Bản án số 73/2019/DS-ST ngày 05/09/2019 của TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương về tranh chấp giao dịch hụi

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 73/2019/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 73/2019/DS-ST ngày 05/09/2019 của TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương về tranh chấp giao dịch hụi
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Thủ Dầu Một (TAND tỉnh Bình Dương)
Số hiệu: 73/2019/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/09/2019
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của bà T, buộc bà H trả bà T số tiền hui 103.896.000 đồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 73/2019/DS-ST
Ngày: 05 - 9 - 2019
V/v tranh chấp giao dịch hụi
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
- Thành phần Hội đồng xét x sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đăng Minh Lý
2. Nguyễn Thị Thu Hương
- Thư phiên toà: Trương Thị Kiều Diễm - Thư Toà án nhân dân
thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình
Dương tham gia phiên tòa: Lê Thị Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu
Một xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 113/2019/TLST-DS ngày 03
tháng 4 năm 2019 vviệc tranh chấp giao dịch hụi theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 62/2019/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm 1964; địa chỉ: Số 439, đường
T, Khu phố 7, phường H, thành phố M, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Văn Thị Kim C, sinh năm
1992; địa chỉ: Số 32/51, T51, Khu phố 7, phường A, thành phố M, tỉnh Bình
Dương, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền ngày
25/6/2019), có đơn giải quyết vắng mặt.
2. Bị đơn: Đặng Thị Thu H (tên thường gọi Ngọc T), sinh năm 1984,
địa chỉ: Số 179/55 đường T, Khu phố 4, phường H, thành phố M, tỉnh Bình
Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại Đơn khởi kiện đề ngày 15/02/2019 quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn, đại diện nguyên đơn trình bày:
T H mối quan hệ quen biết nhau. Năm 2017, T tham gia
chơi hụi do bà H tổ chức, cụ thể như sau:
2
*Thứ nhất: Hụi nửa tháng (500.000đ) khui 15/9/2017, góp hụi vào ngày 01
15 tây mỗi tháng, kết thúc ngày 01/8/2018. Gồm 4 dây, mỗi dây 22 phần,
bà T tham gia 4 phần. Bà T đã góp được 7 lần, cụ thể:
- 3 lần đầu: 430.000đ x 4phần x 3 lần = 5.160.000đ
- 2 lần kế: 440.000đ x 4phần x 2 lần = 3.520.000đ
- 1 lần kế: 420.000đ x 4phần x 1 lần = 1.680.000đ
- 1 lần kế tiếp: 320.000đ x 4phần x 1lần = 1.280.000đ
Tổng số tiền bà T đã góp cho bà H là 11.640.000đ.
Ngày 01/01/2018, T được lĩnh 1 phần hụi: chết 7 phần x 500.000đ =
3.500.000đ; sống 14 phần x 320.000đ = 4.480.000đ (trừ chủ hụi 200.000đ) =
7.780.000đ. Bà T phải góp 3 phần sống còn lại là 320.000đ x 3 = 960.000đ. Tổng
số tiền T được lĩnh là: 6.820.000đ (1). H hẹn đến ngày 13/01/2018 sẽ giao
số tiền trên cho bà T.
*Thứ hai: Hụi tuần thứ 3 (500.000đ/tuần) khui ngày 10/10/2017, ngày kết
thúc 30/01/2018. Gồm 6 dây, mỗi dây 17 phần, T tham gia 6 dây, mỗi dây 2
phần. Tổng cộng 12 phần. Số tiền bà T đã góp như sau:
- Tuần 1,2,3: giá 80.000đ, góp 420.000đ x 12 phần x 3 tuần = 15.120.000đ
- Tuần 4,5,6: giá 90.000đ, góp 410.000đ x 12 phần x 3 tuần = 14.760.000đ
- Tuần 7,8,9: giá 100.000đ, góp 400.000đ x 12 phần x 3 tuần =
14.400.000đ.
Tổng cộng bà T đã góp 9 tuần: 44.280.000đ.
Tuần 10: T được lĩnh 1 phần: 9 phần chết x 500.000đ = 4.500.000đ; 7
phần sống x 420.000đ = 2.940.000đ. Tổng cộng 7.440.000đ (trừ chủ hụi
200.000đ) = 7.240.000đ. T phải góp lại 11 phần hụi còn lại 4.620.00
(420.000đ x 11 phần) nên chỉ lĩnh được số tiền 2.620.000đ.
Tuần 11: T được lĩnh 1 phần hụi: 10 phần chết x 500.000đ =
5.000.000đ; 6 phần sống x 410.000đ = 2.460.000đ. Tổng cộng 7.460.000đ (trừ
chủ hụi 200.000đ) = 7.260.000đ. T góp lại 1 phần đã lĩnh 500.000đ + 10
phần sống còn lại 4.100.000đ = 4.600.000đ nên chỉ lĩnh số tiền 7.260.000đ -
4.600.000đ = 2.660.000đ.
Tuần 12: T được lĩnh 1 phần trị giá 100.000đ: 11 phần chết x 500.000đ
= 5.500.000đ; 5 phần sống x 400.000đ = 2.000.000đ. Tổng cộng 7.500.000đ (trừ
chủ hụi 200.000đ), còn lại 7.300.000đ. T phải góp lại 2 phần chết đã lĩnh
500.000đ x 2 phần = 1.000.000đ + 9 phần sống chưa lĩnh 9 x 400.000đ =
3.600.000đ. T góp lại cho chủ hụi 4.600.000đ nên chỉ lĩnh 2.700.000đ.
3
Tuần 13 (ngày 02/1/2018): T được lĩnh 3 phần giá 152.500đ: 4 phần
sống x 347.500đ = 1.390.000đ; 12 phần chết x 500.000đ = 6.000.000đ. Tổng
cộng 7.390.000đ (trừ chủ hụi 200.000đ) = 7.190.000đ x 3 phần = 21.570.000đ.
Bà T phải góp lại 3 phần chết đã nhận: 500.000đ x 3phần = 1.500.000đ và 6 phần
sống chưa nhận 2.220.000đ. Tổng cộng 3.720.000đ nên chỉ lĩnh 21.570.000đ -
3.720.000đ = 17.850.000đ (2). Số tiền này bà H hẹn ngày 13/01/2018 sẽ giao cho
bà T.
Cộng khoản (1) + (2): 6.820.000đ + 17.850.000đ = 24.670.000đ. H viết
vào giấy hụi chưa giao bà T số tiền 24.670.000đ, hẹn ngày 13/01/2018 sẽ giao.
*Thứ ba: Hụi ngày (100.000đ/ngày). Khui ngày: 5/12/2017, kết thúc ngày:
04/01/2018. Gồm 2 dây, mỗi dây 30 người, T tham gia 2 dây, mỗi dây 6
phần. Bà T đã góp như sau:
- 20 ngày đầu (05/12 - 24/12): 12 phần x 92.000đ x 20 ngày =22.080.000đ.
- 7 ngày sau (25/12 - 31/12): 12 phần x 94.000đ x 7 ngày = 6.896.000đ.
Tổng cộng bà T đã góp cho bà H: 29.976.000đ.
Ngày 04/01/2018, T lĩnh hụi chót: 29 phần chết x 100.000đ =
2.900.000đ (trừ chủ hụi 40.000đ) = 2.860.000đ x 12 phần = 34.320.000đ. T
phải góp lại phần hụi 3 ngày 01,02,03/01/2018 chưa đóng là 12 phần x 94.000đ x
3 = 3.384.000đ. Nên tổng số tiền hụi bà T sẽ được nhận là 34.320.000đ -
3.384.000đ = 30.936.000đ. Số tiền này H chưa giao cho T, hẹn chiều ngày
09/01/2018 sẽ thanh toán cho bà T, bà H viết tay và ký tên xác nhận số tiền trên.
Đối với phần hụi ngày, bà T góp tiền cho H, H ghi vào cuốn sổ riêng
của H, không viết giấy hụi như hụi tuần hụi tháng nhưng nhận xác
nhận nợ số tiền trên.
*Thứ tư: Hụi tuần thứ 7 (500.000 đồng/tuần). Khui ngày: 29/7/2017, kết
thúc ngày: 07/01/2018. Hụi gồm 5 dây, bà T tham gia 5 dây, mỗi dây 2 phần.
Bà T đã góp như sau:
Tuần 1 - tuần 5 (lời 70.000đ): đã góp 430.000đ x 10 phần x 5 tuần =
21.500.000 đồng.
Tuần 6 - tuần 10 (lời 80.000đ): đã góp 420.000đ x 10 phần x 5 tuần =
21.000.000 đồng.
Tuần 11 - tuần 16 (lời 70.000đ): đã góp 430.000 x 10 phần x 5 tuần =
25.800.000 đồng.
Tổng cộng 16 phần, tương đương số tiền 68.300.000 đồng.
4
Tuần 17: T lĩnh 1 phần trị giá 100.000 đồng: 16 phần chết x 500.000đ =
8.000.000đ; 7 phần sống x 400.000 đồng = 2.800.000đ. Tổng cộng 10.800.000đ
(trừ cho chủ hụi 200.000đ) = 10.600.000đ. T phải góp các phần hụi còn lại
400.000đ x 9 phần = 3.600.000đ. Tổng cộng bà T lĩnh7.000.000đ.
Tuần 18: T lĩnh 1 phần trị giá 100.000đ: 17 phần chết x 500.000đ =
8.500.000đ; 6 phần sống x 400.000 đồng = 2.400.000đ. Tổng cộng 10.900.000đ
(trừ cho chủ hụi 200.000đ) = 10.700.000đ. Bà T phải góp cho các phần còn lại
400.000đ x 8 phần = 3.200.000đ. Tổng cộng bà T lĩnh7.500.000đ.
Tuần 19: Còn 8 phần chưa lĩnh 2 phần đã lĩnh tuần 17, 18 n T
góp hụi tiếp là 420.000đ x 8 phần + 1.000.000đ = 4.360.000đ.
Tuần 20: T lĩnh tiếp 3 phần trị giá 100.000đ: 19 phần chết x 500.000đ =
9.500.000đ; 4 phần sống x 390.000đ = 1.560.000đ. Tổng cộng 11.060.000đ (trừ
chủ hụi 200.000đ) = 10.860.000đ x 3 phần = 32.580.000đ. T phải góp lại 2
phần đã lĩnh trước 500.000đ x 2 = 1.000.000đ 5 phần chưa lĩnh 390.000đ x 5
= 1.950.000đ. Tổng cộng bà T lĩnh 29.630.000đ.
Tuần 21: Góp lại 5 phần chết đã lĩnh + 5 phần sống còn lại: 2.500.000đ +
2.050.000đ (lời 90.000đ) = 4.550.000đ.
Tuần 22: Đóng lại 5 phần chết đã lĩnh + 5 phần sống còn lại: 2.500.000đ +
2.150.000đ (lời 70.000đ) = 4.650.000đ.
Tuần 23 bà T lĩnh được 5 phần:
- 1 phần trị giá 130.000đ: 22 phần chết x 500.000đ = 11.000.000đ; 1 phần
sống: 370.000đ. Tổng cộng 11.370.000đ (trừ chủ hụi 200.000đ) = 11.170.000đ.
- 2 phần trị giá 140.000đ: 22 phần chết x 500.000đ = 11.000.000đ; 1 phần
sống = 360.000đ. Tổng cộng 11.360.000đ (trừ chủ hụi 200.000đ) = 11.160.000đ
x 2 phần = 22.320.000đ.
- 2 phần trị giá 150.000đ: 22 phần chết x 500.000đ = 11.000.000đ, 1 phần
sống = 350.000đ (trừ chủ hụi 200.000đ) = 11.150.000đ x 2 phần = 22.300.000đ.
Tổng số tiền hụi T lĩnh là: 11.170.000đ + 22.320.000đ + 22.300.000đ =
55.790.000đ. T góp lại phần hụi đã lĩnh 500.0000đ x 5 = 2.500.000đ.
vậy, số tiền còn lại T được lĩnh là: 53.290.000đ. Tất cả 5 phần hụi này H
chưa giao tiền cho bà T, hẹn đến ngày 11/01/2018 sẽ giao cho bà T.
Tuần 24 (tuần cuối 07/01/2018): T phải góp lại 10 phần hụi đã lĩnh
500.000đ x 10 phần = 5.000.000đ. vậy, tổng số tiền hụi tuần thứ 7 bà H phải
giao cho T 53.290.000đ - 5.000.000đ = 48.290.000đ. Số tiền này H
ghi xác nhận và ký tên hẹn ngày 11/01/2018 sẽ giao đủ cho bà T.
5
Tuy nhiên, ngày 08/01/2018, H đã bỏ trốn khỏi địa phương. T đến
nhà tìm nhiều lần nhưng không thấy bà H.
Vì vậy, bà T khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bà H trả lại số tiền hụi theo các
giấy hụi nhận của H là: 48.290.000đ + 30.936.000đ + 24.670.000đ =
103.896.000 đồng.
Đối với số tiền 6.400.000 đồng do không chứng cứ chứng minh nên
T không yêu cầu bà H trả.
- Quá trình giải quyết vụ án, bđơn Đặng Thị Thu H không đến Tòa
án làm việc, hòa giải; không nộp văn bản nêu ý kiến cung cấp tài liệu,
chứng cứ cho Tòa án.
Tại phiên tòa,
- Đại diện nguyên đơnđơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng không tham gia phiên
tòa. Do đó, căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa xét xử vắng
mặt bị đơn.
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi xét xử, Thẩm
phán được phân công thụ giải quyết đã thực hiện đúng quy định tại Điều 203
của Bộ luật Ttụng dân sự; tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thư Tòa án thực
hiện đúng quy định của pháp luật về phiên tòa thẩm; nguyên đơn, đại diện
nguyên đơn đã chấp hành đúng, đầy đ quyền nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa
chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật;
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Xét về nội dung các giấy biên nhận do
T cung cấp không thể hiện rõ ràng số tiền T được hốt bao nhiêu, ngày giờ hốt.
Mặc dù, chữ viết tên Đặng Thị Thu H nhưng không năm sinh, địa chỉ của
H. Hơn nữa, tại bút lục số 03 th hiện chủ hụi “Ngọc T” không phải H
như T trình bày, các chữ viết này chưa ai là người viết ra, đây chỉ là lời
trình bày một phía từ T. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của bà H.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa; trên sý kiến trình bày của nguyên đơn, đại diện nguyên đơn ý
kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn loại việc thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án (quy định tại khoản 3, Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự). Do bị
đơn nơi trú tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương nên thẩm quyền
giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một (quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự). Về thời
6
hiện khởi kiện, do bị đơn không yêu cầu áp dụng quy định thời hiệu khởi kiện
n tranh chấp này Tòa xác định không áp dụng thời hiệu khởi kiện (quy định tại
khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự).
[2] Xét việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của đại diện nguyên đơn không
vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu của nguyên đơn, phù hợp Điều 244 của Bộ
luật Tố tụng dân sự nên Tòa chấp nhận.
[3] Quá trình giải giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng H không đến tham gia phiên họp.
Sau khi mở phiên họp, Tòa án đã thông báo kết quphiên họp cho H biết để
thực hiện quyền nghĩa vụ tố tụng của mình nhưng H không ý kiến phản
bác lời trình bày các giấy tờ, tài liệu do T giao nộp theo quy định tại khoản
2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, căn cứ khoản 1, 5 Điều 95 Bộ luật Tố
tụng dân sự. Tòa xác định tất cả các giấy tờ, tài liệu lời trình bày của T
được xem chứng cứ của vụ án. Đối với giấy hụi khui ngày 10/10/2017 (bút lục
01), mặc ghi chủ hụi Ngọc T nhưng trên giấy hụi đóng dòng chữ Đặng
Thị Thu H, bà T trình bày H tên thường gọi Ngọc T, H không phản bác
ý kiến này nên thuộc trường hợp không cần phải chứng minh quy định tại Điều
92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng:
Thời điểm T, bà H xác lập thực hiện giao dịch hụi trước ngày Nghị
định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ hiệu lực nên Tòa áp
dụng Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ để giải
quyết.
Theo quy định tại Điều 7 Nghị định 144 thì giao dịch hụi các bên thể
thỏa thuận bằng lời nói hoặc bằng văn bản. Giao dịch hụi giữa bà T và bà H được
xác lập vừa bằng lời nói, vừa bằng văn bản nên phù hợp pháp luật. Căn cứ c
chứng cứ do T giao nộp, như: Giấy hụi ngày 10/10/2017, các giấy nợ hụi (bút
lục 02, 03) các Thông báo thụ vụ án: Số 81/TB- TLVA ngày 20/3/2019, số
148/TB- TLVA ngày 24/4/2019, số 153/TB- TLVA ngày 24/4/2019, Số 154/TB-
TLVA ngày 24/4/2019, Số 155/TB- TLVA ngày 24/4/2019, Số 156/TB- TLVA
ngày 24/4/2019, Số 157/TB- TLVA ngày 24/4/2019, Số 165/TB- TLVA ngày
24/4/2019, Số 166/TB- TLVA ngày 24/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố
Thủ Dầu Một, Tòa cơ sở xác định: H tổ chức chơi hụi, T tham gia
chơi hụi với H là thật. Giao dịch hụi giữa T, H hụi lãi quy định
tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 17 Nghị định 144.
Xét các giấy nợ hụi (bút lục 02, 03), thấy rằng: S tiền hụi 24.670.000
đồng, 30.936.000 đồng 48.290.000 đồng được H, T xác lập thông qua
việc đối chiếu các phần hụi sống, hụi chết củaT và tiền hoa hồng cho chủ hụi;
đồng thời trong 02 giấy nợ hụi chữ viết, chữ của H, ghi nội dung chủ
hụi Đặng Thị Thu H chưa giao tiền hụi cho T. Tất cả các giấy nợ hụi trên, Tòa
án đã mở phiên họp công khai chứng cứ, bà H không ý kiến phản bác. Do đó,
căn cứ khoản 3 Điều 15, Điều 22 Nghđịnh 144, Tòa chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của bà T, buộc bà H trả số tiền hụi trên cho bà T.
7
Đối với lãi do chậm trả nợ hụi, do bà T không yêu cầu nên Tòa không xem
xét, giải quyết.
Từ những nhận định trên, xét thấy ý kiến phát biểu về việc giải quyết vụ án
của Kiểm sát viên không có căn cứ nên Tòa không chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của T được Tòa
chấp nhận nên bà H phải chịu án phí theo quy định Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân
sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí, lệ phí Tòa án.
các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, các điều 92, 95, 147, 227, 228, 244, 266, 271, 273, 278, 280 Bộ luật Tố tụng
dân sự;
- Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự 2015 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP
ngày 27/11/2006 của Chính ph;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị T đối với
bị đơnĐặng Thị Thu H về việc tranh chấp giao dịch về hụi. Xử:
- Buộc H trả cho T số tiền hụi 103.896.000đ (một trăm lẻ ba triệu
tám trăm chín ơi sáu ngàn đồng) theo 02 giấy nợ hụi hiệu bút lục 02, 03
trong hồ sơ vụ án.
- Tiền lãi do chậm trả nợ hụi: T không yêu cầu nên Tòa không xem xét,
giải quyết.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan
thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn
yêu cầu thi nh án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền,
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm
2015.
2. V án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc H nộp số tiền 5.195.000đ (năm triệu, một trăm chín mươi lăm
ngàn đồng) tại Chi cục Thi nh án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
8
Trả lại T số tiền 2.757.000 (hai triệu bảy trăm năm ơi bảy ngàn
đồng) đã nộp tạm ng trước đây theo Biên lai thu số AA/2016/0033713 ngày
29/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo bản
án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Viện
Kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân s
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND TP. Thủ Dầu Một;
- Các đương sự;
- Lưu HS, VP
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thanh Bình
Tải về
Bản án số 73/2019/DS-ST Bản án số 73/2019/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất