nguyễn Hoàng Chi Thi, còn bị đơn chỉ là người giới thiệu, nhận hộ số
tiền đặt cọc và hỗ trợ nguyên đơn trong quá trình xử lý đàn heo bị bệnh. Tuy
nhiên, theo Vi bằng 51/2026/VB-TPLĐA ngày 25/3/2026 do nguyên đơn cung cấp
thể hiện: Giữa bà B và ông N có các cuộc trao đổi qua ứng dụng Zalo liên quan
trực tiếp đến việc giao heo, số lượng heo và thời gian giao heo. Khi đàn heo phát
sinh bệnh sau khi được giao, nguyên đơn đã trực tiếp thông báo tình trạng đàn heo
cho ông N; ông N tiếp tục trao đổi, gửi các thông tin liên quan đến giấy tờ, kiểm
dịch và phác đồ điều trị. Mặt khác, những người làm chứng đồng thời là những
11
người trực tiếp nhận nuôi heo đều trình bày ông N là người trực tiếp vận chuyển,
giao heo đến các hộ dân; khi heo có biểu hiện bệnh thì ông N trực tiếp đến kiểm
tra, tổ chức điều trị và sau đó cho người thu hồi số heo đã giao.
Như vậy, ông N là người trực tiếp và có vai trò xuyên suốt trong quá trình
giao dịch từ việc thỏa thuận, giao heo, xử lý sự cố khi heo bị bệnh đến việc thu hồi
heo. Bị đơn ông Hồ Khắc N cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ có
chứng minh việc ông Thi là người trực tiếp bán heo cho nguyên đơn, hoặc chứng
minh ông N chỉ là người trung gian, không có nghĩa vụ trong giao dịch.
Đối với số tiền nguyên đơn chuyển vào tài khoản mang tên ông Nguyễn
Hoàng Chi Thi, Hội đồng xét xử xét thấy: Nội dung chuyển khoản thể hiện việc
chuyển tiền để mua heo liên quan đến ông N. Bị đơn cũng thừa nhận đã trực tiếp
nhận của nguyên đơn số tiền 100.000.000 đồng với nội dung chuyển khoản là tiền
cọc 500 con heo. Việc bị đơn cho rằng mình nhận tiền hộ ông Thi và đã chuyển lại
cho ông Thi nhưng bị đơn cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng
minh ông Thi ủy quyền hoặc nhờ bị đơn nhận tiền của nguyên đơn như bị đơn
trình bày.
Căn cứ vào giấy chuyển khoản tiền tại ngân hàng BIDV tài khoản của bà
Trần Thị Ngọc B có thực hiện giao dịch chuyển khoản 03 lần vào cùng ngày
20/10/2024 số tiền 1.048.999.999 đồng vào tài khoản của ông Nguyễn Hoàng Chi
Thi với nội dung “Tran Thi Ngoc Boi chuyen tien mua heo con a nhat”. Và 01
lần vào tài khoản của ông Hồ Khắc N số tiền 100.000.000 đồng vào ngày
11/10/2024 nội dung “Tran Thi Ngoc Boi chuyen tien coc 500 heo con”. Mặt
khác, qua bản sao kê giao dịch tài khoản của ông Hồ Khắc N tại Ngân hàng TMCP
Đầu tư và Phát triển Việt Nam từ ngày 16 đến ngày 24/10/2024 có một số giao
dịch chuyển khoản tiền từ ông Nguyễn Hoàng Chi Thi vào tài khoản của ông Hồ
Khắc N. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy, nội dung chuyển khoản mặc dù chuyển
vào số tài khoản của ông Thi nhưng trong nội dung bà B vẫn xác định chuyển tiền
mua heo con anh N. Ông Thi và ông N có mối quan hệ làm ăn quen biết nhau nên
nhiều lần giao dịch chuyển khoản tiền qua lại (
N). Do đó, lời trình bày của bà B về việc bị đơn cung cấp thông
tin số tài khoản của ông Thi cho bà B để bà B chuyển tiền cho ông Thi là phù hợp
với thực tế khách quan của vụ án. HĐXX xác định việc ông N cung cấp thông tin
số tài khoản cho bà B để bà B chuyển tiền cho ông Thi là một phương thức thanh
toán chứ không phải là giao dịch giữa người mua và người bán.
[2.2] Xét kháng cáo cho rằng bị đơn không có nghĩa vụ hoàn trả số tiền
nguyên đơn đã thanh toán, HĐXX thấy rằng:
12
Lời khai của những người làm chứng và nguyên đơn là phù hợp với nhau về
việc: Sau khi giao đủ heo ngày 20/10/2024 ông N yêu cầu bà B chuyển khoản tiền
heo. Bà B nhận heo giống và phân phối về cho các hộ dân kinh doanh của gia đình
bà B. Đến ngày 21/10/2024 phát hiện heo có biểu hiện bệnh nên các hộ dân có
thông báo cho bà B biết để khắc phục. Bà B đã yêu cầu ông N viết biên bản xác
nhận nợ thu hồi heo con giống ngày 01/11/2024. Trong biên bản ông N viết cam
kết sẽ hoàn trả lại cho bà B số tiền 1.149.913.500 đồng. Tuy nhiên bản gốc này
ông N đã xé không thể thu hồi được. Công an thị trấn Ea Kar đã lập biên bản ghi
nhận nội dung sự việc. Ông N không thừa nhận nội dung và chữ ký của ông N, tuy
nhiên hiện không còn bản gốc để trưng cầu giám định, nhưng sự việc đã được công
an thị trấn ghi nhận và lập biên bản, có nhiều người làm chứng nội dung sự việc.
Việc heo bệnh ngay sau thời gian nhận heo ngày 20/10/2024, ông N không có ý
kiến đối với việc khoảng thời gian heo bệnh, ốm chết và cũng không cung cấp
được tài liệu chứng cứ để chứng minh cho việc: Sau khi heo phát sinh bệnh và bị
thu hồi thì bị đơn đã thay thế heo, khắc phục hậu quả hoặc đã thỏa thuận với
nguyên đơn về việc nguyên đơn phải tự chịu toàn bộ rủi ro. Do đó, cấp sơ thẩm
căn cứ khoản 1 Điều 445 Bộ luật dân sự để buộc bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả cho
nguyên đơn số tiền tương ứng với giá trị giao dịch là có cơ sở. Do đó, kháng cáo
của bị đơn đề nghị không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là
không có căn cứ chấp nhận.
[2.3] Xét yêu cầu kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm:
Bị đơn đề nghị hủy bản án sơ thẩm nhưng không đưa ra được chứng cứ vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng nào của cấp sơ thẩm làm cho đương sự không thực hiện
được quyền, nghĩa vụ tố tụng hoặc không thể khắc phục được tại cấp phúc thẩm.
Đối với ông Nguyễn Hoàng Chi Thi là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan, cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh tại các địa chỉ do các đương sự và tài liệu
giao dịch cung cấp, đồng thời thực hiện việc triệu tập theo quy định. Kết quả xác
minh cho thấy ông Thi không có mặt tại địa phương và các đương sự không cung
cấp được địa chỉ khác để Tòa án tiếp tục triệu tập. Mặt khác, việc ông Thi vắng
mặt không làm mất đi các chứng cứ khác đã được thu thập, thẩm tra công khai và
đánh giá tại phiên tòa. Bị đơn cũng không cung cấp được chứng cứ mới chứng
minh việc nếu có mặt ông Thi thì bản chất vụ án sẽ thay đổi hoặc chứng minh cấp
sơ thẩm chưa thực hiện đầy đủ thủ tục thu thập chứng cứ mà không thể khắc phục
được tại cấp phúc thẩm. Do đó, kháng cáo của bị đơn về nội dung này là không có
cơ sở để xem xét.
13
[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để
chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Hồ Khắc N, cần giữ nguyên án sơ thẩm là
phù hợp.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị
đơn ông Hồ Khắc N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Vì các  trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về án phí, lệ phí Tòa án
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Hồ Khắc N;
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 86/2026/DS-ST ngày 15/5/2026 của
Tòa án nhân khu vực 1 – Đắk Lắk.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc
B.
Buộc bị đơn ông Hồ Khắc N phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Trần Thị
Ngọc B tổng số tiền 1.278.007.500 đồng (Một tỷ hai trăm bảy mươi tám triệu
không trăm lẻ bảy ngàn năm trăm đồng). (Trong đó nợ gốc là 1.149.913.500 đồng
và nợ lãi là 128.094.000 đồng).
K t ngày bn án có hiu lc pháp lut, ngi c thi hành án có n yêu cu
thi hành án mà bên có ngha v chm tr tin thì bên  phi tr lãi i vi s tin
chm tr tng ng vi thi gian chm tr. Lãi sut phát sinh do chm tr tin c
thc hin theo quy nh ti iu 357, iu 468 B lut dân s.
Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 08/2025/QĐ-
BPKCTT ngày 28/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột về áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” được
quy định tại Điều 126 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Hồ Khắc N phải chịu 300.000đ án phí
dân sự phúc thẩm. Được khấu trừ 300.000đ do bà H Thoa Niê nộp thay theo biên
lai số 0006586 ngày 09/6/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
14
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Lưu Thị Thu Hường Lê Ngọc Minh
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
Trần Minh Quang
15
: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TANDCC; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- 
- 
- 
- 
-   án.
Trần Minh Quang
16
17
18
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 459/2026/DS-PT Bản án số 459/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 459/2026/DS-PT Bản án số 459/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất