Bản án số 73/2022/DS-PT ngày 29/06/2022 của TAND tỉnh Bắc Giang

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 73/2022/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 73/2022/DS-PT ngày 29/06/2022 của TAND tỉnh Bắc Giang
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Giang
Số hiệu: 73/2022/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/06/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG
Bản án số 73/2022/DS-PT.
Ngày: 29 - 6 - 2022
V/v:Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”.
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên t: Ông Đặng Văn Bảo
Các thẩm phán: Ông Đặng Văn Quyết, bà Nguyễn Thị Hương Giang
Thư phiên toà: Nguyễn Ngọc Thương Hiền - Thư Tán nhân
dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Thị Hải Kiểm
sát viên.
Ngày 29/6/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc
thẩm công khai vụ án thụ lý s 23/2022/TLPT- DS ngày 22/3/2022 về việc:
Tranh chấp hợp đồng vay tài sản ”.
Do bản án dân sự thẩm s 04/2022/DS-ST ngày 17/02/2022của Toà án
nhân dân huyện Yên Dũng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 74/2022/QĐ-PT ngày
26/5/2021và Quyết định hoãn phiên tòa số 115/2022/QĐ-PT ngày 14/6/2022 giữa:
1.Nguyên đơn: Nguyễn Thị P, sinh năm 1955.
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang ( mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn
T Luật thuộc Văn phòng luật ATK; địa chỉ: Tầng 1, Tòa CT 13B, Khu đô
thị Nam Thăng Long, quận Tây Hồ, thành phố Nội ( mặt khi xét xử, vắng
mặt khi tuyên án).
2.Bị đơn: Ông Văn P, sinh năm 1961 ( mặt khi xét xử, vắng mặt khi
tuyên án) u Thị T, sinh năm 1964 (vắng mặt); Cùng địa chỉ: Số nhà 108,
Tổ dân phố 2, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Giáp Thị H - Trợ
giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp Nhà nước tỉnh Bắc Giang (có
mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị
P trình bày:vợ chồng ông P, T hàng xóm thân tình lâu năm. Do cần
tiền đlàm kinh tế nên vợ chồng ông P, T hỏi vay tiền của bà, đồng ý.
Ngày 22/12/2009 dương lịch, cho ông P, T vay số tiền 1.047.000.000 đồng
(Một tỷ không trăm bốn mươi bảy triệu đồng). Khi vay giữa bà ông P, T
2
viết giấy biên nhận tiền gửi, mẫu giấy biên nhận do nhà ông P in sẵn, hai bên
thỏa thuận bằng miệng về thời hạn thanh toán là sau 01 tháng ông P phải trả cho
số tiền gốc trên thỏa thuận lãi suất 1,2%/tháng. Ông P ký tên chỗ người
nhận tiền, khi đưa tiền cho ông P thì chỉ một mình ông P nhận tiền một
mình đưa tiền cho ông P, còn T không ký nhưng biết việc ông P vay tiền
của bà để P triển kinh tế gia đình.
Sau thời hạn 01 tháng như đã thỏa thuận miệng, ông P T không trả tiền
gốc cho bà nên bà đã sang đòi rất nhiều lần nhưng ông P và bà T khất nợ bà và bảo
là đang làm ăn nên chưa có tiền để trả và bà đồng ý.
Nay, đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông P, T phải trả số
tiền nợ gốc là 1.047.000.000 đồng (Một tỷ không trăm bốn mươi bảy triệu đồng)
Về lãi suất: Ông P, bà T đã trả bà tổng số tiền lãi là 92.560.000 đồng chia làm
nhiều lần, cụ thể như sau:
+ Ngày 26/01/2010 dương lịch, ông P, bà T trả lãi 12.560.000 đồng;
+ Ngày 26/02/2010 dương lịch, ông P, bà T trả lãi 10.000.000 đồng;
+ Ngày 6/2/2010 dương lịch, ông P, bà T trả 10.000.000 đồng;
+ Ngày 22/3/2010 dương lịch, ông P, bà T trả lãi 10.000.000 đồng;
+ Ngày 01/02/2011 dương lịch, ông P, bà T trả lãi 6.000.000 đồng;
+ Ngày 11/9/2011 dương lịch, ông P, bà T trả lãi 5.000.000 đồng;
+ Ngày 30 Tết âm lịch năm 2011, ông P, bà T trả 5.000.000 đồng;
+ Ngày 29/12/2012 dương lịch, ông P, bà T trả 5.000.000 đồng;
+ Ngày 29/1/2014 dương lịch ông P, bà T trả 5.000.000 đồng;
+ Ngày 30 Tết âm lịch năm 2018, ông P, bà T trả 2.000.000 đồng;
+ Ngày 30 Tết âm lịch năm 2019, ông P, bà T trả 2.000.000 đồng;
+ Tháng 8/2020 dương lịch, ông P, bà T trả 20.000.000 đồng.
Tại Tòa án thẩm lời khai ban đầu đề nghị tính lãi suất là 9%/ năm,
tính từ ngày 22/01/2010 đến khi Tòa án xét xử vụ án, tự nguyên không yêu cầu
tính lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn. Sau đó thay đổi lời khaiđề nghị tính
lãi suất là 1,2% tháng, tính từ ngày 22/01/2010 đến khi Tòa án xét xử vụ án. Đối
với số tiền lãi ông P và T đã trả cho 92.560.000 đồng, đề nghị Tòa án
trừ vào số tiền lãi sau khi Tòa án đã tính tiền lãi cụ thể.
* Theo lời khai tại hồ sơ, bị đơn là ông Vũ Văn P trình bày:
Ông P mối quan hệ hàng xóm, cùng tổ dân phố 2, thị trấn Nham
Biền, đến khoảng năm 2014 bà P về quê ở xã Đồng Việt sống. Năm 2003, ông làm
tổ trưởng tổ vay vốn của tiểu khu 2 (nay tổ dân phố 2), thị trấn Nham Biền. Do
cần tiền cho tổ viên để đáo hạn, bà P nói với ông P tiền muốn gửi tiền
cho ông để ông cho vay, ông đồng ý nên bắt đầu từ năm 2005 2006 đến năm
2009 bà P nhiều lần gửi tiền cho ông để ông cho đi vay, mỗi lần gửi tiền thường là
mấy triệu đồng, nhiều mấy chục triệu. Đến ngày 22/12/2009 giữa ông P
chốt số tiền gửi bao gồm tiền gửi gốc tiền lãi cộng dồn bằng giấy Biên nhận
tiền gửi nội dung ông P, bà T nhận vay bà P số tiền 1.047.000.000 đồng, gửi
tiền không thời hạn, có thỏa thuận về lãi suất là 1,2%/tháng, tuy nhiên thực tế bà T
không vào giấy biên nhận, T không biết cũng không được sử dụng số tiền
này. Việc P gửi tiền cho ông để ông cho đi vay lãi mối quan hệ làm ăn giữa
cá nhân ông và P, không liên quan gì đến vợ ông. Từ ngày nhận tiền gửi của bà
3
P đến nay, ông chưa trả tiền gốc cho P, ông đã nhiều lần trả tiền lãi cho P
tổng số tiền 92.560.000 đồng như bà P trình bày là đúng.
Nay P yêu cầu ông phải trả số tiền gốc còn nợ 1.047.000.000 đồng
tiền lãi suất theo quy định từ ngày 22/01/2010 đến khi Tòa án xét xử vụ án, ông
đồng ý. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế của gia đình ông rất khó khăn nên không
thể trả một lần, ông xin trả dần, mỗi năm trả khoảng 10.000.000 đồng.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lưu Thị T trình bày: vợ
ông P, việc ông P và P làm ăn với nhau như thế nào không biết, bà
nghe ông P nói nhận tiền gửi của bà P, còn ông P không vay tiền của P.
Ông P không mang tiền về chi tiêu P triển kinh tế trong gia đình, không
được sử dụng số tiền P gửi cho ông P. Nay bà P khởi kiện buộc bà phải có trách
nhiệm cùng ông P trả bà P số tiền 1.047.000.000 đồng tiền lãi suất, không
đồng ý. Bà không liên quan gì đến việc vay tiền giữa ông P và bà P.
Do có nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 04/2022/DS-ST ngày
17/02/2022của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng đã quyết định:
Căn cứ: Điều 471; Điều 474; Điều 476 Bộ Luật dân sự năm 2005; Điều 463,
khoản 1 Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân s năm 2015; khoản 3 Điều 26, Điều
35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 150, Điều 227, Điều 228, Điều 271 Điều
273 Bộ luật tố tụng dân sự; Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị P, buộc ông
Văn P phải nghĩa vụ trả cho Nguyễn Thị P tổng cộng cả tiền nợ gốc và
nợ lãi là: 2.152.857.140 đồng.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị P về
việc buộc Lưu Thị T phải nghĩa vụ liên đới cùng ông Vũ Văn P trả cho P
số tiền gốc 1.047.000.000 đồng và lãi suất là 1.105.857.140 đồng.
3. Về án phí: Ông Văn P Nguyễn Thị P được miễn án phí dân sự
sơ thẩm.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 28/2/2022 P nộp đơn kháng cáo một phần
bản án thẩm, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang sửa án thẩm, chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà, buộc bà T ông P phải thanh toán cho bà
toàn bộ tiền nợ gốc và lãi theo mức 1,2% tháng, tiền lãi là 1.823.237.424 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và đơn kng
o. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Nguyễn ThP trình y: Việc ông P ký giấy vay tiền và việc ông P nhận
tiền vay của là bà T có biết, việc ông P tri cho , bà T ng biết, trong đó có
ngày 30 tết âm lịch năm 2011 bà T trực tiếp trả lãi cho bà và bà T tự viết việc trả vào
giấy vay tiền. Việc ông P vay tiền của bà về sau cho người khác vay với lãi suất cao
n để P triển kinh tế. Việc ông P T vay tiền lãi 1,2% tháng, giấy vay tiền ghi
thời hạn vay 1 tháng nhưng đến hạn ông P kht nợ và bà đồng ý. Nay không nhất
trí án thẩm xkhông buộc T trả n không nht trí mức i.
- Ông Vũ Văn P khai: Ông tha nhận ông có vay tin của P và vay tiền của
nhiều người khác, sau đó dùng tiền vay cho người khác vay với i suất cao n,
thường 1000 đồng hoặc 1.500đồng /ny/triệu, nhưng do những người vay ông
không trả được cho ông nên ông không có tiền trcho P. T một lần trực
tiếp trả tiền cho bà P như bà P khai là đúng. Do việc khi ông vay P không biết mà
4
do ông cho người khác vay không đòi được nên không tiền để P triển kinh tế gia
đình. Việc ông vay tiền P ghi trong giấy vay thời hạn 01 tháng, đến hạn ông
không có tiền trn ông đã khất nvới P. Nay ông không nhất trí T vợ ông
phải liên đới trả nợ, không nhất trí tăng mức lãi theo yêu cầu của P. Ông P thừa
nhận trong c lần trả lãi cho P thì lần trả vào ngày 30 tết âm lịch năm 2011 bà T
trực tiếp trả i cho P bà T tviết việc trảo giấy vay tiền của P.
- Luật sư bảo vệ cho P trình bày: Ông P T cam kết trả lãi đầy đủ gốc lãi
trong giấy biên nhn bà T 2 lần trực tiếp tr i cho bà P,T có tên trong giấy biên
nhận vay tiền, ông P vay tiền về đP triển kinh tế gia đình , nên T phải thực hiện
nghĩa vliên đới ng ông P.
+ Về i: Lãi thỏa thuận 1,2%/tng n từ ngày 22/12/2009 đến ngày
30/12/2016 lãi theo khon 5 Điều 474, khoản 1 Điều 475 Bluật dân sự năm 2005
Quyết định s2868/QĐNHNN ngy 29/11/2010 1. 047.000.000đồng x 9% x
150% x 7 năm 8 ngày = 991.509.00ồng.
-T 01/1/2017 đến ngày 17/2/2022 áp dụng khoản 5 Điều 466, khoản 2
Điều 468 tiền lãi 1.047.000.000đồng x 14,4% x 5 m 01 tháng 16 ngày =
773.104.800 đồng.
Tổngi 1.764.613.80ồng – 92.560.000đồng = 1.672.053.800đồng.
-Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ cho bị đơn thì cho rằng: Bản án sơ thẩm t xử
n cứ theo luật, đề nghị Hội đồng t xử không chấp nhận kháng cáo của
nguyên đơn.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang P biểu quan điểm:
+Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành
đầy đủ các trình tự, thủ tục của BLTTDS.
+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Toà án nhân dân
tỉnh Bắc Giang: Sửa án thẩm, chấp nhận một phần kháng cáo của P; không
chấp nhận kháng cáo của P về việc buộc T phải liên đới cùng ông P thực
hiện việc trả nợ. Chấp nhận việc kháng cáo về tính lại mức lãi theo bà P Luật
của P đề nghị. Buộc ông P phải trả P 1.047.000.000đồng nợ gốc
1.670.000.000đồng tiền lãi, tổng 2.717.519.000 đ( Hai tỷ, bẩy trăm mười bẩy
triệu, năm trăm mười chín nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Lưu Thị T vắng mặt
đã đơn đề nghị xét xvắng mặt, nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định
tại Điều 296 ca Bộ luật T tụng dân sự.
[2] Xét nội dung vụ án: Ông Văn P có vay s tiền nợ gốc là
1.047.000.000 đồng của Nguyễn Thị P theo Giấy biên nhận tiền gửi ngày
22/12/2009,có thỏa thuận lãi xut là 1,2%/tháng, không thỏa thuận v thời hạn
thanh toán, nhưng các bên thừa nhận thỏa thuận miệng thời hạn vay 01 tháng.
Theo như đã thỏa thuận, P đòi nhiều lần nhưng ông P chưa trả nợ gốc. Sau
khi vay ông, T đã trả tiền lãi nhiều lần cho bà P tổng số tiền 92.560.000 đồng.
5
[3] Xét T kháng cáo yêu cầu ông P cùng trách nhiệm trả nợ thì thấy.
Căn cứ các tài liệu trong hồ lời khai của các đương sự đủ căn cứ xác
định năm 2009 vợ chồng ông P T vay của nhiều người, sau đó cho người
khác vay với mức lãi cao hơn. Việc vay tiền hoặc cho vay tiền đều in mẫu sẵn có
tên của cả ông P T. Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ thì từ tháng 6/2009 đến ngày
22/12/2009 ông P bà T vay của P 12 lần, đã trả xong 11 lần, nay chỉ còn
khoản vay ngày 22/12/2009. Giấy vay nợ ngày 22/12/2009 P khởi kiện
do vợ chồng ông P T in cả tên T người vay. Ông P thừa nhận dùng
tiền của P đcho người khác vay lấy lãi suất cao hơn, nay ông chưa trả được
cho P do người vay ông bị vỡ nnên chưa trả cho cho P được. Quá trình
trả lãi thì lần T cũng trực tiếp trả lãi cho P ghi vào giấy trả ncho
P. Do vậy phải xác định đây là nợ chung của vợ chồng ông P T và cùng phải có
trách nhiệm trả nợ nên chấp nhận phần kháng cáo này của bà P.
Xét bà P kháng cáo yêu cầu tính lại mức lãi thì thấy: Căn cứ tính lãi của bà P,
Luật bảo vệ quyền lợi cho P đưa ra đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Bắc Giang P biểu tại phiên tòa là căn cứ. Bởi lẽ trong giấy vay tiền ghi
thời hạn vay 01 tháng, nhưng đến hạn ông P không trả được nên đã gặp P khất
nợ được P đồng ý. Như vậy đã sthỏa thuận kéo dài thời vay sang
không thời hạn. Do vậy đây hợp đồng vay không thời hạn lãi, nên cần chấp
nhận kháng cáo về ng tiền lãi của P như đề nghcủa Đại diện Viên Kiểm sát.
C th áp dụng Điều 471, Điều 476 BLDS 2005; Điều 463, Đ 468, Điều 688
BLDS 2015 hướng dẫn tính tiền lãi tại Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày
11/01/2019; tiền lãi được tính như sau:
-Tiền lãi từ ngày 22/12/2009 đến ngày 30/12/2016 là: 1.047.000.000đng x
1,125% x 84 tháng 08 ngày = 991.509.000đồng;
- Từ ngày 01/1/2017 đến ngày 17/2/2022 773.523.000đồng. Số tiền lãi còn
phải trả 991.509.000 đồng + 773.523.000 đồng 92.560.000 đồng =
1.672.472.000 đồng. Tổng tiền gốc và lãi là: 2.719.472.000đồng ( Hai tỷ bẩy trăm
mười chín triệu, bốn trăm bẩy mươi hai nghìn đồng).
Trong vụ án này Tòa thẩm giải thích cho bị đơn (ông Văn P) về
quyền được yêu cầu phản tố để yêu cầu tuyên bố biên nhận tiền gửi ngày
22/12/2009 hiệu yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng không đúng
theo quy định tại khoản 4 và khoản 6 Điều 72 và Điều 200 của Bộ luật tố tụng dân
sự nên cần rút kinh nghiệm. Trường hợp ông P đề nghị như trên thì đó chỉ ý
kiến của bị đơn đối với nguyên đơn, không thụ lý là yêu cầu phản tố.
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà P được chấp nhận và do sửa án sơ
thẩm nên án pđược tính lại theo quy định tại Điều 147 , Điều 148 Bộ luật t
tụng dân sự: P không phải chịu án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm. Ông P
người cao tuổi nên không phải chịu án phí thẩm án phí phúc thẩm. Lưu
Thị T phải chịu là 72.000.000đồng + 2% x 719.472.000đồng = 86.389.440 đồng :
2 = 43.194.000 đồng án phí sơ thẩm.
[5] Hội đồng xét x phúc thẩm không xem xét, giải quyết các quyết định
khác của bản án sơ thẩm do không có kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
6
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 ca Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận
kháng cáo của Nguyễn Thị P. Sửa bản án thẩm số 04/2022/DS-ST ngày
17/02/2022của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng
Căn cứ Điều 471, Điều 476 Bộ Luật dân sự năm 2005; Điều 463, Điều 468,
Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147, Điều 148, Điều 296 Bộ luật tố tụng
dân sự; Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị P. Buộc ông Văn P
bà Lưu Thị T phải liên đới trả cho bà Nguyễn Thị P 1.047.000.000 đồng nợ gốc
tiền lãi P sinh 1.672.472.000đồng.Tổng cộng tiền nợ gốc lãi
2.719.472.000 đồng (Hai tỷ , bẩy trăm mười chín triệu, bốn trăm bẩy mươi hai
nghìn đồng).
Ktừ ngày tiếp theo của bản án thẩm(18/02/2022) cho đến khi thi hành
xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản
2 Điều 468 BLDS 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực kể từ ngày hết kháng cáo kháng nghị.
3. Về án phí: Lưu Thị T phải chịu 43.194.000đồng ( Bốn mươi ba triệu
một trăm chín tư nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND huyện Yên Dũng;
- VKSND huyện Yên Dũng;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Bắc Giang;
- Chi cục THADS huyện Yên Dũng;
- Các đương sự;
- Cổng thông tin điện tử của TANDTC;
- Lưu VP, hồ sơ vụ án.
Đặng Văn Bảo
Tải về
Bản án số 73/2022/DS-PT Bản án số 73/2022/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất